1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khẩu phần ăn 24h và kiến thức, thái độ về dinh dưỡng của phụ nữ có thu nhập thấp tại quận Đống Đa, Hà Nội, năm 2018

8 224 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 240,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm mô tả khẩu phần ăn 24h và kiến thức thái độ về dinh dưỡng của phụ nữ có thu nhập thấp tại quận Đống Đa năm 2018. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lượng trung bình của phụ nữ trong nghiên cứu là 1815 Kcal/24h và tỉ lệ sinh năng lượng P: L: G là 21:31:48.

Trang 1

KHẨU PHẦN ĂN 24H VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ

VỀ DINH DƯỠNG CỦA PHỤ NỮ CÓ THU NHẬP THẤP

TẠI QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI, NĂM 2018

Đỗ Nam Khánh 1 , Nguyễn Thị Hồng 1 , Nguyễn Thị Thu Liễu 1 , Dương Thị Thu Hiền 1 ,

Trịnh Bảo Ngọc 1 , Nguyễn Thùy Linh 1 , Jessica Ranieri 2 , Lê Thị Hương 1

1 Trường Đại học Y Hà Nội

2 Trường Đại học Wageningen, Hà Lan Nghiên cứu nhằm mô tả khẩu phần ăn 24h và kiến thức thái độ về dinh dưỡng của phụ nữ có thu nhập thấp tại quận Đống Đa năm 2018 Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lượng trung bình của phụ nữ trong nghiên cứu là 1815 Kcal/24h và tỉ lệ sinh năng lượng P: L: G là 21:31:48 So với nhu cầu khuyến nghị, các vitamin A chỉ đạt 85,8%; B9 đạt 73,1%; B3 chỉ đạt 66,6%; Canxi đạt 85,4%, sắt 15% chỉ đạt 13,7%, kẽm 30% đạt 89,8%, Iot là 27,4% Đối tượng đa phần (hơn 90%) biết đến sắt, vitamin A nhưng lại chưa biết đến các thực phẩm giàu sắt, vitamin A Kiến thức về biểu hiện khi thiếu hai chất dinh dưỡng này vẫn còn hạn chế Kết luận: các đối tượng nghiên cứu còn có kiến thức chưa đầy đủ về phân loại các nhóm dinh dưỡng, suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì Khẩu phần ăn của đối tượng phụ nữ nghèo thành thị vẫn chưa đảm bảo mức cân bằng.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ khoá: khẩu phần ăn 24h, kiến thức, thái độ, phụ nữ thu nhập thấp, Hà Nội

Năm 2015, hơn một nửa dân số thế giới

sống trong khu vực đô thị (54%, khoảng 4 tỷ

người), dự kiến sẽ tăng lên 60% vào năm 2030

và nhiều người sẽ trở nên nghèo [1 - 3] Cùng

với quá trình đô thị hóa thì đảm bảo an ninh

lương thực, cung cấp thực phẩm an toàn cho

những người nghèo đô thị có ý nghĩa vô cùng

quan trọng Các hệ thống bán lẻ thực phẩm

của khu vực Đông Nam Á đang chuyển đổi

nhanh chóng, siêu thị hiện đại đang thay thế

dần cấu trúc cung cấp thực phẩm truyền thống

như chợ, hàng bán đường phố [5 - 6]

Việt Nam là quốc gia được liệt kê có nền

kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới (GDP

tăng trưởng hằng năm > 6,0%) Cùng với sự

phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa, dự báo dân số của Hà Nội sẽ tăng từ 7,5 triệu người năm 2015 lên 9 triệu người vào năm

2030 [3; 7] Để chuẩn bị cho sự tăng trưởng này, một khía cạnh quan trọng của quy hoạch

đô thị phải kể đến là cơ sở hạ tầng cung cấp thực phẩm, nhấn mạnh vai trò của hiện đại hóa bán lẻ đặc biệt là siêu thị Năm 2013, hơn 40% dân số Hà Nội sống dưới mức 5USD/người/ ngày [8 - 9] Như vậy, quá trình hiện đại hóa hình thức bán lẻ đã hạn chế nhu cầu được tiếp cận với nguồn thực phẩm của người nghèo đô thị

Trong khi đó thì vấn đề về thiếu hụt vi chất cần thiết đang là vấn đề đáng quan tâm nhất ở Việt Nam cũng như là Hà Nội, đặc biệt ở phụ

nữ trong độ tuổi sinh đẻ và trẻ em Theo Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2010, tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở nữ là 18,5%, đặc biệt cao

ở độ tuổi sinh đẻ từ 20-30 chiếm 22,9 - 27,7%

Tỉ lệ thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ độ tuổi

Địa chỉ liên hệ: Đỗ Nam Khánh, Viện Đào tạo

YHDP &YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội

Email: donamkhanh@hmu.edu.vn

Ngày nhận: 05/03/2019

Ngày được chấp nhận: 07/05/2019

Trang 2

sinh đẻ là 28,8%, phụ nữ có thai là 36,5%, tỉ lệ

sơ sinh thấp cân là 10% Tỉ lệ thiếu vitamin A ở

phụ nữ cho con bú khoảng 35% [10] Có nhiều

nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng

yếu tố trực tiếp là do khẩu phần ăn thực tế

không đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng và

các chất dinh dưỡng Bên cạnh đó, kiến thức

về dinh dưỡng nhất là các vi chất cần thiết của

người phụ nữ đóng vai trò quan trọng

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Đối tượng

Phụ nữ trong độ tuổi từ 20-50, chịu trách

nhiệm chính trong bữa ăn và có thu nhập bình

quân đầu người trong gia đình dưới 5 USD/

người/ngày (dưới 3.300.000 đồng/người/

tháng), đang sinh sống ít nhất 12 tháng trên

địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội

2 Phương pháp

Thời gian tiến hành: Nghiên cứu được tiến

hành từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 5 năm

2018

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu và chọn mẫu:

Cỡ mẫu cho điều tra khẩu phần ăn

n: Số phụ nữ cần điều tra khẩu phần ăn

t = 1,96 (phân vị chuẩn hóa ở xác suất

0,954)

δ= 500 Kcal (độ lệch chuẩn của Tổng điều

tra dinh dưỡng năm 2010)

e = 70 (sai số chuẩn)

n = 1336 (dân số quận Đống Đa năm 2016

khoảng 420.000 người, tỉ lệ dân số nghèo của

Hà Nội năm 2017 là 1,69%, theo Tổng điều tra

dân số năm 2009, tỉ lệ phụ nữ trong độ tuổi từ

20 - 50 chiếm 18,83% tổng dân số [11]

Thay vào công thức tính được n = 171,

cộng thêm 10% từ chối, làm tròn thì số phụ nữ

cần điều tra là 188 Thực tế nghiên cứu được tiến hành trên 190 đối tượng

Phương pháp chọn mẫu: theo phương

pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

+ Bước 1: Lập danh sách các phụ nữ sinh sống trên 12 tháng trên địa bàn 21 phường của quận Đống Đa Sau đó dựa trên số liệu

hộ nghèo của các phường, nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn các hộ gia đình để tìm ra những hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 3.300.000/người/tháng và đáp ứng với tiêu chuẩn lựa chọn nghiên cứu

+ Bước 2: Từ danh sách hộ nghèo đáp ứng

đủ tiêu chuẩn của nghiên cứu, phần mềm máy tính sẽ chọn ngẫu nhiên cho đến đủ 190 hộ gia đình như cỡ mẫu đã tính thì dừng lại

+ Bước 3: Đặt cuộc hẹn qua điện thoại và đến hộ gia đình để phỏng vấn đối tượng

Nội dung/chỉ số nghiên cứu

+ Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: Tuổi, địa chỉ, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng sinh sản

+ Khẩu phần ăn 24h: gồm 17 nhóm thực phẩm theo tổ chức nông lương thế giới (FAO),

10 nhóm thực phẩm tối thiểu dành cho phụ nữ, khối lượng P, L, G trong khẩu phần(tính theo gram), Tỉ lệ sinh năng lượng do P:L:G; Tỉ lệ sinh năng lượng do P:L:G; Lượng nước trung bình /24h; Các vitamin và khoáng chất: A, C, B1, B2, B6, B12, Folat, canxi, sắt, kẽm, i ốt + Kiến thức về phân loại các nhóm thực phẩm; Thái độ về sự đa dạng trong bữa ăn; Kiến thức, thái độ về 1 số vi chất: Sắt, Vitamin A

Quy trình tiến hành nghiên cứu: điều tra

bằng bộ câu hỏi và phương pháp hỏi ghi 24h

do các chuyên gia đại học Wageningen Hà Lan tập huấn và triển khai

Phương tiện/công cụ

+ Bộ câu hỏi về kiến thức thái độ liên quan đến dinh dưỡng của phụ nữ có thu nhập thấp

n = t2×δ2× N

Trang 3

+ Bộ câu hỏi về dinh dưỡng bao gồm mẫu

ghi chép phương pháp hỏi ghi 24h

+ Dụng cụ sử dụng cho phương pháp hỏi

ghi 24h

a Cân điện tử TANITA

b Bình và cốc đong bằng nhựa có vạch

chia mức (2000 ml, 1000ml, 250 ml và 100ml)

c Đất nặn (được sử dụng với mục đích nặn

lại để mô tả hay ước lượng tất cả thức ăn có

dạng khối như miếng thịt hay thanh đậu phụ),

mỗi nhóm điều tra được cung cấp 1kg đất nặn

d Tháp dinh dưỡng; Khăn vải và giấy ăn

e Giấy được cắt sợi kích thước khoảng 0,5

x 2-3 cm để ước tính kích cỡ thực phẩm (như

bó rau…)

Phương pháp xử lý số liệu:

+ Đối với bộ hỏi ghi 24h: sử dụng phần mềm Acess 2010 để tiến hành nhập liệu, phần mềm có phần kiểm tra số liệu, luôn giám sát trong quá trình nhập và sau khi nhập liệu để hạn chế tối đa sai số có thể Sử dụng phần mềm STATA 14.0 để phân tích

+ Đối với bộ câu hỏi kiến thức, thái độ: sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và phần mềm STATA 14.0 để phân tích

3 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y

Hà Nội (IRB –VN010001) phê duyệt theo quyết định Số 117/HĐĐĐĐHYHN ngày 07 tháng 6 năm 2017

III KẾT QUẢ

1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 1 Thông tin chung về đối tượng (n = 190)

Nhóm tuổi

Trình độ học vấn

Tình trạng sinh lý

Không mang thai và không cho con bú 173 91,0

Trang 4

Gần 1 nửa đối tượng nghiên cứu nằm trong độ tuổi 40 - 50 (chiếm 46,8%), hơn một phần ba nằm trong độ tuổi từ 30 - 40 (34,2%) Số phụ nữ trong độ tuổi từ 20 - 30 chỉ chiếm 19% Hơn 90% đối tượng có trình độ từ trung cấp trở lên; trong đó: trình độ trung cấp chiếm gần một nửa (45,8%), trình độ đại học chiếm tới hơn 1/3, trình độ sau Đại học chỉ chiếm tỉ lệ 1,1% Tỉ lệ phụ nữ đang cho con bú là 7,9%, đang mang thai chỉ có 1,1%

2 Giá trị dinh dưỡng khẩu phần ăn 24 giờ của phụ nữ

Bảng 2 Khối lượng protein, lipid và glucid và nước tính theo gram trong khẩu phần ăn 24h

của đối tượng nghiên cứu Nhóm Trung bình ± SD Min - Max khuyến nghị Nhu cầu Mức đáp ứng (%)

Lượng protein, lipid, glucid lần lượt là : 95,6 ± 53,2; 3,8 ± 42,4 ; 223,7 ± 106,8 g/ 24 giờ Lượng nước trung bình trong khẩu phần 24h của đối tượng nghiên cứu có mức đáp ứng theo nhu cầu khuyến nghị đạt 100,6% Lượng nước này đã tính tổng lượng nước uống và nước có trong chế độ

ăn

Bảng 3.Thành phần các vitamin và khoáng chất có trong khẩu phần ăn

Tên vitamin/

khoáng chất

Giá trị trung bình ± SD Min - Max

Nhu cầu khuyến nghị

Mức đáp ứng (%)

Trang 5

Bio-Ca (mg) 42,6 ± 53,9 4,6 - 446,5 -

(1,5g muối/ngày) 222,5

Vitamin B6, B12 vượt nhu cầu gấp nhiều lần (khoảng 7 - 8 lần) Mức đáp ứng của vitamin C là 185,3% Các vitamin B1, B2 cũng vượt nhu cầu khuyến nghị (cao hơn trên 33%) Lượng Magie trong khẩu phần cũng cao hơn nhu cầu khuyến nghị (cao hơn gần 30%) Tuy nhiên, nhiều vitamin

và khoáng chất có trong khẩu phần còn chưa đáp ứng được theo nhu cầu khuyến nghị Lượng vitamin B3 chỉ đáp ứng được 66,3%

Bảng 4 Tỉ lệ phần trăm trả lời đúng tên thực phẩm giàu vitamin A và Sắt

Khi được hỏi kể tên 3 thực phẩm giàu vitamin A, trong số những phụ nữ biết đến vitamin A là chất dinh dưỡng thì chỉ có 71/184 người trả lời đúng 3 thực phẩm và chỉ có 25 người trả lời không đúng tên thực phẩm nào Trong số những người biết đến chất dinh dưỡng là sắt, khi được hỏi về thực phẩm nào giàu sắt chỉ có 50/177 người trả lời đúng tên 3 thực phẩm và 42/177 người trả lời không đúng thực phẩm nào

IV BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, độ tuổi của đối

tượng trong khoảng từ 20 - 50, tuổi trung bình

là 37,9; đa số đối tượng có trình độ từ trung

cấp trở lên (93,2%) Theo điều tra Đánh giá

nghèo đô thị năm 2010 tại Hà Nội : 4,4% không

có bằng cấp, 7,5% tiểu học, 27,7% trung học

cơ sở, 36,3% trung học phổ thông, 2,5% cao đẳng, 19,3% đại học, 1,6% thạc sĩ, 0,7% tiến

sĩ [11] Như vậy trình độ văn hóa của đối tượng trong nghiên cứu này cao hơn so với mặt bằng chung trình độ của người dân sống ở thành phố Hà Nội Đống Đa là một quận nội thành,

Trang 6

trung tâm của Hà Nội, nơi tập trung nhiều

trường Đại học lớn nên trình độ học vấn người

dân nói chung, phụ nữ nói riêng cao hơn so với

của thành phố

Kết quả nghiên cứu khẩu phần ăn 24 giờ của

phụ nữ cho thấy, năng lượng trung bình trong

khẩu phần của phụ nữ là 1851 Kcal/người/

ngày Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng

năm 2016 về nhu cầu năng lượng khuyến nghị

cho người Việt Nam thì đối với phụ nữ trong

độ tuổi từ 20 - 50 nếu là lao động nhẹ thì cần

từ 1750 - 1800 Kcal/ngày Trong nghiên cứu

này chúng tôi lựa chọn đối tượng là những phụ

nữ làm nội trợ hoặc công việc như bán hàng,

may vá…nên hình thức lao động nhẹ So sánh

kết quả nghiên cứu này với năng lượng của

phụ nữ độ tuổi sinh đẻ tại quận Hai Bà Trưng

năm 2015 là 1697,6 Kcal/người/ngày thì cao

hơn [12] Mức đáp ứng năng lượng khẩu phần

của phụ nữ trong nghiên cứu so với nhu cầu

khuyến nghị là 102,8%

Tính cân đối của khẩu phần ăn, trong

nghiên cứu này cơ cấu sinh năng lượng trong

khẩu phần ăn 24h của phụ nữ quận Đống Đa

năm 2018 là 21,2: 31: 47,8 Theo nhu cầu

khuyến nghị cho phụ nữ độ tuổi sinh đẻ năm

2016 thì năng lượng do protein nên chiếm từ

13 - 20%, từ lipid là 20 - 25%, từ glucid là 55

- 66% Đối chiếu với kết quả của nghiên cứu

thì khẩu phần ăn của các đối tượng nghiên

cứu cần tăng cường năng lượng do glucid hơn

nữa Kết quả này có sự khác biệt rõ rệt so với

phụ nữ xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội (21,9:

15,1: 63) [13] và của công nhân nữ nhập cư tại

thành phố Hồ Chí Minh (17,5: 20,9: 62,1) [14]

Kết quả cho thấy lượng vitamin trung bình

trong khẩu phần ăn 24h của phụ nữ là 2316 µg

.Kết quả này cao hơn so với của sinh viên ĐH

Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2014 là 1176,9

µg[15] Kết quả này cũng cao hơn Tổng điều

tra toàn quốc năm 2010 [10] Tuy nhiên mới

chỉ đáp ứng được 85,8% theo nhu cầu khuyến nghị năm 2016 của Viện Dinh dưỡng [16] Nhìn chung, kiến thức của các đối tượng nghiên cứu về viatmin A tốt hơn so với kiến thức về sắt So sánh với mức đáp ứng về nhu cầu vitamin A và sắt trong khẩu phần ăn thực

tế có thể cho ta đặt ra câu hỏi: giữa kiến thức

và thực hành về vitamin A và sắt có mối liên quan khi cho thấy kiến thức về vitamin A tốt hơn, thực tế khẩu phần ăn mức đáp ứng theo khuyến nghị của vitamin A cũng cao hơn của sắt

V KẾT LUẬN

Khẩu phần ăn 24h của phụ nữ có thu nhập thấp tại quận Đống Đa:

- Năng lượng trung bình của phụ nữ trong nghiên cứu là 1815 Kcal/24h Tỉ lệ sinh năng lượng P: L: G là 21:31:48 Khối lượng rau tiêu thụ là 220,9g, lượng trái cây là 405,3g

- Các vitamin B1, B2, B6, B12, viatmin C

đã vượt mức nhu cầu khuyến nghị Các vitamin

A chỉ đạt 85,8%, B9 đạt 73,1%, B3 chỉ đạt 66,6% Các khoáng chất như Canxi đạt 85,4%, mức đáp ứng của Iot là 27,4% Tỉ lệ thực phẩm mua từ siêu thị vẫn còn rất thấp (5,8%)

Kiến thức, thái độ về dinh dưỡng của đối tượng trong nghiên cứu:

- Hơn 70% phụ nữ trong nghiên cứu biết đến phân loại các nhóm thực phẩm nhưng chỉ biết đến trung bình 2,2/8 nhóm theo thành phần tháp dinh dưỡng Chỉ 24,6% phụ nữ biết thiếu sắt gây thiếu máu, 40,3% biết thiếu vitamin A gây khô mắt và quáng gà

Lời cảm ơn

Nhóm tác giả chân thành cảm ơn trường Đại học Y Hà Nội, trường Wageningen, người tham gia nghiên cứu và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Asian Development Bank (2014),

Urban Poverty in Asia Asian Development

Bank http://hdl.handle.net/11540/3310

License: CC BY 3.0 IGO

2 Ravallion, M., Shaohua, C and Prem,

S (2007), New Evidence on the Urbanization

of Global Poverty Policy Research Working

Paper No 4199 (Washington: World Bank);

http://econ.worldbank.org/docsearch

3 UN (2014) United Nations World

Urbanization Prospects: http://esa.un.org/

unpd/wup/

4 Hoàng Việt Bách (2014), Tình trạng dinh

dưỡng và khẩu phần ăn thực tế của sinh viên

năm thứ 2 trường Đại học Y Hà Nội năm học

2011 - 2012, Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ Y

khoa năm 2014, trường Đại học Y Hà Nội, 60

- 61

5 Reardon, T and Timmer, C P (2012)

The Economics of the Food System Revolution

Annual Review of Resource Economics, 4(1),

225 - 264

6 Reardon, T and Timmer, C.P (2014)

Five inter - linked transformations in the Asian

agrifood economy: Food security implications

Global Food Security, 3, 108 – 117.

7 GSO, General Statistics Office Vietnam

(2009 - 2014): http://www.gso.gov.vn

8 Nielsen, (2013) Vietnam pocket reference

book: http://www.nielsen.com/content/dam/

nielsenglobal/vn/docs/Reports/2013/2013_

VN_pocket_reference_ book_low.pdf

9.Wertheim - Heck, S.C.O et al (2013)

Reaching lower income groups with safe and

healthy foods – mission possible, An insight into the consumption of lower income consumers

in urban Hanoi, Fresh Studio publication http://www.freshstudio.vn/index.php/news - publications/item/254

10 Viện Dinh dưỡng, Bộ Y tế (2010),

Tổng điều tra dinh dưỡng 2009 - 2010; Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 25 - 90.

11 Báo cáo đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2010.

12 Lê Thị Trang (2017), Thực trạng khẩu

phần ăn và thói quen tiêu thụ thực phẩm của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại phường Thanh Lương,

quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2015, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Y khoa năm 2017, Đại

học Y Hà Nội

13 Nguyễn Lan Hương, Bùi Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2013), Đánh

giá khẩu phần và mức tiêu thụ folic của phụ nữ

sinh đẻ ở một xã ngoại thành Hà Nội, Luận án Tiến sĩ dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng.

14 Trần Thị Minh Hạnh, Phạm Thị Kim Thoa, Quỳnh Vũ Hoa (2013) Năng lượng và

các chất dinh dưỡng tiêu thụ của công nhân

nhập cư tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 9(3),16 - 21.

15 Nguyễn Thị Đan Thanh, Phạm Văn Phú, và Trần Ngọc Trung (2016) Tình trạng

dinh dưỡng và khẩu phần của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y Phạm Ngọc Thạch

Tạp Chí Dinh Dưỡng Và Thực Phẩm, 12(4),

43 – 50

16 Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2016, Viện Dinh

dưỡng Quốc gia

Trang 8

Summary 24H DIETARY RECALL, KNOWLEDGE, AND ATTITUDES ABOUT NUTRITION OF LOW-INCOME WOMEN AT DONGDA

DISTRICT, HANOI 2018

This study aimed to describe the 24h dietary recall, knowledge, and attitudes about nutrition of low-income women in Dong Da district in 2018 A cross-sectional descriptive study was applied The results showed that the average dietary intake energy of women in the study was 1815 Kcal / 24h, the rate P: L: G was 21:31:48 Compared with the recommended dietary allowance, vitamin A only reached 85.8%; B9 reached 73.1%; B3 only reached 66.6%; Calcium reached 85.4%, iron 15% only reached 13.7%, zinc 30% reached 89.8%, Iot was 27.4% The majority (more than 90%) knew of iron and vitamin A but were not aware of iron or vitamin A-rich foods Conclusion: The knowledge of the symptoms of these two nutrient deficiencies was limited Research subjects had inadequate knowledge about classification of food groups, malnutrition, overweight/obesity The diet of the urban poor women still does not guarantee the balance

Keywords: 24h dietary recall, knowledge, attitude, low-income women, Hanoi

Ngày đăng: 15/01/2020, 19:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w