Bài viết trình bày khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở BN từ 45 tuổi trở lên bị NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2. Qua nghiên cứu BN NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2 ghi nhận yếu tố nguy cơ tim mạch còn khá cao, tỉ lệ khá cao BN không có triệu chứng đau ngực điển hình, thời gian từ lúc có triệu chứng cho đến khi được chẩn đoán lâu hơn và tiên lượng những BN này thường xấu hơn.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG BỆNH NHÂN TỪ 45 TUỔI TRỞ LÊN BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP
KÈM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
Huỳnh Kim Phượng*, Trương Thành Viễn**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở BN từ 45 tuổi trở lên bị NMCT cấp kèm ĐTĐ
type 2
Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Từ 08/2013 đến 07/2015, tiến hành nghiên cứu trên 128 BN từ
45 tuổi trở lên bị NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2 tải BV Tim Tâm Đức TPHCM, những BN này được ghi nhận các yếu tố nguy cơ tim mạch, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Kết quả: chúng tôi phát hiện NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2 xảy ra ở nam nhiều hơn ở nữ, độ tuổi trung
bình 62,89 ± 5,80 Yếu tố nguy cơ tim mạch như THA, RLLM, hút thuốc lá, thừa cân và béo phì với tỉ lệ cao lần lượt là 70,3%, 75%, 53,9% và 33,6% Tỉ lệ BN NMCT cấp kèm ĐTĐ không có triệu chứng đau ngực điển hình khá cao (27,34%) trong đó tỉ lệ khó thở (19,97%), đau ngực không điển hình (6,25%) và đau bụng, buồn nôn, nôn (3,13%) BN NMCT ST chênh lên và không ST chênh lên có tỉ lệ gần như nhau (53,1% so với 46,9%) Tiên lượng NMCT cấp theo phân độ Killip I, II, III, IV với tỉ lệ lần lượt là 50,8%, 24,2%, 16,4% và 8,6% BN NMCT cấp kèm ĐTĐ có tỉ lệ tổn thương nhiều nhánh mạch vành cao 79,69%, tổn thương ĐM liên thất trước 71,1%, ĐM vành phải 56,2%, ĐM mũ 53,1%, thân chung ĐM vành trái 31,2% Tỉ lệ bệnh thận mạn trong nghiên cứu 28,13% Không có sự khác biệt về tuổi, giới tính, yếu tố nguy cơ tim mạch, độ lọc cầu thận, số lượng
và vị trí tổn thương mạch vành giữa 2 nhóm có và không có đau ngực điển hình Thời gian từ lúc có triệu chứng cho đến lúc chẩn đoán NMCT cấp trong nhóm không có triệu chứng đau ngực điển hình cao hơn nhóm đau ngực điển hình (14,18 giờ so với 10,14 giờ) Trong nhóm BN có đau ngực điển hình thì tỉ lệ NMCT ST chênh lên cao hơn so với nhóm không có đau ngực điển hình
Kết luận: Qua nghiên cứu BN NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2 ghi nhận yếu tố nguy cơ tim mạch còn khá
cáo, tỉ lệ khá cao BN không có triệu chứng đau ngực điển hình, thời gian từ lúc có triệu chứng cho đến khi được chẩn đoán lâu hơn và tiên lượng những BN này thường xấu hơn Do đó trên nhóm BN ĐTĐ cần phải cẩn thận với các triệu chứng không điển hình để có thể chẩn đoán sớm NMCT cấp
Từ khóa: Nhồi máu cơ tim cấp (NMCT cấp), đái tháo đường type 2 (ĐTĐ type 2), NMCT ST chênh lên,
NMCT không ST chênh lên
ABSTRACT
CLINICAL AND PARA-CLINICAL FEATURES OF ACUTE MYOCARDIAL INFARCTION
WITH TYPE 2 DIABETES MELLITUS AGED ≥ 40 YEARS OLD
Huynh Kim Phuong, Truong Thanh Vien
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 220 - 233
Objective: Observing clinical and para-clinical features of acute myocardial infarction (AMI) with type 2
diabetes mellitus (DMT2) ages ≥ 40 years old
Subjects and Methods: During the period from August 2015 to July 2016, we had studied 128 patients
* Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Theo Yêu Cầu- Bệnh Viện Chợ Rẫy ** Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch
Trang 2aged ≥ 40 years old suffering from AMI with DMT2 at Tâm Đức Heart hospital These patients were assessed
on cardiovascular risk factors, clinical and para-clinical features
Results: The age was 62.89 ± 5.80 and male >female Cardiovascular risk factors: hypertension 70.3%,
hyperlipidemia 75%, smoking 53.95%, obesity 33.6% AMI with DMT2 without typical angina is 27.34% including dyspnea (19.97%); atypical angina (6.25%); abdomen pain, nausia, vomit (3.13%) This study revealed ST segment elevation AMI (STEMI) and non-ST segment elevation AMI (NSTEAMI ) 53.1% and 46.9% respectively Killip I, II, III, IV categozied AMI is 50.8%, 24.2%, 16.4%, 8.6% respectively This study regconized that coronary artery stenosis was multi-arteries 79.69%, LAD 71.1%, RCA 56.2%, LCx 53.1%, LM 31.2% Chronic kidney disease was detected 28.13% There is differency about age, gender, cardiovascular risk factor, GFR, quantity and position of stenosed coronary artery between AMI-DMT2 with typical angina and AMI-DMT2 without typical angina The time that is defined from symptom happened to AMI diagnosed is longer in AMI-DMT2 without typical angina than AMI-DMT2 with typical angina (14.18 hours vs 10.14 hours)
Conclusion: Based on the result of this study, the cardiovascular risk factors remain significant
AMI-DMT2 without typical angina presented higher than AMI-AMI-DMT2 with typical angina, time from symptoms happened to be diagnosed is longer in AMI-DMT2 without typical angina Diagnosis for AMI-DMT2 is conducted carefully due to atypical symptoms
Key words: Acute Myocardial Infarction (AMI), Diabetes Mellitus Type 2 (DMT2), ST segment
Elevation Acute Myocardial Infarction (STEAMI), Non-ST segment Elevation Acute Myocardial Infarction (NSTEAMI)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, NMCT cấp vẫn đang là vấn đề
được các nhà lâm sàng quan tâm nhiều vì là
một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn
đến tử vong ở người lớn tuổi Vào năm 2009, ở
Hoa Kỳ, ước tính khoảng 13 triệu người có bệnh
mạch vành, trong đó hơn 7 triệu người có
NMCT Mỗi năm có khoảng 650.000 trường hợp
NMCT mới, 450.000 trường hợp tái phát và
515.000 trường hợp tử vong Các công trình
nghiên cứu đã chứng minh ĐTĐ là một trong
những yếu tố nguy cơ chính của NMCT cấp
Tần suất bệnh ĐTĐ type 2 ước tính khoảng 30%
dân số BN NMCT cấp Ngoài ta, BN NMCT cấp
kèm ĐTĐ có tỉ lệ biến chứng suy tim, biến
chứng cơ học và tử vong cao hơn so với nhóm
không ĐTĐ(8,37)
Tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây cho
thấy tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ vào khoảng 5,7%
(2012) và có xu hướng ngày càng gia tăng Bên
cạnh đó, các nghiên cứu dịch tễ cho thấy bệnh
mạch vành, đặc biệt NMCT cấp là nguyên nhân
tử vong chính trên những BN ĐTĐ.(7)
Các nghiên cứu trên thế giới cũng ghi nhận
BN NMCT cấp có thể nhập viện với triệu chứng đau ngực điển hình hoặc không điển hình như khó thở, đau bụng, buồn nôn, nôn, ngất…ĐTĐ
là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến
sự biểu hiện triệu chứng không điển hình trên những bệnh NMCT cấp.(8) Do vậy rất nhiều trường hợp NMCT cấp trên BN ĐTĐ không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời Với mong muốn khảo sát đặc điểm không điển hình của bệnh cảnh NMCT trên BN ĐTĐ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố nguy cơ tim mạch trên BN từ 45 tuổi trở lên bị NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2 và so sánh đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng giữa 2 nhóm BN có đau ngực điển hình và không đau ngực điển hình
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
BN từ 45 tuổi trở lên bị NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2 tại bệnh viện Tim Tâm Đức thỏa các điều kiện của tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời
Trang 3gian nghiên cứu từ tháng 08/2013 đến tháng
07/2015
Cỡ mẫu
Công thức ước tính cỡ mẫu của thiết kế
nghiên cứu cắt ngang
Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu
: hệ số tương ứng với KTC mong muốn
p: tỉ lệ ước tính của vấn đề khảo sát
d: sai số biên của ước lượng
Ta chọn:
= 1,96: hệ số tương ứng với KTC 95%
d= 0,1
p: tỉ lệ BN NMCT cấp có biểu hiện triệu chứng đau
ngực điển hình
Theo nghiên cứu của tác giả Casella G và
cộng sự(18) thì tỉ lệ này là 55%, nên chúng tôi
lấy p=0,55
Cỡ mẫu tối thiểu là 95 BN
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tất cả BN được chẩn đoán NMCT cấp ≥45
tuổi theo tiêu chuẩn ESC/ACC/AHA 2012 có
kèm ĐTĐ type 2 được ghi nhận trong tiền căn
Chúng tôi chọn BN NMCT cấp ≥45 vì BN <45
tuổi thường ít có bệnh lý ĐMV và yếu tố nguy
cơ tim tim mạch, đặc điểm lâm sàng và cận lâm
sàng khác biệt
Tiêu chẩn loại trừ
BN có các bệnh tâm thần hoặc không có khả
năng trả lời bảng câu hỏi trong phiếu thu thập
số liệu BN có tiền căn đột quỵ hoặc tiền căn suy
tim nặng BN không đồng ý tham gia cuộc
nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế mô tả cắt ngang, tiền cứu
Phương pháp tiến hành
Chọn những BN thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh
Sau đó thăm khám lâm sàng và ghi nhận các kết
quả cận lâm sàng qua hồ sơ bệnh án theo phiếu thu thập số liệu
Xử lý và phân tích số liệu
Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20 Đối với các biến định lượng, số liệu sẽ được trình bày với số trung bình và độ lệch chuẩn nếu là phân phối chuẩn, số liệu sẽ được trình bày với số trung vị
và các bách phân vị 25% và 75% nếu không tuân theo luật phân phối chuẩn Số liệu sẽ được trình bày dưới dạng tỉ lệ % đối với biến định tính Để
so sánh giữa 2 biến định lượng có phân phối chuẩn chúng tôi dùng phép kiểm “t” Nếu phân phối không chuẩn dùng phép kiểm Wilcoxon-Mann Whitney Để so sánh sự khác biệt giữa các biến định tính, chúng tôi dùng phép kiểm chi bình phương và hiệu chỉnh theo Fisher’ exact test cho những bảng có trên 25% vọng trị <5 Giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu có 128 BN nhập khoa nội bệnh viện Tim Tâm Đức thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 08/2013 đến tháng 07/2015, được
chẩn đoán NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2
Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Đặc điểm Giá trị (n, %)
Nam
Nữ
81 (63,3)
47 (36,7)
Chỉ số khối cơ thể Thừa cân Béo phì
26 (20,3)
17 (13,3) Bệnh thận mạn
(GFR trung bình)
36 (28,13%) (58,16 ± 11,86 ml/phút/m2 da) NMCT ST chênh lên
NMCT không ST chênh lên
68 (53,1)
60 (46,9)
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trên
BN NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng Giá trị (n,%)
Trang 4Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng Giá trị (n,%)
Không đau ngực điển hình
Khó thở Đau ngực không điển hình
Đau bụng, buồn nôn, nôn, ngất, Rl nhịp
NMCT cấp ST chênh
NMCT cấp không ST chênh
Phân độ Killip
Killip I Killip II Killip III Killip IV
23 (17,97)
8 (6,25)
4 (3,13)
68 (53,1)
60 (46,9)
65 (50,8)
31 (24,2)
21 (16,4)
11 (8,6)
Thời gian từ lúc có triệu chứng cho đến khi
chẩn đoán NMCT cấp trong nhóm BN không có
biểu hiện triệu chứng đau ngực điển hình là
14,18 giờ và nhóm BN có triệu chứng đau ngực
điển hình là 10,14 giờ
Bảng 3: Đặc điểm về tổn thương động mạch vành
(ĐMV)
TỔN THƯƠNG ĐMV Giá trị (n, %)
Bảng 4: Số nhánh ĐMV tổn thương
Số nhánh ĐMV tổn thương Giá trị (n, %)
So sánh các đặc điểm của 2 nhóm BN có triệu chứng đau ngực điển hình và nhóm không
có đau ngực điển hình
Bảng 5: Đặc điểm về tuổi trung bình ở 2 nhóm BN
Có đau ngực điển hình Không đau ngực điển hình Kiểm định P
Tuổi trung bình (năm)
Bảng 6: Đặc điểm Lipid trung bình ở 2 nhóm BN
Kiểu RLLM Có đau ngực điển hình
(mg/dl)
Không đau ngực điển hình
(mg/dl)
P
Bảng 7: Độ lọc cầu thận trung bình 2 nhóm
Có đau ngực điển hình Không đau ngực điển hình Kiểm định P
Độ lọc cầu thận
(ml/phút/1,73m2)
Trang 5Phân loại NMCT cấp ở 2 nhóm có và không có đau ngực điển hình
Biểu đồ 1: Phân loại NMCT ở 2 nhóm BN Bảng 8: Đặc điểm về tổn thương ĐMV ở 2 nhóm BN
Có đau ngực điển hình
Không đau ngực điển
Phân độ Killip
Biểu đồ 2: Phân độ Killip trong nhóm BN đau ngực
điển hình
Biểu đồ 3 Phân độ Killip trong nhóm BN không có
đau ngực điển hình
Trang 6Bảng 9 Đặc điểm về phân độ Killip ở 2 nhóm BN
Có đau ngực điển
hình
Không đau ngực điển hình P
Dựa vào phép kiểm chi-bình phương với
= 9,118 với p= 0,028 (<0,05) cho thấy có mối
liên hệ giữa mức độ nặng dựa vào phân độ
Killip với nhóm BN NMCT có đau ngực điển
hình và không có đau ngực điển hình với hệ số
liên hợp (contingency coefficient) 0,258
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung
Tuổi trung bình là 62,89 ± 5,80, nhỏ nhất là
50 tuổi, lớn nhất là 82 tuổi, trong đó tuổi trung
bình của 2 nhóm đau ngực điển hình và không
đau ngực điển hình khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (p=0,09)
Nghiên cứu của tác giả Phạm Mạnh Hùng
và cộng sự tiến hành trên 110 BN ĐTĐ cũng
cho kết quả tương tự với nghiên cứu của
chúng tôi với tuổi trung bình của BN hội
chứng vành cấp là 62,8 ± 10,2.(3) Ngô Hàng
Vinh và cộng sự nghiên cứu về các yếu tố
nguy cơ tim mạch, tổn thương ĐMV ở BN có
tuổi bị NMCT cấp có hoặc không có ĐTĐ ghi
nhận tuổi trung bình trong nhóm BN NMCT
cấp có ĐTĐ là 61,99 ± 10,2.(4)
Theo Annemarie Becker và cộng sự tuổi
trung bình của nam giới NMCT cấp có ĐTĐ
type 2 là 63,8 ± 6,9 và nữ giới là 66,0 ± 6,6.(12)
Tương tự như vậy, tác giả Mark Gruppetta và
cộng sự tiến hành nghiên cứu tiên lượng sống
còn của 337 BN NMCT cấp kèm ĐTĐ trong 2
năm ghi nhận tuổi trung bình của BN là
66,1.(13) Độ tuổi trong các nghiên cứu nước
ngoài lớn hơn so với của chúng tôi có thể do
cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ lớn hoặc có thể
do khác biệt về tỉ lệ các yếu tố nguy cơ tim
mạch kèm theo Tỉ lệ THA, hút thuốc lá trong
nghiên cứu của Mark Gruppetta thấp hơn so
với nghiên cứu chúng tôi (37% so với 70,3%; 47,4% so với 53,9%)
Từ những nghiên cứu trên cho thấy tuổi là yếu tố nguy cơ của bệnh ĐMV và tỉ lệ tử vong
do NMCT tăng theo quy luật lũy thừa theo tuổi.(5) Các nghiên cứu dịch tễ cũng cho thấy bệnh lý tim mạch là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tử vong trong những BN lớn tuổi Tại Mỹ, bệnh ĐMV là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong trong nhóm BN > 65 tuổi.(10) Các nghiên cứu cũng cho kết quả tương
tự tại các nước Châu Á.(11) Ngoài ra, ĐTĐ type 2 thường xuất hiện trên những BN cao tuổi và tần suất mắc bệnh tăng dần theo tuổi Các nghiên cứu về cơ chế sinh lý bệnh cũng ghi nhận số lượng và chức năng của tế bào beta trong tuyến tụy giảm dần theo tuổi cùng với rối loạn chức năng của ty thể đóng góp sự gia tăng bệnh ĐTĐ Do đó tuổi thọ ngày càng cao trong dân số cũng là một trong lý do dẫn đến tỉ lệ ĐTĐ ngày càng tăng Quá trình lão hóa cùng với ĐTĐ làm tăng nguy cơ tỉ lệ bệnh ĐMV.(14)
Tỷ lệ nam giới của toàn mẫu là 63,3% ưu thế hơn so với nữ giới là 36,7% Điều này cũng phù hợp với tỉ lệ bệnh ĐMV thường gặp ở nam nhiều hơn nữ trong các nghiên cứu dịch tễ học Trong nghiên cứu của Phạm Mạnh Hùng và cộng sự về đặc điểm tổn thương ĐMV trên chụp mạch vành ở 110 BN ĐTĐ cũng cho kết quả tương tự nam giới với tỉ lệ cao hơn nữ giới (73,5% so với 26,5%).(3) Trần Thị Huỳnh Nga và cộng sự cũng ghi nhận tỉ lệ nam giới (72,5%) cao hơn nhiều so với nữ giới (27,5%)(2) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng có sự đồng thuận với nghiên cứu của tác giả Mark Gruppetta và cộng sự, trong đó tỉ lệ nam giới ưu thế hơn so nữ giới (60,0% so với 40,0%).(13)
Khảo sát yếu tố nguy cơ tim mạch, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Kết quả tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 20,3% và 13,3% Tác giả Trần Thị Huỳnh Nga cũng cho kết quả tỷ lệ béo phì trên nhóm BN ĐTĐ type 2 là 27,3%(2) Tác giả Ridderstråle và
Trang 7cộng sự (2006) nghiên cứu sơ bộ về tình trạng
béo phì và các yếu tố nguy cơ tim mạch trên
những BN ĐTĐ type 2 ở Thụy Điển với 4468
BN cho kết quả tỉ lệ béo phì khoảng 36,9% và
80% bao gồm thừa cân hoặc béo phì Ngoài ra
nghiên cứu này cũng ghi nhận trong nhóm BN
ĐTĐ có kèm béo phì thì tỉ lệ THA, RLLM nhiều
hơn so với nhóm còn lại.(31)
Ann D Colosia và cộng sự (2013) tổng hợp
44 nghiên cứu quan sát trên thế giới về tần suất
béo phì trên BN ĐTĐ type 2 ghi nhận 38 nghiên
cứu cho tỉ lệ béo phì trên 30%, 14 nghiên cứu
còn lại với tỉ lệ trên 50% và những BN béo phì
có tỷ lệ THA cao hơn nhóm không có béo
phì.(44) Các dữ liệu có thể thấy tình trạng béo
phì ở các nước phương tây cao hơn so với
nghiên cứu của chúng tôi Sự khác biệt này có
thể do chế độ dinh dưỡng và thói quen ăn uống
khác nhau
Qua các nghiên cứu trên cho thấy tình
trạng béo phì hay đi kèm với ĐTĐ Các tác
giả nước ngoài cũng ghi nhận béo phì là yếu
tố nguy cơ dẫn đến ĐTĐ qua cơ chế đề kháng
insulin và ngược lại những BN ĐTĐ thường
đi kèm béo phì Tình trạng đề kháng insulin
và giảm insulin tương đối xảy ra rất sớm
trong BN béo phì qua cơ chế trung gian sự
lắng đọng lipid trong tế bào dẫn đến rối loạn
chuyển hoá đường trong cơ thể.(48)
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận
49,21% BN nam và 4,69% BN nữ hút thuốc lá
Tỉ lệ hút thuốc lá của phụ nữ thấp, điều này
khác với tỉ lệ hút thuốc lá ở nữ giới trong các
nước phương tây
THA là bệnh lý hay đi kèm với ĐTĐ type
2, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ
THA trên nhóm BN ĐTĐ là 70,3% Tác giả
Trần Thị Huỳnh Nga và cộng sự trong nghiên
cứu của mình cũng ghi nhận bệnh lý THA
thường đi kèm với ĐTĐ với tỉ lệ là 84,4%(2)
Các nghiên cứu ở nước ngoài cũng cho kết
quả tương tự THA là bệnh lý hay đi kèm với
ĐTĐ THA ảnh hưởng đến 20-60% BN ĐTĐ
tuỳ thuộc vào thời gian chẩn đoán, tuổi, tình trạng béo phì, chủng tộc.(15) Theo nghiên cứu UKPDS, tần suất THA trên những BN ĐTĐ mới phát hiện là 39%.(16) Tác giả Ann D Colosia và cộng sự (2013) tổng hợp tất cả các nghiên cứu quan sát về tần suất THA và béo phì trên BN ĐTĐ type 2 kết luận THA và béo phì là bệnh lý hay đi kèm với ĐTĐ type 2.(44)
Các nghiên cứu này được tiến hành ở 36 đất nước trên thế giới và hầu hết đều ghi nhận tỉ
lệ THA ở BN ĐTĐ trên 60%, trong đó có vài nghiên cứu ước tính tỉ lệ THA trên 75% So với dân số không ĐTĐ, tỉ lệ THA nhiều hơn trong nhóm BN ĐTĐ Nghiên cứu của Tharkar và cộng sự (2009) ước tính rằng tỉ lệ THA trong nhóm BN ĐTĐ cao gấp 1,5-3 lần
so với không ĐTĐ.(45)
Mối quan hệ giữa THA và ĐTĐ thông qua các cơ chế tăng nồng độ insulin trong máu, thể tích dịch ngoại bào tăng và độ cứng thành mạch gia tăng Do những cơ chế nêu trên mà THA là bệnh lý thường đi kèm trên những BN ĐTĐ ĐTĐ type 2 kèm THA có tỉ lệ bệnh mạch vành
và tử vong do nguyên nhân tim mạch nhiều hơn so với nhóm ĐTĐ không có THA(17,18).Qua các công trình nghiên cứu trên thực nghiệm và các nghiên cứu lâm sàng các tác giả ghi nhận THA làm gia tăng nhanh quá trình hình thành mảng xơ vữa trên nhóm BN ĐTĐ(19,20,21) Tác giả Adler Al và cộng sự nghiên cứu về mối liên quan giữa THA và các biến cố mạch máu lớn và mạch máu nhỏ trên những BN ĐTĐ Nghiên cứu quan sát tiền cứu theo dõi 4801 BN ĐTĐ tại
23 bệnh viện Anh Quốc trong thời gian 8,4 năm cho kết quả huyết áp tâm thu trung bình giảm 10mmHg liên quan đến giảm 12% nguy cơ các biến cố tim mạch do ĐTĐ và nguy cơ thấp nhất với huyết áp tâm thu < 120 mmHg.(43)
Tỉ lệ BN có RLLM trong khảo sát của chúng tôi là 75%, cho kết quả gần tương đồng với nghiên cứu của tác giả Trần Thị Huỳnh Nga và cộng sự với tỉ lệ RLLM là 69,7%.(2) Mẫu nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ tăng LDL-c 46,88%, tăng triglyceride và giảm HDL-c
Trang 844,53% Nồng độ trung bình cholesterol toàn
phần, Triglyceride, HDL-c, LDL-c trong mẫu
khảo sát lần lượt là 223,2 ± 6,2 mg/dl,
178,3 ± 8,2 mg/dl, 41,5 ± 2,2 mg/dl và
132,6 ± 4,8 mg/dl
Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
cũng ghi nhận khoảng 70% BN ĐTĐ có kèm
RLLM.(22) Theo một khảo sát của NHANES
(National Health and Nutritional Examination
Survey) ghi nhận tỉ lệ rối loạn nồng độ LDL
trong máu là 25,3% Nghiên cứu Framingham
cũng cho thấy tần suất ĐTĐ có tăng nồng độ
Triglyceride là 19% nam giới, 17% nữ giới Theo
UKPDS (United Kingdom Prospective
Diabestes Study) tần suất BN ĐTĐ kèm tăng
Triglyceride cao hơn 50% so với nhóm không
ĐTĐ Trong nghiên cứu HPS (Heart Protection
study) tần suất giảm HDL đối với nam giới và
nữ giới trên những BN ĐTĐ lần lượt là 21% và
25%.(23,24,25,26)
Tần suất RLLM khác nhau trong những
nghiên cứu phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh
ĐTĐ, tình trạng kiểm soát đường huyết, tình
trạng dinh dưỡng và tuổi.(46) Các nghiên cứu
cũng ghi nhận thời gian mắc bệnh ĐTĐ càng
lâu thì tỉ lệ BN có RLLM đi kèm càng cao
Nồng độ triglyceride tăng cao và HDL-c giảm
liên quan đến tình trạng kiểm soát đường
huyết kém.(47)
Trong bệnh lý ĐTĐ có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến nồng độ lipid máu, do đó rối loạn
chuyển hoá đường huyết sẽ ảnh hưởng đến
chuyển hoá lipid và ngược lại RLLM trên
những BN ĐTĐ bao gồm những đặc trưng
như tăng nồng độ triglyceride trong máu,
nồng độ HDL-c giảm và tăng nồng độ phân
tử LDL nhỏ và đậm đặc Cơ chế của những sự
thay đổi này là do tình trạng đề kháng
insulin, giảm insulin tương đối và hoạt hoá
adipokines viêm.(27,28,29) Ngoài ra trên những
BN ĐTĐ có sự gia tăng đáng kể nồng độ acid
béo tự do qua cơ chế đề kháng insulin.(30)
Tỉ lệ tử vong do bệnh lý mạch vành cũng gia tăng đáng kể trong nhóm BN ĐTĐ có kèm RLLM Nồng độ triglyceride tăng kết hợp với HDL-c giảm tăng nguy cơ bệnh ĐMV gấp 4 lần trên những BN ĐTĐ so với nhóm chứng Tương
tự một nghiên cứu đoàn hệ theo dõi trong 5,8 năm cũng cho kết quả tương tự HDL-c và triglyceride là những yếu tố tiên đoán độc lập cho những biến cố về tim mạch đặc biệt bệnh lý ĐMV.(27,28)
Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận 36 BN bệnh thận mạn với tỉ lệ 28,13% Tác giả Laura C Plantinga và cộng sự nghiên cứu tần suất bệnh thận mạn trên BN ĐTĐ ở Mỹ từ năm 1996 đến
2006 cho kết quả tỉ lệ bệnh thận mạn 39,6%(51) Lou Arnal LM và cộng sự nghiên cứu 3466 BN ĐTĐ cho kết quả tần suất bệnh thận mạn 34,6%(52) Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ bệnh thận mạn thấp hơn so với 2 nghiên cứu của Laura C Plantinga và Lou Arnal LM Nguyên nhân có thể do tiêu chuẩn chọn mẫu khác nhau Trong nghiên cứu của chúng tôi tiêu chuẩn chọn mẫu bao gồm tiền căn bệnh thận mạn và dựa vào độ lọc cầu thận Trong khi đó, tác giả Laura C Plantinga và Lou Arnal chọn BN bệnh thận mạn dựa vào độ lọc cầu thận hoặc microalbumin niệu Nguyên nhân thứ 2 có thể chương trình tầm soát bệnh thận trên BN ĐTĐ
ở các nước phát triển tốt hơn
Khảo sát các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trên BN NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2
Chúng tôi ghi nhận có 35 trường hợp với tỉ
lệ 27,34% không có biểu hiện triệu chứng đau ngực điển hình và thời gian từ lúc có triệu chứng cho đến khi chẩn đoán NMCT cấp dài hơn so với BN với triệu chứng đau ngực điển hình (trung bình 14,18 giờ so với 10,14 giờ) Tác giả Bean và cộng sự (1997) miêu tả các triệu chứng không điển hình trong những BN NMCT cấp bao gồm suy tim sung huyết biểu hiện bằng khó thở, đau ngực với tính chất không điển hình, rối loạn tiêu hóa, rối loạn nhịp tim, ngất ĐTĐ là yếu tố quan trọng cho những biểu hiện
Trang 9không điển hình trên những BN NMCT cấp
Theo Acharya DU và cộng sự (1991) cơ chế biểu
hiện lâm sàng không điển hình trên những
bệnh NMCT cấp có kèm ĐTĐ là do rối loạn
thần kinh tự động(8) Tác giả Scognamiglio và
cộng sự (2006) trong nghiên cứu của mình về
bệnh lý ĐMV trên những BN ĐTĐ cũng nhận
xét rằng NMCT cấp kèm ĐTĐ type 2 thường có
những biểu hiện triệu chứng không điển hình
Theo các tác giả thì cơ chế có thể là do bệnh thần
kinh tự động và ngưỡng nhận cảm đau bị thay
đổi(32) Còn theo Hadi AR Hadi Khafaji và cộng
sự (2014) biểu hiện triệu chứng không điển hình
còn do sự thay đổi nồng độ beta-endophin(33)
Kết quả của chúng tôi đồng thuận với kết
quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới
Nghiên cứu của tác giả Culic V và cs (2004)
nghiên cứu quan sát tiền cứu trên 1996 BN
NMCT cấp thì khoảng 14,8% không biểu hiện
triệu chứng đau ngực và ĐTĐ là một trong
những yếu tố góp phần dẫn đến những biểu
hiện triệu chứng không điển hình(34) Tác giả
Hwang và cộng sự (2009) tiến hành nghiên cứu
931 đối tượng được chẩn đoán hội chứng vành
cấp thì cũng cho kết quả những BN ĐTĐ
thường biểu hiện những triệu chứng không
điển hình so với không ĐTĐ trên nhóm BN < 75
tuổi(35) Vaccarino và cộng sự phân tích dữ liệu
trên 384.878 BN NMCT cấp từ năm 1994 đến
1998 cho kết quả có 33% BN biểu hiện triệu
chứng không điển hình và ĐTĐ là một trong
những yếu tố tiên đoán độc lập cho sự biểu hiện
triệu chứng không điển hình(36) Theo John G
Canto và cộng sự (2002) nghiên cứu với tổng
cộng 434.877 BN với NMCT cấp Kết quả nghiên
cứu cho thấy khoảng 33% BN NMCT không có
triệu chứng đau ngực tại thời điểm nhập viện(7),
BN NMCT cấp với triệu chứng không đau ngực
thường nhập viện trễ hơn so với BN có triệu
chứng đau ngực (7,9 giờ so với 5,3 giờ) Kết quả
của chúng tôi tương tự với kết quả của John G
Canto BN với triệu chứng không điển hình
thường nhập viện trễ hơn và thời gian từ lúc
triệu chứng cho đến khi chẩn đoán NMCT cấp
dài hơn Nguyên nhân có thể do BN biểu hiện triệu chứng không điển hình làm cho các bác sĩ lâm sàng ít nghĩ đến NMCT cấp từ đó chẩn đoán bị trì hoãn, BN với triệu chứng không điển hình thường đến bệnh viện muộn Thời gian từ lúc triệu chứng đến khi chẩn đoán NMCT cấp trong nghiên cứu chúng tôi dài hơi so với tác giả John G Canto có thể do cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ lớn, hoặc có thể do sự khác biệt về hệ thống chăm sóc y tế
Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ
lệ triệu chứng khó thở (17,97%) cao nhất trên những BN NMCT mà không có triệu chứng đau ngực Tiếp theo đau ngực không điển hình (6,25%), các triệu chứng khác gồm đau bụng, buồn nôn, nôn, rối loạn nhịp, ngất (3,13%) Theo dữ liệu NRMI-2, khó thở là biểu hiện lâm sàng chính trên những BN NMCT mà không biểu hiện đau ngực Tác giả David Brieger và cộng sự nghiên cứu sơ bộ về hội chứng vành cấp trên 20.881 BN trong 14 đất nước cũng cho kết quả tương tự khó thở chiếm
tỉ lệ cao nhất trong nhóm BN hội chứng vành cấp mà không có biểu hiện đau ngực (49,3%) Tiếp theo là triệu chứng toát mồ hôi (26,2%), buồn nôn, nôn (26,2%), ngất (19,1%) Hơn thế nữa, các triệu chứng không điển hình này còn tiên đoán nguy cơ biến chứng và tử vong tăng trên BN NMCT cấp(37) Tác giả Coronado và cộng sự (2004) tiến hành nghiên cứu trên 2541
BN hội chứng vành cấp ghi nhận khó thở là biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất của hội chứng vành cấp mà không có biểu hiện triệu chứng đau ngực với tỉ lệ 72%(38) Sự khác biệt về
tỉ lệ xuất hiện các triệu chứng có thể do cỡ mẫu
và tiêu chuẩn chọn mẫu giữa các nghiên cứu khác nhau
Đặc điểm về loại nhồi máu cơ tim
Kết quả tỉ lệ NMCT ST chênh lên và NMCT không ST chênh lên là xấp xỉ bằng nhau (53,1%
và 46,9%) Tác giả Trương Quang Bình và cộng
sự cho thấy tỉ lệ NMCT ST chênh lên chiếm tỉ lệ cao hơn 64,71%(5) Tác giả Phạm Nguyễn Vinh
Trang 10và cộng sự nghiên cứu về điều trị bệnh nhân
nhập viện do hội chứng động mạch vành cấp
(MEDI- ACS study) ghi nhận tỉ lệ NMCT ST
chênh lên là 61,8%(6) Tác giả Gianni Casella
nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và tiên lượng
ngắn hạn và dài hạn của BN ĐTĐ type 2 NMCT
cấp cũng cho kết quả tương tự với tỉ lệ NMCT
ST chênh lên cao hơn (58%) so với không ST
chênh lên (32%).(9)
Tỉ lệ NMCT ST chênh và NMCT không ST
chênh khác nhau giữa các nghiên cứu có thể do
đặc điểm BN trong các nghiên cứu khác nhau
Các tác giả Pháp trong nghiên cứu sơ bộ về
NMCT ST chênh và không ST chênh ghi nhận
BN NMCT không ST chênh thường có tuổi
trung bình cao hơn, có các yếu tố nguy cơ THA,
RLLM, ĐTĐ nhiều hơn Ngược lại tỉ lệ BN hút
thuốc lá trong nhóm BN NMCT ST chênh lên lại
nhiều hơn(42)
Phân độ Killip
Ghi nhận tỉ lệ Killip III, IV lần lượt là
16,4% và 8,6% Tác giả Casella khảo sát về đặc
điểm lâm sàng và tiên lượng trên 1959 BN
NMCT cấp trong đó có 434 BN ĐTĐ cho kết
quả tỉ lệ Killip III-IV 11%thấp hơn so với
nghiên cứu của chúng tôi có thể là do tỉ lệ các
yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo trong
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn Tỉ lệ hút
thuốc lá, THA, RLLM trong nghiên cứu của
Casella lần lượt là 46%, 68% và 46%,(9) trong
dân số của chúng tôi 53,9%, 70,3% và 75%
Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh các
yếu tố nguy cơ này làm gia tăng sự hình
thành mảng xơ vữa ở BN ĐTĐ từ đó dẫn đến
tỉ lệ biến chứng và suy tim nhiều hơn
Khảo sát tổn thương ĐMV
Kết quả chúng tôi ghi nhận 40 BN (31,2%)
ĐTĐ có hẹp thân chung ĐMV trái, 91 BN
(71,1%) có hẹp nhánh liên thất trước ĐMV trái,
68 BN (53,1%) có hẹp nhánh mũ và 72 BN
(56,2%) có hẹp ĐMV phải Tác giả Phạm Mạnh
Hùng và cộng sự nghiên cứu về đặc điểm tổn
thương ĐMV trên chụp mạch ở 34 BN ĐTĐ ghi
nhận tỉ lệ tổn thương thân chung ĐMV trái trên
BN ĐTĐ type 2 là 26,5% trong khi đó chỉ có 9,21% số BN ở nhóm không ĐTĐ có tổn thương thân chung.Nghiên cứu cũng ghi nhận vị trí tổn thương hay gặp ĐM liên thất trước, tiếp đến
ĐM vành phải và sau cùng là ĐM mũ với tỉ lệ lần lượt là 100%, 88,24%, 67,6%(3) Natali và cộng
sự nghiên cứu 269 BN ĐTĐ type 2 ghi nhận tổn thương ĐM liên thất trước, ĐM vành phải, ĐM
mũ lần lượt là 60,9%, 20,3%, 18,8% Sự khác biệt
về tỉ lệ tổn thương mạch vành giữa các nghiên cứu khác nhau có thể là do thời gian mắc bệnh ĐTĐ khác nhau, các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm, mức độ kiểm soát đường huyết khác nhau giữa các nghiên cứu.(50) Trong nghiên cứu của tác giả Natali ghi nhận tuổi trung bình trong nhóm BN ĐTĐ 60 ± 8,1 (năm); tỉ lệ THA 56% và hút thuốc lá 40% thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi Các yếu tố nguy cơ này đã được chứng minh góp phần thúc đẩy hình thành mảng xơ vữa trong những nghiên cứu dịch tễ
và lâm sàng Đó có thể là lí do mà tỉ lệ tổn thương ĐMV trong nghiên cứu của tác giả Natali thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi(50) Tác giả Tong-guo Wu (2002) và Natali nghiên cứu đặc điểm tổn thương mạch vành cũng cho nhận xét tương tự bệnh nhiều nhánh mạch vành thường gặp trong BN ĐTĐ type 2 và mức độ tổn thương mạch vành thường nặng hơn(49),(50)
Tỉ lệ tổn thương thân chung ĐMV trái gia tăng
ở bệnh lý ĐTĐ Tổn thương thân chung là một tổn thương nặng, được xem như tương đương với tổn thương cả 2 nhánh ĐM liên thất trước
và ĐM mũ Đây là một trong các yếu tố tiên lượng xấu.(40) Một nghiên cứu tiền cứu khác tiến hành trên 2762 BN tại 7 trung tâm tim mạch của Thụy Điển cũng cho kết quả tổn thương thân chung ĐMV trái hoặc 3 nhánh mạch vành chiếm tỉ lệ cao (48%) trong nhóm BN ĐTĐ(41) Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận 26 trường hợp bệnh 0 hoặc 1 nhánh mạch vành, 102 trường hợp bệnh nhiều nhánh mạch vành với
tỉ lệ lần lượt là 20,31%, 79,69% Tác giả Phạm Mạnh Hùng và cộng sự cho nhận xét tương