Khảo sát tình hình sử dụng và đề kháng kháng sinh (KS) tại khoa Nhi - Bệnh viện đa khoa Kiên Giang (BVĐKKG) từ: 9/2012 đến 5/2013.
Trang 1KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI NẶNG Ở TRẺ EM TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI TẠI KHOA NHI
– BỆNH VIỆN ĐA KHOA KIÊN GIANG
Bùi Tùng Hiệp*, Trần Thị Thùy Trang **
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng và đề kháng kháng sinh (KS) tại khoa Nhi - Bệnh viện đa khoa Kiên
Giang (BVĐKKG) từ: 9/2012 đến 5/2013
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 412 hồ sơ bệnh án trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi
Kết quả: Qua khảo sát 412 bệnh án cho kết quả sau: nhóm KS được chỉ định nhiều nhất là cephalosporin
(40,1%) Thời gian trung bình dùng kháng sinh: 11,6 ± 0,33 ngày, trong đó khoảng thời gian 7 – 14 ngày chiếm
tỷ lệ cao nhất (71,3%) Nhóm aminoglycosid, thời gian trung bình: 4,4 ± 0,13 ngày, trong đó trên 5 ngày chiếm
tỷ lệ 14,6% KS lựa chọn ban đầu chủ yếu là Cephalosporin (49,4%) Phối hợp thường gặp nhất: cephalosporin + aminoglycosid (39,2%) Hiệu quả điều trị: cải thiện và khỏi bệnh chiếm tỷ lệ 97,8% và trường hợp không thuyên giảm, chuyển viện chiếm 2,2% Tỷ lệ phân lập vi khuẩn: gram (+): 64,1%; gram (-): 35,9% Các khuẩn gây bệnh thường gặp ở trẻ con như sau: Streptococcus sp 21,3%, Staphylococcus aureus 13,4%, Staphylococcus, coagulase negative 12,5%, Klebsiella pneumoniae 11,3% Staphylococci và các chủng Gram âm có mức đề kháng cao Vancomycin và Fosfomycin là 2 KS còn nhạy cao với tất cả các chủng
Kết luận và kiến nghị: Việc sử dụng KS trong điều trị bệnh lý viêm phổi nặng trẻ em rất khác nhau tùy
trường hợp bệnh Mức độ đề kháng KS của các chủng thường gặp trong viêm phổi nặng hiện rất cao, cần thận trọng trong sử dụng KS và tiếp tục theo dõi mức độ tiến triển đề kháng để có chiến lược điều trị thích hợp với từng giai đoạn
Từ khóa: kháng sinh, viêm phổi nặng, trẻ em dưới 5 tuổi
ABSTRACT
ANTIBIOTHERAPY AND ANTIBIOTIC RESISTANCE IN CHILDREN FROM 2 MONTHS TO 5 YEAR-OLD WITH SEVERE PNEUMONIA ADMITED INTO PEDIATRIC DEPARTMENT – KIEN GIANG
HOSPITAL
Bui Tung Hiep, Tran Thi Thuy Trang
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 64 - 69
Objectives: To examine frequency, modality of antibiotherapy and antibiotic resistance rate in children
suffering from severe pneumonia from 9/2012 to 5/2013
Method: The cross-sectional study was carried out on a population of 412 children aged from 2 month to 5
year-old with severe pneumonia
Results: The study found that: Cephalosporin was the most frequency used (40.1%) Mean of antibiotherapy
with a duration is 11.6 (±0.33) days, a duration from 7 to 14 days in 71.3% and aminoglycosid is 4.4 (±0.13) days, used over 5 days in 14.6% Cephalosporin was the drug of first choice (49.4%), the most common bitherapy was using cephalosporin combined with aminoglycosid in 39.2% The treatment effect is high, the cases of pateints
* Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch – TP Hồ Chí Minh
** Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang
Tác giả liên lạc: PGS Bùi Tùng Hiệp ĐT: 0913912872 Email: buitunghiep@yahoo.com
Trang 2with improment and recovery is 97.8%, only 2.2% pateints with no improment and transport to other hospital The proportion of children infected with possitive Gram was 64.1% higher than negative Gram in 35.9% The most common bacteria includes: Streptococcus sp 21.3%, Staphylococcus aureus 13.4%, Staphylococcus, coagulase negative 12.5%, Klebsiella pneumoniae 11.3% The antibiotic resistance rate of Staphylococci and the negative Gram bacteria was higher than orthers Vancomycin and fosfomycin were sensitive with alls of bacteria
Conclusion: Antibiotherapy in children with severe pneumonia was probabilist The antibiotic resistance
rate was very high It is important to continue to follow the growing resistance rates to have approriate therapy in each time
Keywords: antibiotics, severe pneumoniae, children under 5 year-old
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phổi (phế quản phế viêm hay viêm
phế quản phổi) ở trẻ em là bệnh thường gặp
và là một trong những nguyên nhân chính
gây tử vong ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ em dưới
5 tuổi(2) Bệnh thường gặp ở các nước đang
phát triển Theo tổ chức Y Tế Thế Giới, hàng
năm có gần 13 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên
toàn thế giới tử vong, trong đó có 4,3 triệu trẻ
em chết vì viêm phổi Ở Việt Nam, ước tính
có khoảng 20.000 trẻ em dưới 5 tuổi chết vì
viêm phổi mỗi năm Viêm phổi nặng chiếm
tỷ lệ khoảng 1/3 trong các bệnh nhiễm khuẩn
hô hấp cấp nhưng nó có tầm quan trọng liên
quan đến tính mạng của trẻ, nếu không được
chẩn đoán đúng, điều trị sớm sẽ có biến
chứng nặng nề thậm chí tử vong
Trong điều trị viêm phổi có xu hướng sử
dụng KS quá rộng rãi và phối hợp KS quá
thường xuyên Sự lạm dụng KS ngay từ những
năm đầu đời của trẻ làm cho trẻ dễ kháng
thuốc Bên cạnh đó, gây gia tăng chủng đề
kháng và nhanh chóng xuất hiện thêm những
chủng mới gây khó khăn cho công tác điều trị
Sử dụng KS cho trẻ em đòi hỏi người thầy
thuốc phải hết sức thận trọng vì trẻ em là đối
tượng đặc biệt, chức năng một số cơ quan chưa
hoàn thiện dẫn đến quá trình hấp thu, phân bố,
chuyển hóa, thải trừ cũng khác so với người
lớn(1) Do đó, khi điều trị cần hết sức thận trọng
để đạt được kết quả tốt nhất và giảm thiểu tác
động không mong muốn của thuốc Sử dụng
KS hợp lý, an toàn, hiệu quả cũng là một trong
những biện pháp quan trọng để hạn chế đề kháng của vi khuẩn
Khoa Nhi – BVĐKKG tiếp nhận gần 800 bệnh nhi mỗi tháng, trong đó khoảng ¼ là viêm phổi và khoảng 20% trong số đó được chẩn đoán viêm phổi nặng Do đó, vấn đề đánh giá tình hình sử dụng và khảo sát độ nhạy cảm của KS trong điều trị viêm phổi nặng ở trẻ em 2 tháng đến 5 tuổi để đảm bảo
an toàn và nâng cao chất lượng điều trị là cần thiết Từ thực trạng đó, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài “Khảo sát tình hình sử dụng và
đề kháng KS trong điều trị viêm phổi nặng ở trẻ
em từ 2 tháng đến 5 tuổi tại khoa Nhi – BVĐKKG”
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát tỉ lệ chỉ định KS và đánh giá hiệu quả KS trong bệnh viêm phổi nặng ở trẻ
từ 2 tháng đến 5 tuổi Khảo sát và đánh giá tỉ
lệ các nhóm vi khuẩn, mức độ đề kháng KS của các vi khuẩn gây bệnh trong bệnh lý viêm phổi nặng ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 412 hồ sơ bệnh án
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tất cả các bệnh án có chẩn đoán viêm phổi nặng từ 2 tháng đến 5 tuổi tại khoa Nhi – BVĐKKG có sử dụng KS từ: 09/2012 đến 05/2013
Trang 3Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân sử dụng KS dự phòng, bệnh
nhân trốn viện, bệnh nhân tử vong
Phương pháp đánh giá
Theo phác đồ điều trị của bệnh viện Tương
tác thuốc đánh giá theo theo www.drugs.com
và www.medscape.com
KẾT QUẢ
Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tuổi:
2 tháng - 1tuổi 327 79
>1 - 2 tuổi 61 15
Giới:
Bảng 2 Tần suất sử dụng KS
Piperacillin/tazobactam 5 0,5
Bảng 3 Thời gian sử dụng KS
Bảng 4 Thời gian sử dụng KS nhóm aminoglycosid
Bảng 5 Tỷ lệ các KS được chỉ định ban đầu
3 Amoxcillin/Clavulanat 31 7,5
5 Ampicillin/Sulbactam 3 0,8
10 Cefoperazol/Sulbactam 2 0,4
11 Gentamicine - Cefotaxim 77 19,0
12 Amikacin - Ceftriaxon 57 14,3
13 Amikacin - Imipenem 9 2,2
14 Amikacin - Cefotaxim 5 1,2
15 Gentamicin - Oxacillin 3 0,8
16 Amikacin - Cloxacillin 2 0,4
17 Amox/Clavu - Ceftriaxon 2 0,4
18 Amox/Clavu - Gentamicin 2 0,4
19 Amika- Vancomycin 2 0,4
22 Ceftriaxon - Gentamicin 2 0,4
23 Ami-Imi- Vancomycin 2 0,4
24 Cefeta- Ceftri - Amikacin 1 0,2
Bảng 6 Tình trạng bệnh nhi xuất viện
Bảng 7 Tỷ lệ các loại vi khuẩn được phân lập
Gram (+):
Staphylococcus,coagulase
Gram (+):
35,9
Trang 4Vi khuẩn n % %
Bảng 8 Tỷ lệ đề kháng của các chủng vi khuẩn thường gặp
aureus
Ghi chú: Strep sp.: Streptococcus sp.; Staph.aureus: Staphylococcus aureus; Staph.co (-): Staphylococcus coagulase negative; K pneu: Klebsiella pneumoniae; Strep.pneu: Streptococcus pneumoniae; H.influ: Haemophilus influenzae; E.coli: Escherichia coli Amox/Cla: Amoxcillin/Clavulanate; Oxa: Oxacillin; Peni G: Penicillin G; Piper/tazo: Piperacillin/tazobactam; Ticar: Ticarcillin; Erta: Ertapenem; Imi: Imipenem; Cefe: Cefepim; Cefi: Cefixim; Cefoper: Cefoperazol; Cefoper/Sul: Cefoperazol/sulbactam; Cefota: Cefotaxim; Cefoxi: Cefoxitin; Cefta: Ceftazidim; Ceftri: Ceftriaxon; Cefu: Cefuroxim; Ami: Amikacin; Genta: Gentamicin; Cipro: Ciprofloxacin; Levo: Levofloxacin; Oflo: Ofloxacin; Trime/sulfa: Trimethoprim/sulfamethoxazol; Chloram: Chloramphenicol; Doxy: Doxycilin; Ery: Erythromycin; Fosfo: Fosfomycin; Vanco: Vancomycin; Colis: Colistin
Trang 5BÀN LUẬN
Mẫu khảo sát có tỷ lệ nam là 60,9% cao gấp
1,5 lần so với tỷ lệ bệnh nhân nữ là 39,1% Độ
tuổi có tỷ lệ bệnh nhân mắc viêm phổi nặng cao
nhất là trẻ dưới 1 tuổi chiếm tỷ lệ 79% Nhóm
>1 tuổi đến 2 tuổi chiếm 15% Nhóm > 2 tuổi - 5
tuổi chiếm 6% Tuổi trung bình mắc viêm phổi
nặng là 0,9136 (±0,0590) tuổi Kết quả cho thấy
trẻ dưới 1 tuổi là nhóm đối tượng có nguy cơ
mắc viêm phổi nặng cao nhất Kết quả này
tương tự nghiên cứu của Phạm Thu Hiền (3) về
dịch tễ học viêm phổi nặng của trẻ dưới 5 tuổi
và phù hợp với sinh lý bệnh vì dưới 1 tuổi bộ
máy hô hấp của trẻ còn chưa hoàn thiện, cơ chế
tự bảo vệ chưa phát triển đầy đủ nên dễ bị
nhiễm trùng phổi nặng hơn
Nhóm KS được sử dụng nhiều nhất là
cephalosporin với tỷ lệ 40,1%, trong đó 2 KS sử
dụng nhiều nhất là cefotaxim với tỷ lệ 22,2% và
ceftriaxon với tỷ lệ 13% Tiếp đó là nhóm
aminoglycosid với 21,6%, được sử dụng phối
hợp với nhóm betalactam để tăng tác dụng diệt
khuẩn Cũng chiếm tỷ lệ đáng kể là
carbapenem với tỷ lệ 18,1% Thời gian 7 – 14
ngày sử dụng KS điều trị trong viêm phổi nặng
chiếm tỷ lệ cao nhất 71,3% Trường hợp sử
dụng aminoglycosid trên 5 ngày chiếm tỷ lệ
14,6% Kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng đúng
phác đồ khá cao Về KS lựa chọn ban đầu, liệu
pháp đơn trị vẫn là lựa chọn ưu tiên hàng đầu
chiếm tỷ lệ 59,3% Tỷ lệ phối hợp là 40,7%
Trong đó, phối hợp 2 KS chiếm 40% , phối hợp
3 KS chỉ chiếm tỷ lệ 0,7% Liệu pháp đơn trị
chiếm tỉ lệ cao nhất là cefotaxim 33,3%, ở vị trí
thứ hai là ceftriaxon với tỷ lệ 14,1% Trong
nhóm phối hợp gặp chủ yếu là sự phối hợp
cephalosporin và aminoglycosid chiếm 39,2%
Dựa trên phác đồ điều trị hầu hết KS chỉ định
sử dụng đều đúng phác đồ Hiệu quả điều trị
cao với tỷ lệ bệnh nhân khỏi bệnh và đỡ - giảm
trong viêm phổi nặng là 97,8%
Đánh giá mức độ đề kháng KS Tất cả các
bệnh nhi đều được thực hiện KS đồ với dịch
khí quản Trong đó, gram dương chiếm tỷ lệ cao nhất với 64,1%, gram âm chiếm tỷ lệ thấp
hơn với 35,9% Streptococcus sp chiếm tỷ lệ cao nhất 21,3% Tiếp đó là Staphylococcus aureus chiếm tỷ lệ 13,4%, Staphylococcus, coagulase
negative chiếm tỷ lệ 12,5%, Klebsiella pneumoniae
chiếm tỷ lệ 11,3%, Streptococcus pneumoniae chiếm tỷ lệ 10% và Haemophilus influenzae 7,8%
và các chủng khác chiếm tỷ lệ thấp hơn.Khảo sát mức độ nhạy cảm của các chủng thường gặp với từng KS sử dụng, ta thu được những kết quả sau: trimethoprim/sulfamethoxazol và erythromycin là hai KS có tỷ lệ kháng trên 80% với tất cả các chủng gây viêm phổi nặng thường gặp, được nhận định là hai KS không còn sử dụng được trong điều trị viêm phổi nặng Nhóm carbapenem (ertapenem, imipenem) là KS phổ rộng, còn nhạy cảm với nhiều loại vi khuẩn, nhưng đã đề kháng cao
với Staphylococcus, coagulase negative (>50%)
Nhóm cephalosporin thế hệ 2, 3 là thuốc đầu tay trong phác đồ điều trị viêm phổi nặng, nhưng hiện nay mức đề kháng đã khá cao, đặc
biệt với các chủng như Staphylococcus, coagulase
negative và các chủng gram âm như Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli… Nhóm fluoroquinolon có tỷ lệ đề kháng khá cao, đặc biệt trên các chủng gram dương Fosfomycin và vancomycin là KS còn mức đề kháng thấp, cần cẩn trọng sử dụng trong các trường hợp cần thiết, cần phối hợp khi sử dụng, tránh sử dụng bừa bãi làm gia tăng đề kháng
KẾT LUẬN
Hai nhóm KS được sử dụng nhiều là cephalosporin với tỷ lệ 40,1% và aminoglycosid với 21,6% Hai nhóm này thường được phối hợp với nhau trong điều trị để tăng hiệu lực diệt khuẩn Tỷ lệ phân lập các chủng Gram dương cao hơn Gram
âm Mức độ đề kháng các chủng phân lập được đều khá cao Cephalosporin thế hệ 2,
3 là KS sử dụng đầu tay trong điều trị viêm phổi nặng trẻ em đã có tỉ lệ kháng cao với