Chẹn bêta giao cảm đã được chứng minh hiệu quả bảo vệ trong giai đoạn cấp và sau nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề làm hạn chế việc sử dụng chẹn beta. Do đó, cần tìm hiểu tình hình sử dụng cũng như các tác dụng phụ, chống chỉ định thường xuất hiện trong thời gian bắt đầu điều trị trong viện của các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp nhằm cung cấp các thông tin cần thiết khi sử dụng nhóm thuốc này.
Trang 1SỰ SỬ DỤNG THUỐC CHẸN BÊTA GIAO CẢM Ở BỆNH NHÂN
NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP
Đặng Hoàng Vũ*, Trần Kim Trang**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Chẹn bêta giao cảm đã được chứng minh hiệu quả bảo vệ trong giai đoạn cấp và sau nhồi máu
cơ tim Tuy nhiên, có nhiều vấn đề làm hạn chế việc sử dụng chẹn beta Do đó, cần tìm hiểu tình hình sử dụng cũng như các tác dụng phụ, chống chỉ định thường xuất hiện trong thời gian bắt đầu điều trị trong viện của các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp nhằm cung cấp các thông tin cần thiết khi sử dụng nhóm thuốc này
Mục tiêu: Khảo sát việc bắt đầu sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp trong
thời gian nằm viện
Đối tượng và phương pháp: Thiết kế cắt ngang mô tả 217 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tại khoa Tim
Mạch Can Thiệp, bệnh viện Chợ Rẫy từ 15/12/2017 – 05/05/2018
Kết quả: Tỉ lệ sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm là 9,2% trong 24 giờ đầu nhập viện và 69,1% lúc xuất
viện Loại chẹn beta sử dụng chủ yếu là Metoprolol, Bisoprolol, Carvedilol và Nebivolol với mức liều < 25% chiếm ưu thế Chống chỉ định có 2,4% trong 24 giờ đầu và 4,7% lúc xuất viện Các tác dụng phụ: suy tim là 3,3%; tần số tim chậm xoang 4% Tần số tim trong viện > 78 lần/phút có liên quan đến tăng khả năng sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm thời điểm xuất viện
Kết luận: Tỉ lệ sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm qua các thời điểm vẫn còn ở mức thấp mặc dù các chống
chỉ định và tác dụng phụ xuất hiện không quá nhiều Cần tích cực sử dụng nhóm thuốc này để các bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp được hưởng nhiều lợi ích
Từ khóa: chẹn bêta giao cảm, nhồi máu cơ tim cấp, suy tim
ABSTRACT
THE INITIATION OF USING BETA – BLOCKERS WITH ACUTE MYOCARDIAL
INFARCTIONINPATIENTS CARE
Dang Hoang Vu, Tran Kim Trang
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2-2019: 71 - 78
Background: Although Beta – blockers have shown their protective role in both acute and post - myocardial
infarction, its administration has been restricted in various aspect It’s necessary to figure out the clinical practice, contraindications and side effects of this drug during hospitalized starting treatment after myocardial infarction for further information’s in usage
Objectives: To investigate the use of Beta – blockers in patients with acute myocardial infarction
Methods: A cross – sectional survey was conducted on 217patients diagnosed with acute myocardial
infarction in Interventional Cardiology Department of Cho Ray hospital during Dec 15, 2017–May 05, 2018
Results: The rate of Beta - blockers use was 9.2% within the first 24 hours and 69.1% at discharged Four
predominant beta – blockers were Metoprolol, Bisoprolol, Carvedilol and Nebivolol The majority of noted did not achieve 25% of maximal dose Contraindications were 2.4% within the first 24 hours and 4.7% at discharged 4% got bradycardia and 3.3% had heart failure during treatment Patients with heart rate >78bpm were more likely
to be prescribed with beta – blockers at discharge
*Bộ môn Lão khoa – Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2Conclusion: In-hospital Beta – blockers prescription was low in spite of few contraindications and side
effects Early initiation of this medicine on post infarction patients should be actively practiced
Keywords: Beta – blockers, acute myocardial infarction, heart failure
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các hướng dẫn thực hành lâm sàng của
ESC(10,16), ACC/AHA đã khuyến cáo sử dụng
chẹn bêta giao cảm điều trị bệnh nhân nhồ máu
cơ tim (NMCT) cấp vì những lợi ích đã được
chứng minh: giảm đau ngực- kích thước vùng
nhồi máu- rối loạn nhịp thất, giảm tỉ lệ suy tim
sau nhồi máu- tái nhồi máu- tái nhập viện, cải
thiện tỉ lệ tử vong và chất lượng sống của bệnh
nhân (BN) Nhưng thực tế có nhiều vấn đề làm
hạn chế việc sử dụng chẹn bêta Cần tìm hiểu
những yếu tố liên quan đến việc chỉ định chẹn
bêta giao cảm nội viện, từ đó cải thiện được tình
hình điều trị, giúp bệnh nhân nhồi máu cơ tim
(BNNMCT) cấp được hưởng nhiều lợi ích hơn
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát việc sử dụng thuốc chẹn bêta giao
cảm ở BNNMCT cấp
Mục tiêu chuyên biệt
Xác định tỉ lệ bệnh nhân NMCT cấp điều trị
tại khoa TMCT Bệnh viện Chợ Rẫy được sử
dụng thuốc chẹn bêta giao cảm: Trong 24 – 48
giờ đầu nhập viện, sau 48 giờ và khi xuất viện
Mô tả các loại thuốc và liều thuốc chẹn bêta
giao cảm được sử dụng
Khảo sát chống chỉ định, tác dụng phụ và
yếu tố liên quan đến việc sử dụng chẹn bêta
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện liên
tiếp không xác suất
Thời gian nghiên cứu
15/12/2017 - 05/05/2018
Cỡ mẫu
Theo công thức tính tỷ lệ lưu hành của 1
quần thể
Trong đó:
n: Cỡ mẫu cần
/ = 1,96: Giá trị giới hạn tương ứng với độ tin cậy 95%
d: Sai số mong đợi 1%, α = 0,05
P: Tỉ lệ sử dụng chẹn bêta giao cảm ở bệnh nhân NMCT cấp
Nghiên cứu của tác giả Hirofumi Hioki(8) công bố năm 2015 ghi nhận tỉ lệ sử dụng chẹn bêta giao cảm khi xuất viện là P = 56,5%, tính được cỡ mẫu tối thiểu là 193 bệnh nhân
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân đã được chẩn đoán và đang điều trị NMCT cấp(17) tại khoa Tim Mạch Can Thiệp, Bệnh viện Chợ Rẫy đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại tr ừ
Bệnh nhân đang mang thai
Các bệnh nhân có các tiền sử bệnh lý và vẫn còn chống chỉ định sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm đến thời điểm nhập viện: Suy nút xoang, nhịp chậm xoang Blốc nhĩ – thất độ
2 – 3 Khoảng PR > 0,24 giây.BN đã đặt máy tạo nhịp tim
Cơn hen và đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Bệnh nhân được phẫu thuật bắc cầu mạch vành sau nhập viện
Bệnh nhân dị ứng thuốc chẹn bêta giao cảm
Phương pháp phân tích số liệu
Nhập liệu bằng Excel 2016, xử lý số liệu bằng chương trình SPSS 22.0
Thống kê mô tả và thống kê phân tích
Phân tích đơn biến
Biến số định lượng trình bày dạng trung bình và độ lệch chuẩn, kiểm định T test với phân phối chuẩn Nếu không có phân phối chuẩn,
Trang 3biến số được trình bày bằng trung vị và khoảng
tứ phân vị (25 – 75) (KTPV) và dùng phép kiểm
Wilcoxon rank sum test Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p < 0,05
Hồi quy logistic đơn biến Để khử nhiễu giữa
các biến số dùng hồi quy logistic đa biến
KẾT QUẢ
217 bệnh nhân được khảo sát
Nữ 67 (30,9%), nam 150 (69,1%)
Tuổi trung bình 64,1 ± 11,4 Nhóm <60 tuổi
và 60 – 69 tuổi tương đương nhau
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh
nhân NMCT cấp
Phân độ Killip
100% BN Killip 1 thời điểm nhập viện Có 2
trường hợp chuyển độ Killip 4 trong 24 giờ đầu
Nếu xét trong 48 giờ đầu, có 7 trường hợp
chuyển độ Killip (2 trường hợp Killip 2; 2 trường
hợp Killip 3 và 3 trường hợp Killip 4) Có 4
trường hợp chuyển độ Killip sau 48 giờ, trong đó
2 trường hợp chuyển độ 3 và 2 BN chuyển độ 4
Có 3 bệnh nhân tử vong trong 48 giờ đầu
nhập viện
Phân suất tống máu thất trái
Có 35% (N = 76) BN có PSTM > 50%, 37,4%
(N = 81) BN có PSTM 40 – 50% Và nhóm có
PSTM < 40% chiếm 27,6% (N = 60)
Sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm qua các giai đoạn
Tỉ lệ sử dụng chẹn bêta giao cảm qua các
giai đoạn (Biểu đồ 1)
Các loại chẹn bêta giao cảm được sử dụng
qua các giai đoạn
Các BN chủ yếu được sử dụng 4 loại thuốc
chẹn bêta giao cảm chính, đều là các nhóm
thuốc có ISA (-) cho phép sử dụng trong suy
tim phân suất tống máu giảm, dù tỉ lệ BN có
PSTM < 40% trong nghiên cứu của chúng tôi là
27,6% (Biểu đồ 2)
Biểu đồ 1 Tỉ lệ (%) sử dụng chẹn bêta giao cảm qua
các giai đoạn*
*: trong 24 giờ: N = 217 Trong 48 giờ: N = 217 Sau 48 giờ: N = 214 Xuất viện: N = 212 do có các bệnh nhân tử vong qua các giai đoạn
Biểu đồ 2 Tỉ lệ các loại chẹn bêta giao cảm được sử
dụng qua các giai đoạn
Liều chẹn bêta giao cảm được sử dụng qua các giai đoạn
Hầu hết BN được sử dụng liều thấp < 25% liều chuẩn, riêng có nhóm liều từ 25 – 50% liều chuẩn là có sự thay đổi nhiều nhất qua các giai
đoạn (Biểu đồ 3)
Thời gian bắt đầu sử dụng chẹn bêta giao cảm trong viện
Thời gian trung bình BN bắt đầu được sử dụng chẹn bêta giao cảm là giữa ngày 3 và 4 sau khi nhập viện.Trong đó, tỉ lệ cao được dùng sau CTMVQD 78%
Đánh giá nguy cơ khi sử dụng chẹn bêta giao cảm
Tỉ lệ bệnh nhân có nguy cơ choáng tim 24 – 48 giờ đầu nhập viện
Thời điểm nhập viện có 30% BN có nguy cơ choáng tim Trong quá trình theo dõi số BN này,
4 trường hợp (chiếm 6%) xuất hiện choáng tim
Trang 4thực sự Trong khi đó ở nhóm 70% BN không
nguy cơ choáng tim có 1 trường hợp (chiếm 0,7%)
xuất hiện choáng tim
Tác dụng phụ thuốc chẹn bêta giao cảm
Do thời gian nằm viện trung bình 7,3 ± 3,6
ngày, chỉ khảo sát các tác dụng phụ xuất hiện
sớm: suy tim 3,3% (N = 5); chậm xoang 4,0% (N =
6); 92,7% (N = 141) không tác dụng phụ
Chống chỉ định chẹn bêta giao cảm qua các giai đoạn
Trong số 66 BN xuất viện mà không được chỉ định chẹn bêta giao cảm, có 15,2% chống chỉ định và tất cả đều do tần số tim chậm; 84,6% BN không có chống chỉ định chẹn bêta
giao cảm (Biểu đồ 4)
Biểu đồ 3 Tỉ lệ các mức liều chẹn bêta giao cảm qua các giai đoạn
Biểu đồ 4 Tỉ lệ (%) các chống chỉ định chẹn bêta giao cảm qua các giai đoạn Trong 24 giờ (N = 217); Trong
48 giờ (N = 217); Sau 48 giờ (N = 214); Khi xuất viện (N = 212)
Trang 5Một số yếu tố liên quan sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm
Bảng 1 Phân tích hồi quy đa biến yếu tố liên quan sử dụng thuốc khi xuất viện
Đặc điểm OR Khoảng tin cậy (95%) Hệ số β p
Tần số tim trong viện 1,23 1,15 – 1,32 0,21 < 0,001 Huyết áp tâm thu trong
Dùng chẹn bêta giao
Dùng chẹn bêta giao
BÀN LUẬN
Tỉ lệ sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm qua các
giai đoạn
Các hướng dẫn quản lý BN NMCT cấp của
ESC(9,16) và ACC/AHA(1,3) đều khuyến cáo sử
dụng thuốc chẹn bêta giao cảm sớm trong 24 –
48 giờ khởi phát triệu chứng, và duy trì sau xuất
viện Tỉ lệ BN NMCT cấp được sử dụng chẹn
bêta giao cảm trong 24 – 48 giờ đầu sau nhập
viện của nghiên cứu chúng tôi ít hơn các nghiên cứu khác do một số nguyên nhân Nghiên cứu của Haibo Zhang(7) (Trung Quốc) dựa trên số liệu thu được trong nghiên cứu COMMIT - CCS2, nên có tỉ lệ sử dụng rất cao (59,1%) Etyene Puymirat(13) (Châu Âu) tỉ lệ chỉ định chẹn bêta giao cảm sớm cao hơn có thể do đặc điểm kĩ thuật, khả năng theo dõi BN
Bảng 2 Tỉ lệ sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm qua các giai đoạn của các nghiên cứu
Nghiên cứu Cỡ mẫu
(N)
Tỉ lệ sử dụng chẹn bêta giao cảm (%)
Trong 24 giờ Trong 48 giờ Xuất viện
Haibo Zhang (2016)(4) > 45000 59,1 -
Bảng 3 Tỉ lệ các loại chẹn bêta giao cảm được sử dụng qua các giai đoạn trong các nghiên cứu
Tác giả Tỉ lệ các loại chẹn bêta giao cảm được sử dụng (%)
Atenolol Acebutolol Metoprolol Bisoprolol Carvedilol Khác
Trang 6Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại Việt
Nam, việc lựa chọn chỉ định chẹn bêta giao cảm
sớm là cực kì thận trọng nhằm tránh các biến
chứng, tác dụng phụ không mong muốn (Bảng
2).Tỉ lệ sử dụng chẹn bêta giao cảm lúc xuất viện
của nghiên cứu chúng tôi là 69,1%, tương đương
nghiên cứu của Ghazaleh Gouya6) (châu Âu), cao
hơn nghiên cứu của Daisaku Nakatani(11),
Hirofumi Hioki(8) (Nhật Bản) và cao hơn nghiên
cứu của tác giả Phạm Hòa Bình (2011)(14),
MEDI-ACS (2011)(15) và Nguyễn Đức Công (2014)(12)
cũng tại Việt Nam Riêng nghiên cứu của Etyene
Puymirat(13) chỉ xét nhóm BN có PSTM > 40%,
đây là nhóm BN ít nguy cơ nên tỉ lệ sử dụng
chẹn bêta giao cảm cao hơn nghiên cứu của
chúng tôi
Các loại chẹn bêta giao cảm được sử dụng
Các nghiên cứu trên thế giới ghi nhận
nhiều loại chẹn bêta giao cảm có ISA (-) trong
khi nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận chủ yếu
là các loại chẹn bêta giao cảm được phép dùng
ở BN suy tim và không có sự chênh lệch quá
nhiều giữa các loại thuốc này Đồng thời kết
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy loại
thuốc chẹn bêta giao cảm được sử dụng dường
như không liên quan đến thời gian tác dụng, số
lần sử dụng mà các bác sĩ hướng đến các loại
chẹn bêta giao cảm có thể sử dụng lâu dài khi
BN có bệnh kèm theo các bệnh lý khác, ví dụ
suy tim (Bảng 3)
Các mức liều chẹn bêta giao cảm được sử dụng
Mặc dù tỉ lệ bệnh nhân có phân suất tống máu giảm trong nghiên cứu của chúng tôi là 27,6% và còn nhiều chỉ định điều trị khác với các mức liều khởi đầu và liều đích khác nhau Tuy nhiên, chúng tôi vẫn áp dùng mức liều chuẩn là liều tối đa có thể dùng cho các bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm vì: thứ nhất, do các nghiên cứu gần đây cho thấy thuốc chẹn bêta giao cảm có hiệu quả bảo vệ sau NMCT cấp ở tất cả các mức liều(4,13) Các khuyến cáo của ESC, ACC/AHA, ngoại trừ các bệnh nhân NMCT kèm suy tim PSTM giảm không quy định rõ liều thuốc sử dụng; thứ hai, các liều thuốc chẹn bêta tối đa như trên đã được chứng minh rằng an toàn và có hiệu quả bảo vệ trên các bệnh nhân suy tim; thứ ba, do một số nghiên cứu về chẹn bêta giao cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp của các tác giả nước ngoài, không xét đến phân suất tống máu(4,5) sử dụng mức liều chuẩn này,hoặc chỉ xét nhóm bệnh nhân có PSTM >40%(13) sẽ được chuẩn hóa theo mức liều này, do đó sẽ dễ dàng hơn trong việc đối chiếu và so sánh.Kết quả cho thấy nhóm liều khởi đầu chủ yếu là thấp < 25% liều chuẩn, phù hợp với đặc điểm của việc
sử dụng chẹn bêta giao cảm: khởi đầu liều thấp sau đó tăng dần Thời điểm xuất viện mức liều
< 50% vẫn chiếm ưu thế, phù hợp với quan điểm điều trị, không tăng liều quá nhanh nhằm
đảm bảo sự an toàn cho BN (Bảng 4)
Bảng 4 Các mức liều chẹn bêta giao cảm được sử dụng trong các nghiên cứu
Nghiên cứu Cỡ mẫu
(N)
Tỉ lệ % các mức liều chẹn bêta giao cảm
< 25% 25 – 50% > 50% Không rõ liều
Jeffrey J Goldberger (2011)(4) XV 1971 56,6 26,4 17 0
Jeffrey J Goldberger (2015)(5) XV 7057 61,2 25,5 13,4 0
Haibo Zhang 2015(7) 24h >45000 73,6 22,4 4 0
Các nguyên nhân bệnh nhân không được sử
dụng chẹn bêta giao cảm khi xuất viện
Chiếm tỉ lệ cao nhất là các bất thường liên
quan đến tần số tim Trong nghiên cứu của chúng tôi thời điểm xuất viện có 4,7% BN có chống chỉ định, chiếm 15,4% trong tổng BN
Trang 7không được sử dụng thuốc và có đến 84,6% BN
không được dùng thuốc nhưng không tìm được
lý do (Bảng 5)
Các yếu tố liên quan đến việc không sử dụng
thuốc chẹn bêta giao cảm khi xuất viện
Giải thích sự ảnh hưởng của tần số tim trong
viện đến quyết định sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm có thể do đặc tính dược lý của nhóm thuốc này Ở một số nghiên cứu, tần số tim có liên quan việc sử dụng chẹn bêta giao cảm sớm
và tử vong của BN sau nhồi máu (Bảng 6)
Bảng 5 Các nguyên nhân BN không được sử dụng chẹn bêta giao cảm thời điểm xuất viện
Nghiên cứu Tỉ lệ (%) các nguyên nhân không được sử dụng chẹn bêta giao cảm
Huyết
áp thấp
Blốc nhĩ thất
Nhịp chậm
Bệnh đường thở
Suy tim
Dùng kèm thuốc
Trầm cảm
Khác Không rõ
Jeffrey J,
Goldberger(4)
20,3 5,5 24,2 14,8 11,7 6,2 0,8 11,7 11,7 Jeffrey J,
Goldberger(5)
Bảng 6 Các yếu tố liên quan đến việc không sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm
Jeffrey J Goldberger(4) 2010 Nhịp chậm xoang chiếm 24,2% nguyên nhân làm cho bệnh nhân không được
sử dụng chẹn bêta giao cảm sau xuất viện
Barron Anthony J(2) 2013 Tần số tim > 75 lần/phút có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong sau NMCT cấp Haibo Zhang(7) 2015 Tần số tim > 80 lần/phút làm tăng khả năng bệnh nhân được sử dụng chẹn bêta
giao cảm
Etyene Puymirat (13) 2016 Bệnh nhân được sử dụng chẹn bêta giao cảm sau xuất viện trẻ hơn và ít bệnh
đồng mắc hơn
Chúng tôi 2018 Bệnh nhân có tần số tim > 78 lần/phút tăng khả năng được sử dụng thuốc chẹn
bêta giao cảm sau xuất viện*
*: AUC = 0,869, KTC 95 % từ 0,797 đến 0,941 với p = 0,001 Độ nhạy 89%; độ đặc hiệu 82 %; giá trị tiên đoán dương 92,9%; giá trị trên đoán âm 74,7%
KẾT LUẬN
Việc sử dụng thuốc chẹn bêta giao cảm mặc
dù đã được chứng minh mang lại hiệu quả và lợi
ích bảo vệ cho BNNMCT cấp, nhưng nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy việc sử dụng nhóm thuốc
này vẫn còn hạn chế cả về tỉ lệ lẫn mức liều Do
đó, các nhà lâm sàng cần nâng cao tỉ lệ sử dụng,
giúp bệnh nhân NMCT cấp được hưởng nhiều
lợi ích hơn từ các thuốc chẹn bêta giao cảm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Amsterdam EA, Wenger NK, Brindis RG et al (2014) “2014
AHA/ACC Guideline for the Management of Patients
With Non–ST-Elevation Acute Coronary Syndromes: A Report
of the American College of Cardiology/American Heart
Association Task Force on Practice Guidelines” Journal of the
American College of Cardiology, 64 , pp e139-e228
2 Barron AJ, Zaman N, Cole GD et al (2013) « Systematic review
of genuine versus spurious side-effects of beta-blockers in heart
failure using placebo control: Recommendations for patient
information” International Journal of Cardiology, 168, pps
3572-3579
3 Gara PT, Kushner FG, Ascheim DD et al (2012) « 2013 ACCF/AHA Guideline for the Management of ST-Elevation
Myocardial Infarction” Circulation, 127, pp e362-e425
4 Goldberger JJ, Bonow RO et al (2010) “β-Blocker use following myocardial infarction: Low prevalence of evidence-based dosing” American Heart Journal, 160, pp 435-442
5 Goldberger JJ, Bonow RO et al (2015) “Effect of Beta-Blocker Dose on Survival after Acute Myocardial Infarction” Journal of the American College of Cardiology, 66, pp 1431-1441
6 Gouya G, Reichardt B et al (2007) « Survival of patients discharged after acute myocardial infarction and
evidence-based drug therapy” European Journal of Epidemiology, 22
,pp 10
7 Haibo Z, Masoudi FA et al (2015) « National assessment of early β-blocker therapy in patients with acute myocardial infarction in China, 2001-2011: The China Patient-centeredEvaluative Assessment of Cardiac Events (PEACE)–
Retrospective AMI Study” American Heart Journal, 170, pp
506-515
8 Hioki H, Motoki H et al (2016) “Impact of oral beta-blocker therapy on mortality after primary percutaneous coronary
intervention for Killip class 1 myocardial infarction” Heart and
Vessels, 31,pp 687-693
9 Ibanez B, James S et al (2018) « 2017 ESC Guidelines for the management of acute myocardial infarction in patients
Trang 8presenting with ST-segment elevationThe Task Force for the
management of acute myocardial infarction in patients
presenting with ST-segment elevation of the European Society
of Cardiology (ESC)” European Heart Journal, 39, pp 119-177
10 Jneid H, Addison D et al (2017) “2017 AHA/ACC Clinical
Performance and Quality Measures for Adults With
ST-Elevation and Non–ST-ST-Elevation Myocardial Infarction: A
Report of the American College of Cardiology/American Heart
Association Task Force on Performance Measures” Journal of the
American College of Cardiology, 70 ,pp 2048-2090
11 Nakatani D, Sakata Y et al (2013) « Impact of Beta Blockade
Therapy on Long-Term Mortality After ST-Segment Elevation
Acute Myocardial Infarction in the Percutaneous Coronary
Intervention Era” American Journal of Cardiology, 111, pp
457-464
12 Nguyễn Đức Công, Hồ Thượng Dũng (2014) “Đặc điểm lâm
sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân có hội chứng vành cấp
tại bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh từ 01.2013
đến 06.2013” Tạp chí y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18, pp 26 - 29
13 Puymirat E, Riant E et al (2016) “β blockers and mortality after
myocardial infarction in patients without heart failure:
multicentre prospective cohort study” BMJ, 354, i4801
14 Phạm Hòa Bình, Hồ Thượng Dũng (2011) “Nhận xét về điều trị nhồi máu cơ tim cấp tại bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí
Minh từ 01/2009 - 06/2010” Tạp chí y học Thành phố Hồ Chí Minh,
15, pp 170 - 176
15 Phạm Nguyễn Vinh, Nguyễn Lân Việt và cs (2011) “Nghiên Cứu Quan Sát Điều Trị Bệnh Nhân Nhập Viện Do Hội Chứng
Động Mạch Vành Cấp (MEDI- ACS study)” Tạp chí Tim mạch
học Việt Nam, 58, pp 12 - 25
16 Roffi M, Patrono C, et al (2016) « 2015 ESC Guidelines for the management of acute coronary syndromes in patients presenting without persistent ST-segment elevationTask Force for the Management of Acute Coronary Syndromes in Patients Presenting without Persistent ST-Segment Elevation of the
European Society of Cardiology (ESC)” European Heart Journal,
37, pp 267-315
17 Thygesen K, Alpert JS, et al (2012) “Third Universal Definition
of Myocardial Infarction” Circulation, 126, pp 2020-2035
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019