1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi thì 2 điều trị tắc ruột do ung thư đại tràng trái và trực tràng

6 68 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 346,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt đại tràng trái, trực tràng sau khi đã được mở hậu môn nhân tạo (HMNT) giải áp trên dòng trong điều trị tắc ruột do ung thư đại tràng trái và trực tràng.

Trang 1

PHẪU THUẬT NỘI SOI THÌ 2 ĐIỀU TRỊ TẮC RUỘT

DO UNG THƯ ĐẠI TRÀNG TRÁI VÀ TRỰC TRÀNG

Dương Bá Lập*, Trần Văn Minh Tuấn**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tắc ruột do ung thư đại tràng phải đã được đồng thuận cắt nối 1 thì trong phẫu thuật cấp cứu

Tuy nhiên, phẫu thuật để điều trị tắc ruột do ung thư đại tràng trái và trực tràng cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt đại

tràng trái, trực tràng sau khi đã được mở hậu môn nhân tạo (HMNT) giải áp trên dòng trong điều trị tắc ruột do ung thư đại tràng trái và trực tràng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu, mô tả loạt ca Bệnh nhân ung thư đại tràng

trái hoặc trực tràng được điều trị cấp cứu bằng mở HMNT trên dòng, sau đó phẫu thuật nội soi thì 2 cắt u đại tràng hoặc trực tràng tại bệnh viện Bình Dân trong thời gian từ tháng 8/2017 – 11/2018

Kết quả: Từ 8/2017 – 11/2018 có 10 bệnh nhân (4 nam, 6 nữ) tắc ruột do ung thư đại tràng trái hay trực

tràng được nhập viện và PTNS thì 2 cắt u Tuổi trung bình của bệnh nhân là 61,5 ± 15,1 Tỉ lệ chuyển mổ mở là 0% Thời gian phẫu thuật trung bình là 247 ± 28,4 phút Thời gian nằm viện 21,9 ± 3,6 ngày Số hạch nạo vét trung bình là 20,8 ± 7,8 hạch Có 1 trường hợp (10%) rò miệng nối và được điều trị bảo tồn Không có tử vong sớm sau mổ

Kết luận: PTNS cắt u thì 2 sau khi mở HMNT trên dòng cho kết quả sớm an toàn, có thể thực hiện mà vẫn

đảm bảo nguyên tắc phẫu thuật về mặt ung thư học Bệnh nhân có thời gian mang HMNT ngắn và có được những ưu điểm của phẫu thuật nội soi

Từ khóa: ung thư đại trực tràng, tắc ruột, phẫu thuật nội soi, hậu môn nhân tạo

ABSTRACT

SECONDARY STAGE LAPAROSCOPY IN TREATMENT OF MALIGNANT LEFT-SIDED COLONIC

AND RECTAL OBSTRUCTION

Duong Ba Lap, Tran Van Minh Tuan

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 1- 2019: 214 - 219

Background: The treatment of malignant right-sided colonic obstruction has been approved with single

stage resection in emergency situations However, the procedure for left-sided colonic and rectal obstruction still remains controversial

Objective: The aim of this research is to give an assessment of the early outcomes of the secondary stage

laparoscopic left-hemicolectomy, after performing a temporary decompressing colostomy, in the management of malignant left-sided colonic and rectal obstruction

Objects and method: Prospective Observational study This study includes patients diagnosed with colonic

or rectal obstruction and primarily treated with decompressing colostomy, then they underwent a secondary

laparoscopic left-hemicolectomy at Binh Dan hospital from 8/2017 to 11/2018

Result: From 8/2017 to 11/2018, there were 10 admitted patients (4 males, 6 females) diagnosed with colonic

* Bộ môn Ngoại, Khoa Y, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh,

** Bộ môn Ngoại, Khoa Y, Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc ThS Dương Bá Lập ĐT:0913675764 Email: balapbvbd@gmail.com

Trang 2

or rectal obstruction and underwent secondary stage laparoscopic tumor resection The average age was 61.5 ± 15.1 The percentage of conversion to laparotomy was 0% The mean operation time was 247 ± 28.4 minutes The average hospital stay time was 21.9 ± 3.6 days The average number of harvested nodes was 20.8 ± 7.8 nodes There was only one case was reported with anastomotic leakage which was treated successfully with non-operation management There was zero case reported with postoperative mortality

Inclusion: The secondary stage laparoscopic tumor resection after depressurization by forming a temporary

colostomy is being proved as a not-too-complicated procedure, this might give a safe early outcome and provide surgeon an opportunity to follow the principles of oncologic surgery The patients from this study have a brief period of time struggling with the colostomy bag and may be offered the benefits of laparoscopy

Keywords: colorectal cancer, colonic obstruction, laparoscopy, colostomy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 3

trong các loại ung thư thường gặp trên thế

giới(3) Mỗi năm có thêm 1,65 triệu trường

hợp mắc mới và 835000 trường hợp tử vong

do ung thư đại trực tràng(3,4) Tắc ruột là một

trong những biến chứng thường gặp của ung

thư đại trực tràng chiếm tỉ lệ 7-29% các

trường hợp biến chứng của ung thư đại trực

tràng cần phẫu thuật cấp cứu(3,12) Điều trị tắc

ruột do ung thư, đặt biệt là ung thư đại tràng

trái và trực tràng còn nhiều tranh luận(4,5,9)

Các phương pháp điều trị ung thư đại tràng

trái hiện nay là phẫu thuật Hartman, cắt u

đưa 2 đầu ra làm HMNT, mở HMNT sau đó

cắt u thì 2, cắt đại tràng và nối ngay thì đầu

với rửa ruột hoặc không trong mổ Mới gần

đây là đặt stent qua chỗ tắc và thực hiện

phẫu thuật lần 2(2,5,10,17) Các phương pháp

phẫu thuật nối ngay thì đầu cho kết quả

phẫu thuật sớm tốt, tỉ lệ xì rò miệng nối

không khác biệt với cắt u thì 2(1,14) Tuy nhiên,

với kết quả lâu dài còn đang tranh luận

Với các bệnh nhân tắc ruột do ung thư

đại tràng trái và trực tràng, việc phẫu thuật

cắt u thì đầu dường như khó có thể thực hiện

phẫu thuật theo đúng tiêu chuẩn ung thư và

có nguy cơ bỏ sót những tổn thương khi đại

tràng có 2 hay nhiêu u kết hợp(2,17) Mở

HMNT trên dòng để giảm áp và thực hiện

phẫu thuật cắt u thì 2 với việc nạo hạch triệt

để như là một phương pháp làm cải thiện

tiên lượng sống cho việc điều trị(2,17) Ngày

nay, với sự phát triển của PTNS, phẫu thuật

cắt đại trực tràng nội soi được xem như là tiêu chuẩn điều trị Với ung thư đại tràng, phẫu thuật nội soi có thể nạo giúp hạch rộng rãi, cải thiện tiên lượng sống của bệnh nhân, đồng thời cũng thể hiện được kết quả sớm của phẫu thuật như giảm đau sau phẫu thuật, thời gian hồi phục sớm Đối với các trường hợp tắc ruột do ung thư đại tràng, việc mở HMNT trên dòng để chuyển lưu phân tạm thời đồng thời có thời gian để hồi sức cho bệnh nhân, đánh giá tình trạng bệnh

và chuẩn bị ruột trước khi phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng đã cho kết quả khá tốt so với các phương pháp mổ mở hay cắt u và nối ngay thì đầu(2,13,17)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn khảo sát tính khả thi của phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng thì 2 sau khi đã được mở HMNT chuyển lưu phân tạm thời, qua đó đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi trong điều trị tắc ruột do ung thư đại tràng trái và trực tràng Từ đó có thể có một quan điểm mới trong việc điều trị tắc ruột do ung thư đại tràng trái và trực tràng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân được nhập viện bệnh viện Bình vì tắc ruột do u đại tràng trái hoặc trực tràng Được phẫu thuật thì đầu mở HMNT trên dòng để chuyển lưu phân và được phẫu thuật nội soi cắt u thì 2

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân tắc ruột do ung thư đại trực

tràng có dấu hiệu viêm phúc mạc

Thời gian

Từ tháng 8/2017 – 11/2018

Phương pháp nghiên cứu

Tiến cứu, báo cáo loạt ca

Kỹ thuật

Bệnh nhân tắc ruột đều được chụp CT-Scan

để chẩn đoán nguyên nhân và xác định vị trí

tắc và loại trừ biến chứng thủng u

Ở thì đầu: bệnh nhân sẽ được mở HMNT

trên dòng gần chỗ u với 1 đường tại chỗ mở

HMNT Đoạn ruột dãn phía trên sẽ được đưa

ra ngoài làm HMNT chuyển lưu phân

1 tuần sau bệnh nhân sẽ được nội soi đại

trực tràng để xác định khối u, làm sinh thiết và

khảo sát toàn bộ khung đại trực tràng để loại

trừ có nhiều u

Thì 2: bệnh nhân sẽ được PTNS cắt khối u

đại trực tràng lập lại lưu thông ruột (thông

thường khoản 10-14 ngày sau phẫu thuật lần

1) Khi phẫu thuật sẽ áp dụng kỹ thuật cắt toàn

bộ mạc treo đại tràng (CME) hay cắt toàn bộ

mạc treo trực tràng (TME) tuỳ theo vị trí u Các

mạch máu chính sẽ được cột tận gốc Bệnh

phẩm sẽ được quan sát tính toàn vẹn của bao

mạc treo đại trực tràng, các hạch sẽ được phẫu

tích để đếm số lượng hạch nạo vét được và gửi

giải phẫu bệnh để xác định số hạch di căn

Các dữ liệu phân tích

Đặc điểm của bệnh nhân

Tuổi, giới tính, bệnh lý nội khoa đi kèm,

điểm ASA, vị trí u, vị trí mở HMNT

Đặc điểm của phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật mở HMNT, thời gian

phẫu thuật cắt u thì 2, thời gian giữa 2 lần phẫu

thuật, phương pháp phẫu thuật cắt u thì 2, số

ngày nằm viện, biến chứng của phẫu thuật

Đặc điểm mẫu bệnh phẩm

Số hạch nạo vét được

Các dữ liệu được thu thập sẽ được phân tích bằng phần mền SPSS

KẾT QUẢ

Từ tháng 8/2017 – 11/2018, có 10 bệnh nhân (6 nữ và 4 nam) tắc ruột do ung thư đại tràng trái được phẫu thuật cấp cứu làm HMNT chuyển lưu phân và sau đó phẫu thuật nội soi cắt u thì 2

Bảng 1: Đặc tính bệnh nhân

ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN (n=10)

Giới

Tuổi trung bình (Thấp nhất – Cao

nhất)

61,5 ± 15,1 tuổi (45 tuổi -87 tuổi) ASA: II

III

40%

60%

Bệnh lý nội khoa đi kèm:

Hô hấp Tim mạch Rối loạn nước điện giải

20%

40%

90%

Vị trí u: Góc lách Xuống Sigma Trực tràng

10%

20%

40%

30%

Vị trí mở HMNT Đại tràng ngang Đại tràng sigma

30%

70%

Loại phẫu thuật thì 2:

Cắt đại tràng trái Cắt trước Cắt trước thấp

30%

40%

60%

Bảng 2: Các đặc điểm liên quan đến phẫu thuật

Đặc điểm

Thời gian phẫu thuật

mở HMNT

44,4 ± 15,3 phút (ngắn nhất 30 phút – dài nhất 60 phút) Thời gian phẫu thuật

cắt u thì 2

247 ± 28,4 phút (ngắn nhất 200 phút – dài nhất 280 phút) Thời gian chờ giữa 2

lần phẫu thuật

11,2 ± 2,9 ngày (ngắn nhất 9 ngày –

dài nhất 11ngày)

Sso lượng hạch nạo vét

20.8 ± 7,8 hạch (ít nhất 15 hạch –

28 hạch)

Số trường hợp có hạch di căn

60%

Thời gian nằm viện 21,9 ± 3,6 ngày (18 ngày – 27 ngày)

Các bệnh nhân tắc ruột do ung thư đại trực tràng có tuôỉ trung bình cao (61,5 ± 15,1 tuổi)

Có đến 60% bệnh nhân có bệnh lý hô hấp hay tim mạch đi kèm, và hầu hết bệnh nhân tắc

Trang 4

ruột đều có rối loạn điện giải tại thời điểm tắc

ruột (90%)

Bảng 3: Biến chứng phẫu thuật

Biến chứng Tỉ lệ (n =10)

Nhiễm trùng vết mổ 60%

Tổn thương mạch máu lớn 0

Mang HMNT vĩnh viễn 0

Có 1 trường hợp ung thư đại tràng sigma

kèm theo polyp trực tràng cao to khoản 1,5cm

(giải phẫu bệnh là nghịch sản nặng) được cắt

đồng thời với phẫu thuật thì 2 và 1 trường hợp

ung thư trực tràng có polyp to 1,5cm ở đại

tràng ngang, được nội soi cắt polyp trước khi

phẫu thuật thì 2

Tất cả bệnh nhân đều được di động góc

lách trong quá trình phẫu thuật để tránh miệng

nối căng Tất cả các miệng nối đều thực hiện

bằng Băng đạn (trong đó 7 trường hợp thực

hiện miệng nối tận tận bằng Băng đạn vòng, 3

trường hợp thực hiện miệng nối bên – bên

bằng Băng đạn thẳng)

Có 1 trường hợp bệnh nhân được thực

hiện miệng nối bên – bên bằng băng đạn

thẳng có rò miệng nối vào ngày hậu phẫu thứ

7 Chỗ dò khu trú ra thành bụng ngay vị trí

đã mở HMNT Bệnh nhân được điều tị bảo

tồn và chố rò tự đóng lại ở ngày hậu phẫu

thứ 14

BÀN LUẬN

Trong điều trị tắc ruột do ung thư đại

tràng trái và trực tràng cho đến nay vẫn còn

nhiều tranh luận, chưa đưa ra một ý kiến

thống nhất về các phương pháp điều trị(4)

Hiện nay, có 2 ý kiến trong việc điều trị tắc

ruột do ung thư đại tràng trái và trực tràng

Đó là phẫu thuật cắt u ngay thì đầu (cắt u nối

ngay, hoặc phẫu thuật Hảtman) và phẫu

thuật trì hoãn (mở HMNT trên dòng hay đặt

Stent để giải áp, sau đó cắt u thì 2) Trong báo

cáo của Emma Öistämö(13) về phẫu thuật điều

trị tắc ruột do ung thư đại tràng từ năm 1997

-2013, tỉ lệ tử vong sớm sau phẫu thuật ở

nhóm cắt u thì đầu (12%) cao hơn so với nhóm phẫu thuật trì hoãn (0%) và nhóm phẫu thuật thì đầu có tỉ lệ phải mang HMNT vĩnh viễn cao hơn (35% so với 21%) Jiang(8) u

so sánh giữa 2 nhóm phẫu thuật cắt u thì đầu

và phẫu thuật trì hoãn ở 143 bệnh nhân ung thư đại tràng trái trực tràng, nhóm cắt u thì đầu có tỉ lể xì rò miệng nối (10.9% so với 1,1%) và tử vong cao (7,5% so với 1,1%) hơn nhóm phẫu thuật trì hoãn Tỉ lệ mang HMNT vĩnh viễn cũng cao hơn ở nhóm cắt u thì đầu (12,2% so với 3,4%) Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có tỉ lệ tử vong sau mổ Khoảng 60% bệnh nhân nhập viện trong tình trạng cấp cứu có các bệnh lý liên quan về tim mạch và hô hấp (thiếu máu cơ tim, viêm phổi, hen phế quản) và 90% bệnh nhân có rối loạn nước điện giải Các bệnh nhân này được phẫu thuật mở HMNT tại chỗ với thời gian phẫu thuật ngắn ( trung bình 44,4 phút) và xâm lấn tối thiếu nên giảm phần nào nguy cơ phẫu thuật cho bệnh nhân Trong quá trình đợi phẫu thuật thì 2, các bệnh nhân được điều chỉnh các rối loạn về nội khoa để chuẩn

bị an toàn cho cuộc mổ Có thể điều này làm giảm nguy cơ biến chứng cho bệnh nhân ở lần mổ sau

Lợi ích của PTNS trong phẫu thuật ung thư đại trực tràng so với mổ mở đã được chưang minh bởi nhiều nghiên cứu với lợi ích về thẩm

mỹ, giảm đau sau mổ, thời gian họat động của ruột sớm hơn và thời gian hồi phục sớm hơn(11,15) Tuy niên, PTNS đại trực tràng cho những bệnh nhân đã từng có phẫu thuật ở vùng bụng trước đó vẫn còn là một vấn đề khó khăn bởi phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của phẫu thuật viên Năm 2013, Masashi Yamamoto và cộng sự(18) đã so sánh 2 nhóm PTNS cho các bệnh nhân ung thư đại tràng không có phẫu thuật vùng bụng trước đó và có phẫu thuật vùng bụng trước đó, tác giả nhận thấy không có sự khác biệt về kết quả sớm của phẫu thuật giữa 2 nhóm cũng như khả năng chuyển mổ mở của 2 nhóm Tác giả kết luận,

Trang 5

PTNS cắt đại trực tràng cho những bệnh nhân

có phẫu thuật vùng bụng trước đó có thể chấp

nhận được, và cho kết quả tốt Trong báo cáovề

PTNS cắt u đại trực tràng sau khi mở HMNT

giải áp trên dòng, Jui-Ho Wang và cộng sự(17)

nhận thấy, dính trong ổ bụng rất ít chủ yếu là

xung quanh HMNT và không làm ảnh hưởng

nhiều đến quá trình phẫu thuật Tương tự như

vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi, khi PTNS lại cho bệnh nhân sau mở HMNT giải áp với đường vào nhỏ tại chỗ thì ổ bụng của bệnh nhân dính rất ít, chủ yếu là mạc nối lớn đến bám dính ở chỗ mở HMNT và việc gỡ dính này không quá khó khăn, không ảnh hưởng nhiều đến cuộc phẫu thuật và không có bệnh nhân nào phải chuyển mổ mở vì dính trong ổ bụng

Hình 1: HMNT ở hố chậu trái và mạc nối lớn bám dính xung quanh HMNT

Theo Jui-Ho Wang(17), thời gian tốt nhất cho

phẫu thuật cắt u thì 2 sau khi mở HMNT là sau 2

tuần (từ 14 – 20 ngày) vì nếu phẫu thuật sớm thì

vùng quanh HMNT vẫn chưa vững chắc và khi

bơm hơi có thể làm tụt HMNT vào ổ bụng

Trong báo cáo này, chúng tôi thực hiện phẫu

thuật cắt u thì 2 từ ngày thứ 10 – ngày thứ 14

Chúng tôi nhận thấy các trường hợp mổ sớm

hơn 10 ngày, đoạn đại tràng trên chỗ tắc vẫn còn

dãn to, thành ruột còn phù nề nhiều, nên việc

chọn lựa Băng đạn cho miệng nối cần to hơn (sử

dụng Băng đạn vòng 31mm đến 33mm)

So sánh kết quả về mặt ung thư học giữa

nhóm phẫu thuật cắt u thì đầu và phẫu thuật trì

hoãn, nhiều báo cáo nhận thấy thời gian sống

lâu dài của phẫu thuật cắt u thì 2 tốt hơn so với

cắt u thì đầu(2,13,16) Trong những năm cuối thế kỷ

20, sự chấp nhận của kỹ thuật CME (cắt toàn bộ

mạc treo đại tràng) hay TME ( cắt toàn bộ mạc

treo trực tràng) đã cải thiện tỉ lệ sống lâu dài của

bệnh nhân(6,7) Kỹ thuật này sẽ lấy toàn bộ mạc

treo quanh đại tràng hay trực tràng, không làm phá vỡ bao mạc treo đại tràng, đồng thời nạo vét được một cách tối đa các hạch vùng Kỹ thuật này rất khó thực hiện trong tình trạng tắc ruột(8,13) Öistämö E và cộng sự(13) thấy rằng với phẫu thuật nội soi cắt u thì 2 thì số hạch nạo vét được nhiều hơn so với phẫu thuật cắt u thì đầu (21 hạch so với 7,1 hạch) Đây là yếu tố tiên lượng chính, làm ảnh hưởng đến thời gian sống còn của bệnh nhân Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện kỹ thuật CME hoặc TME (tuỳ theo vị trí u), số lượng hạch nạo vét được 20.8 ± 7,8 hạch (ít nhất 15 hạch – 28 hạch) Trong

số này có đến 60% bệnh nhân có di căn hạch vùng Nạo vét hạch vùng tốt sẽ giúp đánh giá giai đoạn ung thư chính xác và có thái độ điều trị

hỗ trợ sau phẫu thuật tốt, làm tăng thời gian sống còn của bệnh nhân

KẾT LUẬN

PTNS cắt u thì 2 sau khi mở HMNT trên

Trang 6

dòng để chuyển lưu phân ở những bệnh nhân

tắc ruột do ung thư đại tràng trái và trực tràng

có thể thực hiện dễ dàng vì ổ bụng dính một

cách tối thiểu, tỉ lệ biến chứng và tử vong sau mổ

thấp Phương pháp này giúp đạt được kết quả

ung thư học tốt, có thể giúp cải thiện tiên lượng

sống lâu dài của bệnh nhân Tuy số liệu còn hạn

chế, nhưng cũng sẽ góp phần có một cách tiếp

cận mới trong điều trị tắc ruột do ung thư đại

tràng trái và trực tràng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Awotar GK, Guan G, Sun W, Yu H et al (2017) Reviewing the

Management of Obstructive Left Colon Cancer: Assessing the

Feasibility of the One-stage Resection and Anastomosis After

Intraoperative Colonic Irrigation Clin Colorectal Cancer,

vol.16, no.2, pp.e89–e103

2 Chereau N, Lefevre JH, Lefrancois M, Chafai N, Parc Y, and

Tiret E (2013) Management of malignant left colonic

obstruction: is an initial temporary colostomy followed by

surgical resection a better option? Colorectal Dis, vol.15, no.11,

pp.e646-53

3 Fitzmaurice C, Allen C, Barber RM, Barregard L et al (2017)

Global, regional, and national cancer incidence, mortality,

years of life lost, years lived with disability, and

disability-adjusted life-years for 32 cancer groups, 1990 to 2015: A

Systematic Analysis for the Global Burden of Disease Study

Global Burden JAMA Oncol, vol.3, no.4, pp: 524–548

4 Frago R, Ramirez E, Millan M, Kreisler E, Del Valle E and

Biondo S (2014) Current management of acute malignant

large bowel obstruction: A systematic review Am J Surg.,

vol 207, no.1, pp.127–138

5 Grundmann RT (2013) Primary colon resection or

Hartmann’s procedure in malignant left-sided large bowel

obstruction? The use of stents as a bridge to surgery World J

Gastrointest Surg, vol 5, no.1, pp.1–4

6 Heald RJ, Husband EM, and Ryall RDH (1982) The

mesorectum in rectal cancer surgery??? the clue to pelvic

recurrence? Br J Surg, vol.69, no.10, pp.613–616

7 Hohenberger W, Weber K, Matzel K, Papadopoulos T, and

Merkel S (2009) Standardized surgery for colonic cancer:

Complete mesocolic excision and central ligation - Technical

notes and outcome Color Dis, vol.11, no.4, pp.354–364,

8 Jiang JK, Lan YT, Lin TC, Chen WS, et al (2008) Primary vs

delayed resection for obstructive left-sided colorectal cancer:

Impact of surgery on patient outcome Dis Colon Rectum,

vol.51, no.3, pp.306–311

9 Lee YM, Law WL, Chu KW, and Poon RT (2001) Emergency surgery for obstructing colorectal cancers: a comparison

between right-sided and left-sided lesions J Am Coll Surg.,

vol 192, no.6, pp.719–725

10 Min CK, Kim HO, Lee D, Jung KU et al (2016) Obstructive Left Colon Cancer Should Be Managed by Using a Subtotal

Colectomy Instead of Colonic Stenting Ann Coloproctol.,

vol.32, no.6, pp.215–220

11 Nishiguchi K, Okuda J, Toyoda M, Tanaka K, and Tanigawa

N (2001) Comparative evaluation of surgical stress of

laparoscopic and open surgeries for colorectal carcinoma Dis

Colon Rectum, vol.44, no.2, pp.223–230

12 Ohman U (1982) Prognosis in patients with obstructing

colorectal carcinoma Am J Surg, vol 143, no.6, pp.742–747

13 Öistämö E, Hjern F, Blomqvist L, Falkén Y, Pekkari K, and Abraham-Nordling M ( 2016) Emergency management with resection versus proximal stoma or stent treatment and planned resection in malignant left-sided colon obstruction

World J Surg Oncol, vol.14, no.1, pp.1–7

14 Sasaki K, Kazama S, Sunami E, Tsuno NH et al (2012) One-stage segmental colectomy and primary anastomosis after intraoperative colonic irrigation and total colonoscopy for patients with obstruction due to left-sided colorectal cancer

Dis Colon Rectum, vol.55, no.1, pp.72–78

15 Schwenk W, Haase O, Neudecker J, and Muller JM (2005) Short term benefits for laparoscopic colorectal resection

Cochrane database Syst Rev, no.3, p.CD003145

16 Wang C (2017) Safety, quality and effect of complete

mesocolic excision vs non-complete mesocolic excision in

patients with colon cancer: a systemic review and

meta-analysis Color Dis, vol.19, no.11, pp.962–972

17 Wang JH, Kung YH, King TM, Chang MC, and Hsu CW (2015) Comparison of laparoscopic versus open surgery in a three-stage operation for obstructive left-sided colorectal

cancer J Chinese Med Assoc, vol.78, no.10, pp.584–590

18 Yamamoto M, Okuda J, Tanaka K, Kondo K, Asai K et al (2013) Effect of previous abdominal surgery on outcomes

following laparoscopic colorectal surgery Dis Colon Rectum,

vol.56, no.3, pp.336–342

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 18:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w