1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị và theo dõi sau phẫu thuật ung thư biểu mô tế bào thận

6 90 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 285,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam vẫn còn ít công trình nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị dài hạn của ung thư biểu mô tế bào thận (RCC). Do đó hiện còn thiếu số liệu về kết quả lâu dài sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp: Bệnh nhân RCC được phẫu thuật trước tháng 10/2015 được tái khám theo dõi nhằm xác định kết quả điều trị ngắn hạn và tỷ lệ sống sau phẫu thuật.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ THEO DÕI SAU PHẪU THUẬT

UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO THẬN

Trần Ngọc Sinh*, Phan Thành Thống*

TÓM TẮT

Mở đầu: Tại Việt Nam vẫn còn ít công trình nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị dài hạn của ung thư biểu

mô tế bào thận (RCC) Do đó hiện còn thiếu số liệu về kết quả lâu dài sau phẫu thuật

Đối tượng và phương pháp: Bệnh nhân RCC được phẫu thuật trước tháng 10/2015 được tái khám theo

dõi nhằm xác định kết quả điều trị ngắn hạn và tỷ lệ sống sau phẫu thuật

Kết quả: Kết quả nghiên cứu trên 193 trường hợp ghi nhận: Tuổi trung bình là 52,38 ± 14,14, tỷ lệ nam/nữ là 1,25 Đa số các trường hợp (72,5%) vào viện vì có triệu chứng lâm sàng Các trường hợp vào viện với giai đoạn trễ còn cao, cụ thể: giai đoạn 1 chiếm 51,8%, giai đoạn 2 chiếm 29,5%, giai đoạn 3 chiếm 13%, giai đoạn 4 chiếm 8,8% Có 149/193 TH (77,2%) được chỉ định cắt thận tận gốc, 44/149 TH (22,8%) được cắt một phần thận Tai biến phẫu thuật chủ yếu là chảy máu cần truyền máu chiếm 8,3% Tỷ lệ sống 5 năm lần lượt là là 93,9%, 84,5%, 71,5%, 27,3% cho các giai đoạn từ 1 đến 4

Kết luận: Điều trị RCC chủ yếu là phẫu thuật, vì vậy việc phát hiện sớm bệnh bằng siêu âm định kỳ mỗi

năm và chỉ định cắt một phần thận đem lại kết quả lâu dài về tỷ lệ sống và chức năng thận

Từ khóa: ung thư biểu mô tế bào thận, tỷ lệ sống còn ung thư biểu mô tế bào thận

ABSTRACT

ASSESSMENT OF TREATMENT RESULTS AND FOLLOW-UP MONITORING AFTER RENAL CELL

CARCINOMA SURGERY

Tran Ngoc Sinh, Phan Thanh Thong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 27-32

Introduction: In Vietnam, there were still few studies evaluating the long-term outcome of RCC As a

result, there was a lack of data on long-term outcome after surgery

Material and method: Patients with RCC who underwent surgery before 10/2015 would have follow-up

visits to determine the short-term outcome and post-operative survival

Results: Results of the study were 193 cases: mean age was 52.4 ± 14.1, male / female ratio was 1.25 Most

cases (72.5%) were hospitalized because of clinical symptoms Cases with renal cell carcinoma hospitalized at late stages were rather high, specifically: stage 1 accounted for 51.8%, stage 2 accounted for 29.5%, stage 3 accounted for 13%, stage 4 accounted for 8.8% There were 149/193 cases (77.2%) were radical nephrectomy, 44/149 cases (22.8%) were partial nephectomy The major surgical complication was bleeding requiring a blood transfusion (8.3%) The 5-year survival rates were 93.9%, 84.5%, 71 %, 27.3% for the stages from 1 to 4, respectively

Conclusion: Treatment of RCC is mainly surgical, so early detection by periodic ultrasound every year and

indication for partial nephrectomy to results in long-term survival and renal function

Key words: renal cell carcinoma, survival rate of renal cell carcinoma

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư biểu mô tế bào thận chiếm khoảng

3% ung thư của người lớn và 90-95% ung thư xuất phát từ thận Cho đến nay, mặc dù có

*Bộ môn Tiết niệu ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Phan Thành Thống ĐT: 0987797171 Email: phanthanhthong2009@gmail.com

Trang 2

nhiều tiến bộ của liệu pháp trúng đích điều trị

ung thư biểu mô tế bào thận (RCC) nhưng

phẫu thuật vẫn là biện pháp chữa khỏi duy

nhất và có vai trò trong tất cả các giai đoạn

bệnh(8) Tại Việt Nam nói chung và tại Thành

phố Hồ Chí Minh nói riêng, nhiều tác giả đã

nghiên cứu và báo cáo về RCC Tuy nhiên các

công trình nghiên cứu tại Việt Nam cho đến

nay chủ yếu đánh giá về chẩn đoán, kỹ thuật

mổ, tỷ lệ tai biến biến chứng và kết quả sớm

sau phẫu thuật Vẫn còn ít công trình nghiên

cứu đánh giá kết quả điều trị dài hạn của RCC

Điều đó dẫn đến thiếu số liệu cho việc tiên

lượng sau điều trị RCC tại Việt Nam Vấn đề

đặt ra là: Tỷ lệ sống còn sau điều trị ung thư tế

bào thận là bao nhiêu? Xuất phát từ tình hình

đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá

kết quả điều trị phẫu thuật và theo dõi sau mổ

ung thư tế bào thận” với các mục tiêu sau:

Xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

và các chỉ định điều trị của bệnh nhân ung thư tế

bào thận tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định và

bệnh viện Chợ Rẫy

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật và theo

dõi sau phẫu thuật của bệnh nhân ung thư tế

bào thận tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định và

bệnh viện Chợ Rẫy

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt trường hợp (TH)

Tiêu chuẩn chọn vào

Bệnh nhân (BN) được chẩn đoán ung thư

thận, điều trị bằng phẫu thuật tại bệnh viện

Nhân Dân Gia Định và bệnh viện Chợ Rẫy

trước tháng 10 năm 2015 Kết quả giải phẫu

bệnh là RCC

Tiêu chuẩn loại trừ

Các TH hồ sơ không đầy đủ thông tin cần

thiết, BN không đồng ý tham gia nghiên cứu, BN

với bướu thận 2 bên

Định nghĩa các biến số chính

Thời gian sống còn toàn bộ

Được tính từ lúc BN được phẫu thuật đến khi BN chết vì lý do ung thư

Bệnh tái phát

Sự di căn được xác định bằng CT scan đã có trước hoặc được chụp khi BN tái khám TH không được cắt sạch bướu (cả nguyên phát và thứ phát) lúc mổ thì không được tính là tái phát

Các bước tiến hành

Tiến hành tiếp cận hồ sơ và thu thập số liệu cần thiết Liên lạc với BN bằng điện thoại, thư hay trực tiếp đến nhà BN nếu hai kênh liên lạc kia không sử dụng được Sau khi liên lạc được với BN chúng tôi sẽ thu thập thêm một số thông tin cần thiết và hẹn BN tái khám nếu BN còn sống BN sẽ được xét nghiệm máu, chụp X-quang ngực thẳng và siêu âm bụng tổng quát để khảo sát sự di căn của bệnh ở thời điểm hiện tại Nếu kết quả siêu âm bụng hay X-quang phổi có dấu nghi ngờ ung thư di căn thì BN sẽ được chụp CT scan bụng hay CT scan ngực tùy tình trạng nhằm khảo sát chính xác sự di căn Trong trường hợp BN đã chết, chúng tôi xác định nguyên nhân chết có phải do RCC hay do nguyên nhân khác và xác định thời điểm chết, thời gian sống không ung thư, các phương pháp điều trị hỗ trợ và cơ quan di căn

KẾT QUẢ

Từ năm 2012 đến 10/2015 có 193 TH được đưa vào nghiên cứu

Đặc điểm chung dân số nghiên cứu

Tuổi trung bình là 52,38 ± 14,14 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,25 Về tiền căn có 54/193 TH (28%) hút thuốc lá, 78/193 TH (40,4%) kèm thừa cân béo phì, tăng huyết áp 68/193 TH (35,2%)

Triệu chứng lâm sàng

51/193 TH (26,4%) không có triệu chứng lâm sàng mà chỉ nhập viện vì tình cờ phát hiện bướu Các TH còn lại đều có triệu chứng, trong đó chỉ

có triệu chứng đau hông lưng là 87/193 TH (45,1%), chỉ có tiểu máu 16/193 TH (8,3%), không

có TH nào chỉ phát hiện thận to đơn thuần Có 27/193 TH (14%) vừa đau hông lưng vừa tiểu

Trang 3

máu, 12 TH (6,2%) có đủ tam chứng: đau hông

lưng, tiểu máu, thận to

Đặc điểm cận lâm sàng

Có 11/193 TH (5,7%) không phát hiện ra

bướu thận bằng siêu âm Kích thước bướu qua

MSCT trung bình là 6,2 ± 3,4cm, bướu thận

nhỏ nhất 2,4cm, lớn nhất 20cm Có 24,9% bướu

có kích thước ≤ 4cm, 28,5% bướu có kích thước

> 4cm và ≤ 27,4% bướu có kích thước > 7cm và

≤ 10, 19,2% bướu có kích thước > 10cm Trong

quá trình chẩn đoán có sự khác biệt về giai

đoạn trước và sau mổ, cụ thể: trước mổ giai

đoạn 1 là 51,8%, sau mổ là 49,7%, trước mổ

giai đoạn 2 là 29,5% sau mổ là 23,3%, trước mổ

giai đoạn 3, 4 lần lượt là 13% và 8,8%, sau mổ

lần lượt là 18,1% và 8,8%

Về giải phẫu bệnh

Đa số các trường hợp RCC là dạng tế bào

sáng 65,8%, dạng kỵ màu 17,1%, dạng nhú

10,4% Phân độ mô học theo Fuhrman ghi

nhận Fuhrman 1 chiếm 22,8%, Fuhrman 2

chiếm 62,2%, Fuhrman 3 chiếm 13,5%,

Fuhrman 4 chiếm 1,5%

Chỉ định điều trị

Có 149/193 TH (77,2%) được chỉ định cắt

thận tận gốc, trong 63,7% được chỉ định mổ mở

và 13,5% mổ nội soi Mặt khác 44/193 TH (22,8%)

được chỉ định cắt một phần thận với 12,4% mổ

mở và 10,4% mổ nội soi Trong các TH cắt một

phần thận thì giai đoạn T1a chiếm 32/44 TH

(72,2%), T1b 12/44 TH (27,8%)

Kết quả điều trị sớm

Thời gian mổ trung bình cho 193 TH là 137,3

± 47,8 phút Thời gian hậu phẫu trung bình là 7,1

± 5,9 ngày Lượng máu mất trung bình là 196,5 ±

313,5ml, nhiều nhất là 3000ml Tai biến phẫu

thuật chủ yếu là chảy máu cần truyền máu

chiếm 8,3%, thủng phúc mạc (4,1%), tổn thương

đại tràng (1,6%), thủng mang phổi (1,6%), mổ lại

lần 2 (1,6%), tổn thương lách (1%), tổn thương

tĩnh mạch chủ (1%) Không có trường hợp nào

tử vong do phẫu thuật

Kết quả theo dõi sau phẫu thuật

Chúng tôi theo dõi được 124/193 TH Trong

đó tử vong 24 TH, có 2 TH chết do nguyên nhân khác (1 do viêm phổi và 1 do biến chứng chạy thận) Tất cả 122 TH đều được theo dõi từ 3 năm trở lên, có 54 TH theo dõi trên 5 năm Thời gian sống trung bình tính trên 122 TH theo dõi được

là 51,1 ± 17,8 tháng, ngắn nhất là 4 tháng, dài nhất là hơn 80 tháng

Bảng 1: Tỷ lệ sống còn theo giai đoạn

Thời gian theo dõi

Tỷ lệ sống (%) Giai đoạn 1

(N= 50)

Giai đoạn 2 (N= 35)

Giai đoạn

3 (N= 26)

Giai đoạn 4 (N= 11)

2 năm 100 94,2 92,3 45,5

4 năm 93,9 84,5 80,4 27,3

5 năm 93,9 84,5 71,5 27,3

> 5 năm 93,9 84,5 71,5 27,3

Bảng 2: Tỷ lệ tái phát theo giai đoạn

Thời gian theo dõi

Tỷ lệ tái phát (%) Giai đoạn 1

(N= 50)

Giai đoạn 2 (N= 35)

Giai đoạn

3 (N= 26)

Giai đoạn 4 (N= 11)

4 năm 6,1 15,5 19,6 72,7

5 năm 6,1 15,5 28,5 72,7

> 5 năm 6,1 15,5 28,5 72,7

Có 22 TH di căn, trong đó có 10/22 TH (45,5%) di căn ở một cơ quan, 10/22 TH (45,5%)

di căn từ 2 cơ quan trở lên, 2/22 TH (9,1%) không rõ cơ quan di căn Trong các cơ quan di căn phổi là cơ quan di căn thường gặp nhất trong RCC chiếm 10/22 TH (45,5%), xương chiếm 4/22 TH (18,2%), hạch 4/22 TH (18,2%), phúc mạc, tại chỗ 13,6%, gan 13,6% Ngoài ra còn ghi nhận di căn ở một số cơ quan như: não, tuyến thượng thận, thận đối bên Không

có TH nào được ghi nhận tái phát tại thận sau phẫu thuật cắt một phần thận Thời gian sống trung bình là 5,2 ± 3,2 tháng, thời gian sống ngắn nhất là 2 tháng, thời gian sống lâu nhất là

16 tháng

Trang 4

Nhóm cắt thận tận gốc có độ lọc cầu thận

ước tính trước phẫu thuật là 75 ± 21

(ml/phút/1,73m2), sau phẫu thuật là 63,8 ±19,7

(ml/phút/1,73m2), giảm 11,1 (ml/phút/1,73m2) Sự

thay đổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Nhóm

cắt một phần thận có độ lọc cầu thận ước tính

trước phẫu thuật là 84,9 ± 25,6 (ml/phút/1,73m2),

sau phẫu thuật là 80,67 ± 24,5 (ml/phút/1,73m2),

giảm 4,2 (ml/phút/1,73m2) Sự thay đổi có ý

nghĩa thống kê với p < 0,05

BÀN LUẬN

Dân số nghiên cứu với nam chiếm chủ yếu,

tỷ lệ nam/nữ là 1,25 Tuổi trung bình là 52,38 ±

14,14 tuổi Kết quả này phù hợp với y văn và

các nghiên cứu trong và ngoài nước Đa số các

TH vào viện vì có triệu chứng lâm sàng cho

thấy hầu hết vào viện với giai đoạn trễ của

bệnh Tất cả các TH trong nghiên cứu đều

được thực hiện đầy đủ các cận lâm sàng để

chẩn đoán trước mổ, trong đó siêu âm là

phương tiện đầu tay để tầm soát và chẩn đoán

ban đầu bướu thận Tuy nhiên siêu âm chỉ có

thể phát hiện 85% các bướu có kích thước lớn

hơn 3cm và 60% các bướu nhỏ hơn 2cm và phụ

thuộc nhiều vào người thực hiện và bị nhiều

yếu tố nhiễu Trong nghiên cứu của chúng tôi

100% đều được siêu âm chẩn đoán trước và có

11/193 TH được ghi nhận bình thường trên

siêu âm chiếm 5,7% Những TH này thường

bướu có kích thước nhỏ hay BN có BMI cao

Như vậy siêu âm là phương tiện tốt để tầm

soát RCC với độ nhạy 182/193 (94,3%) Chúng

tôi đề nghị siêu âm định kỳ mỗi năm để tầm

soát bệnh

Theo nghiên cứu của chúng tôi giai đoạn

TNM trước và sau phẫu thuật có sự khác biệt

Nhìn chung ở giai đoạn 1, 2 thì CT scan có xu

hướng chẩn đoán nhiều hơn so với thực tế Còn

ở giai đoạn 3, 4 thì CT scan có xu hướng chẩn

đoán ít hơn so với thực tế Sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê với p < 0,05 Có nhiều nguyên

nhân dẫn đến sự khác biệt đó vì vậy để hạn chế

sự sai sót trong chẩn đoán giai đoạn trước mổ

bác sĩ lâm sàng cần đọc kĩ phim và hội chẩn với bác sĩ chẩn đoán hình ảnh khi cần thiết

Về kết quả giải phẫu bệnh so với các nghiên cứu trong nước thì tỷ lệ các loại tế bào trong RCC có phần tương đồng, tuy nhiên so với các nghiên cứu ngoài nước ta thấy tỷ lệ RCC dạng tế bào sáng chiếm tỷ lệ thấp hơn và

tỷ lệ RCC dạng ưa màu chiếm tỷ lệ cao hơn so với các nghiên cứu ngoài nước Theo nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ RCC dạng tế bào sáng chiếm 65,8% thấp hơn một số nghiên cứu ngoài nước: Cherry Kim và cộng sự (2014)(3) là 83,4%, Beisland C và cộng sự (2017)(2) là 82,6%

Sự khác biệt này dẫn đến kết quả khác nhau về điều trị RCC di căn xa bằng liệu pháp miễn dịch hoặc trúng đích Trong thực tế lâm sàng, người ta nhận thấy trong RCC, các BN mắc RCC dạng tế bào sáng sẽ có tiên lượng kém hơn các dạng ung thư dạng nhú và dạng ưa màu

Theo nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ sống 5 năm sau phẫu thuật của BN giai đoạn 1 là 93,9%, giai đoạn 2 là 84,5%, giai đoạn 3 là 71,5%, giai đoạn 4 là 27,3% Sau 5 năm tỷ lệ sống theo các giai đoạn không thay đổi Nhìn chung tỷ lệ sống 5 năm theo nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thế Trường (2005)(9) nghiên cứu 108 TH ghi nhận

tỷ lệ sống 5 năm lần lượt là 93,47%, 76%, 65,21%, 14,28% cho các giai đoạn từ 1 đến 4 và nghiên cứu của Kaisa L (2009)(7) với cỡ mẫu

982 TH có tỷ lệ sống 5 năm là 88%, 63%, 65%, 15% So với nghiên cứu của tác giả Hounsome

L (2014)(4) thì tỷ lệ sống của chúng tôi thấp hơn: giai đoạn 1 là 97%, giai đoạn 2 là 96%, giai đoạn 3 là 87%, giai đoạn 4 là 15% Nhìn chung không có sự khác biệt nhiều về tỷ lệ sống 5 năm theo giai đoạn của các tác giả Tuy nhiên tỷ lệ sống 5 năm ở các giai đoạn theo nghiên cứu của chúng tôi có phần cao hơn các tác giả khác Đặc biệt ở giai đoạn 4 là 27,3%

Hounsome L và cộng sự (2014)(4) 15%, Kaisa L

và cộng sự (2009)(7) 15% Điều đó cho thấy kết

Trang 5

quả điều trị lâu dài RCC tại Việt Nam có thể so

sánh với các nước phát triển Đặc biệt các

trường hợp trong nghiên cứu đều không được

điều trị gì sau phẫu thuật Điều đó cho thấy

kết quả sống còn của RCC chủ yếu do phẫu

thuật quyết định và phẫu thuật giai đoạn sớm

có tiên lượng tốt nhất

Chúng tôi tiến hành phân tích tỷ lệ tái phát

RCC theo giai đoạn ghi nhận: Sau phẫu thuật 1

năm, giai đoạn 1 và giai đoạn 2 không có TH nào

tái phát Giai đoạn 3 có tỷ lệ tái phát là 7,7%, giai

đoạn 4 tái phát 27,3% Sau 3 năm phẫu thuật tỷ

lệ tái phát lần lượt là 2%, 5,8%, 19,6%, 72,7% cho

các giai đoạn từ 1 đến 4 Sau 5 năm phẫu thuật tỷ

lệ tái phát lần lượt là 6,1%, 15,5%, 28,5%, 72,7%

cho các giai đoạn từ 1 đến 4 Sau thời gian 5 năm

không ghi nhận tái phát thêm ở tất cả các giai

đoạn Sự khác biệt giữa các giai đoạn có ý nghĩa

thống kê với p < 0,001 Tỷ lệ này có phần thấp

hơn so với tác giả Arnold L (2006)(1) với tỷ lệ tái

phát sau 5 năm lần lượt là: 9%, 26%, 33%, 68%

cho các giai đoạn từ 1 đến 4

Theo y văn tái phát sau phẫu thuật điều trị

RCC phát triển với một tỷ lệ khá cao, chủ yếu do

di căn vi thể tiềm ẩn Tính chung, di căn xa phát

triển ở 20-35% và tái phát tại chỗ từ 2-5% các BN

Di căn phổi là vị trí hay gặp nhất của tái phát ở

xa, xảy ra ở 50-60% các BN(6) Theo nghiên cứu

của chúng tôi phổi là cơ quan di căn hay gặp

nhất chiếm 45,5%, kế đến là xương 18,2%, hạch

18,2%, phúc mạc, tại chỗ 13,6%, gan 13,6%

Ngoài ra còn ghi nhận di căn ở một số cơ quan

như: não 9,1%, thận đối bên 4,5%, tuyến thượng

thận 4,5% Không có TH nào tái phát tại thận sau

phẫu thuật cắt một phần thận điều đó càng ủng

hộ chỉ định cắt một phần thận khi có chỉ định

Trong 22 TH di căn sau phẫu thuật, thời gian

sống trung bình là 5,2 ± 3,2 tháng, thời gian sống

ngắn nhất là 2 tháng, thời gian sống lâu nhất là

16 tháng Tất cả 100% các TH đều được điều trị

giảm nhẹ sau khi tái phát, không có TH nào

được điều trị liệu pháp trúng đích và được phẫu thuật lần 2 do ung thư di căn Thời gian sống trung bình sau tái phát của chúng tôi ngắn hơn

so với kết quả nghiên cứu của tác giả Scott E và cộng sự (2006) là 27 tháng(10) Sự khác biệt do trong nghiên cứu của chúng tôi đa số không được điều trị hỗ trợ sau di căn Mặt khác các TH tái phát trong nghiên cứu của chúng tôi đa số thuộc nguy cơ cao nên thời gian sống sau khi tái phát còn ngắn

Giống như tất cả các cơ quan khác trên cơ thể, thận cũng bị lão hóa theo thời Theo tác giả Jessica R Weinstein và Sharon Anderson (2010) ghi nhận độ lọc cầu thận giảm khoảng 8 (ml/phút/1,73m2) sau 10 năm đối với mọi lứa tuổi(5) BN RCC sau phẫu thuật cắt thận tận gốc hay cắt một phần thận thì chức năng thận ngoài việc bị ảnh hưởng bởi quá trình lão hóa thận còn

bị ảnh hưởng bởi sự mất các nephron Kết quả nghiên cứu cho thấy cắt một phần thận bảo tồn chức năng thận tốt hơn cắt thận tận gốc Kết quả này cũng đã được nhiều nghiên cứu chứng minh

và đưa ra khuyến cáo ưu tiên cắt một phần thận khi có chỉ định để bảo tồn chức năng thận sau phẫu thuật

KẾT LUẬN

Điều trị ung thư biểu mô tế bào thận chủ yếu

là phẫu thuật, vì vậy việc phát hiện sớm bệnh bằng siêu âm định kỳ mỗi năm và chỉ định cắt một phần thận đem lại kết quả lâu dài về tỷ lệ

sống và chức năng thận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arnold L, John L, Robert A (2006), “Surveillance Strategies for

Renal Cell Carcinoma Patients Following Nephrectomy”, Rev Urol, Vol 8(1), pp 1-7

2 Beisland C, Johannesen T, Olbjorn KO, et al (2017), “Overall survival in renal cell carcinoma after introduction of targeted

therapies: a norwegian population-based study”, OncoTargets and Terapy, Vol 10, pp 371-385

3 Cherry K, Choi HJ, Cho KS (2014), “Diagnostic value of multidetector computed tomography for renal sinus fat

invasion in renal cell carcinoma patients”, European Journal of Radiology, Vol 83, pp 914-918

Trang 6

4 Hounsome L, Matthew L, Verne J (2014), “Kidney Cancer:

Survival Report”, The National Cancer Intelligence Network,

pp.1-17

5 Jessica R, Anderson S (2010), “The Aging Kidney:

Physiological Changes”, Advances in Chronic Kidney Disease,

Vol 17(4), pp 302-307

6 John K, Mandalapu K (2017), “Outcomes of Patients With

Late-Relapse Metastatic Renal Cell Carcinoma Treated With

Targeted Therapies: A Single Institution Experience”, Ochsner

Journal, Vol 17(3), pp 331-334

7 Kaisa L, Sunela J, Matti J, et at (2009), “Prognostic factors and

long-term survival in renal cell cancer patients”, Scandinavian

Journal of Urology and Nephrology, Vol 43, pp 454-460

8 Konety BR, Vaena DA, Williams RD (2013), “Renal

parenchymal neoplasms”, Smith’s general urology 18th ed,

McGraw-Hill, New York, pp 330-349

9 Nguyễn Thế Trường (2005), Nghiên cứu chẩn đoán và kết

quả điều trị phẫu thuật ung thư tế bao thận ở người lớn, Luận

án Tiến sĩ, Ngoại – Tiết Niệu, Đại Học Y Hà Nội

10 Scott E, Ofer Y, Joseph A (2006), “Renal Cell Carcinoma Recurrence After Nephrectomy for Localized Disease:

Predicting Survival From Time of Recurrence”, Journal of Clinical Oncology, Vol 24, pp 3101-3106

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 18:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w