1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh siêu âm động mạch chủ bụng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

6 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 293,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tần suất mắc bệnh đái tháo đường týp 2 (ĐTĐ týp 2) ngày càng gia tăng. Theo thống kê của WHO, trên toàn thế giới từ 108 triệu người mắc năm 1980 lên 422 triệu người năm 2014, bệnh gây biến chứng lên nhiều cơ quan đích quan trọng, trong đó có tổn thương mạch máu lớn. Động mạch chủ bụng (ĐMC bụng) là một trong những mạch máu lớn bị ảnh hưởng sớm nhất bởi ĐTĐ. Vì vậy, việc khảo sát đặc điểm hình thái và chức năng của ĐMC bụng trên bệnh nhân (BN) ĐTĐ týp 2 là cần thiết, giúp các nhà lâm sàng có chiến lược điều trị sớm.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH SIÊU ÂM ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

Lê Som Lan*, Huỳnh Kim Phượng*, Mai Công Sao**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tần suất mắc bệnh đái tháo đường týp 2 (ĐTĐ týp 2) ngày càng gia tăng Theo thống kê của

WHO, trên toàn thế giới từ 108 triệu người mắc năm 1980 lên 422 triệu người năm 2014, bệnh gây biến chứng lên nhiều cơ quan đích quan trọng, trong đó có tổn thương mạch máu lớn Động mạch chủ bụng (ĐMC bụng) là một trong những mạch máu lớn bị ảnh hưởng sớm nhất bởi ĐTĐ Vì vậy, việc khảo sát đặc điểm hình thái và chức năng của ĐMC bụng trên bệnh nhân (BN) ĐTĐ týp 2 là cần thiết, giúp các nhà lâm sàng có chiến lược điều trị sớm

Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, cắt ngang, mô tả

Kết quả: Nghiên cứu tiến hành trên 37 đối tượng ĐTĐ týp 2 (nhóm bệnh), 35 đối tượng bình thường

(nhóm chứng) Ghi nhận không có sự khác biệt có ý nghĩa về đường kính lòng mạch, các chỉ số huyết động giữa hai nhóm, tuy nhiên bề dày lớp nội trung mạch (IMT) và tỷ lệ mảng xơ vữa (MXV) nhóm ĐTĐ týp 2 dày và nhiều hơn nhóm chứng một cách có ý nghĩa thống kê, IMT đoạn ĐMC bụng 1 là 3,6±0,9mm và đoạn ĐMC bụng 2 là: 3,2±0,7mm, so với nhóm chứng IMT đoạn ĐMC bụng 1 là: 2,3±0,4mm và đoạn ĐMC bụng 2 là 1,8±0,3mm (p < 0,004) Tỷ lệ mảng xơ vữa ở đối tượngĐTĐ týp 2 chiếm 94,65%, so với 51,4% ở nhóm chứng (p < 0,05)

Kết luận: Dày lớp nội trung mạc trong bệnh ĐTĐ týp 2 thường xuất hiện sớm, có khả năng dự báo và là

dấu hiệu để theo dõi tình trạng xơ vữa động mạchlà một tổn thương nguyên nhân quan trọng gây biến chứng trong bệnh ĐTĐ

Từ khóa: Đái tháo đường týp 2, động mạch chủ bụng, siêu âm, bề dày lớp nội trung mạc, xơ mỡ động mạch

ABSTRACT

ULTRASONOGRAPHIC CHANGES OF ABDOMINAL AORTA IN TYPE 2 DIABETES PATIENTS

Le Som Lan, Huynh Kim Phuong, Mai Cong Sao

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 2 - 2017: 181 - 186

Objective: Prevalence of Type 2 diabetes is increasing fastly According to WHO, worldly prevalence of type

2 diabetes is 108 million in 1980 and 422 million in 2014 Type 2 diabetes causes severe complications of target organs in which vascular complication is significant Abdominal aorta is adversely effected soonest So that, study changes of morphological characteristic and function of the abdominal aorta in patients with type 2 diabetes is very necessary

Methods: Cross-sectional, descriptive study

Results: The study is performed in 37 subjects with type 2 diabetes (study group), 35 healthy subjects

(control group) The results do not show significant differences in luminal diameters and hemodynamic indices in both groups However, intima-media thickness (IMT) and the incidence of atherosclerotic plaques in type 2

* Khoa Chăm sóc Sức khỏe theo yêu cầu-BV Chợ Rẫy

** Khoa Chẩn đoán hình ảnh - BV Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

diabetes group have meaningfully significant differences as compared to control group In type 2 diabetes group, the IMT of abdominal aorta 1 is 3.6±0.9mm and in abdominal aorta 2 is 3.2±0.7mm as compared to control group2.3±0,4mm and 1.8±0,3mm, respectively The incidence of atherosclerotic plaques is found 94.65% in type 2 diabetes group as compared to 51.4% in control group

Conclusions: Intima-media thickness and atherosclerosis plaque of abdominal aorta in patients with type 2

diabetes can be used as a prognosis predictor early and documented for follow-up of arterial atherosclerosis for the patients with type 2 diabetes

Keywords: Type 2 diabetes, abdominal aorta, intima-media thickness, ultrasonography, artery

atherosclerosis

ĐẶT VẤN ĐỀ

ĐTĐ là một trong những bệnh gây xơ vữa

động mạch,xơ vữa động mạch là quá trình bệnh

lý phức tạp diễn ra ở lớp nội - trung mạc của

động mạch, từ đó gây ra các biến chứng ở các

mạch máu lớn, nhỏ - là nguyên nhân quan trọng

gây nên biến chứng tim mạch và tử vong ở bệnh

nhân đái tháo đường.Để khảo sát hình thái và

chức năng mạch máu thì siêu âm mạch là

phương pháp đơn giản,rẻ tiền, tiện lợi, không

xâm lấn, giá trị chẩn đoán cao

Nhằm phát hiện sớm những thay đổi về

hình thái và chức năng của mạch máu, giúp điều

trị dự phòng hạn chế sự tiến triển và biến chứng

của bệnh, chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu đặc

điểm hình ảnh siêu âm ĐMC bụng ở BN ĐTĐ

týp 2” với mục tiêu nghiên cứu như sau:

Khảo sát đặc điểm vận tốc dòng máu trong

ĐMC bụng trên BN ĐTĐ có so sánh với nhóm

chứng

Khảo sát đặc điểm hình thái ĐMC bụng trên

BN ĐTĐ có so sánh với nhóm chứng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nhóm bệnh

Chẩn đoánĐTĐ theo tiêu chuẩn của ADA

2013 gồm: 1/Một mẫu đường huyết bất kỳ ≥ 200

mg/dl (11,1 mmol/L), kết hợp với các triệu chứng

của tăng đường huyết 2/Đường huyết lúc đói ≥

126 mg/dl (7,0 mmol/L) (sau 8 giờ nhịn ăn)

3/Đường huyết 2 giờ sau khi uống 75gram

glucose ≥ 200mg

Nhóm chứng

Gồm những người được kiểm tra sức khỏe tổng quát không ghi nhận tiền căn hoặc đang mắc các bệnh như: tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, đột quỵ, đái tháo đường, bệnh thận mạn, ung thư, hội chứng chuyển hóa,…

Các đối tượng lấy theo mẫu thuận tiện, đến khám và điều trị ngoại trú tại khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu và khoa Nội tiết của Bệnh viện Chợ Rẫy từ ngày 02/01/2014 đến ngày 07/12/2014

Phương pháp

Tiến cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Các biến số khảo sát

Siêu âm 2D, TM, Doppler xung,Doppler màu, khảo sát tại 2 vị trí trên và dưới chỗ chia động mạch thận, với các biến số:

Đường kính lòng động mạch cuối tâm

trương (Dd) Đường kính lòng động mạch cuối tâm thu (Ds) Độ dày lớp nội trung mạc

(IMT-Intima-Media).Mảng xơ vữa: khi IMT> 2mm

Vận tốc đỉnh tâm thu (Vs) Vận tốc cuối tâm trương (Vd) Vận tốc trung bình (Vm) Thời gian tăng tốc (ACCT) Chỉ số trở kháng (RI) Chỉ số mạch đập (PI)

Xử lý số liệu

Kết quả được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm chung

Giới: Nam: 24 (29,3%), Nữ: 48 (71,7%)

Trang 3

Tuổi: nhỏ nhất: 25, lớn nhất: 79, trung bình là

50,3±10,01

Đặc điểm vận tốc dòng máu trong ĐMC

bụng của các nhóm

Bảng 1: So sánh vận tốc dòng máu trong ĐMC

bụng giữa các nhóm

Nhóm (n=35) Nhóm chứng

SD

X 

Nhóm ĐTĐ (n=37) X SD P

PSV (cm/s) ĐMC1 118,4±3,8 92,4±35,2 0,132

ĐMC2 137,4±59,7 128,7±43,0 0,480

EDV (cm/s) ĐMC1 17,5±6,6 17,6±7,9 0,928

ĐMC2 27,7±16,1 27,0±14,4 0,848

Vm (cm/s) ĐMC1 44,5±32,9 37,5±14,7 0,241

ĐMC2 33,2±17,3 28,4±23,5 0,332

Phép kiểm t độc lập

Các chỉ số vận tốc dòng máu trong ĐMC

bụng đoạn 1 và đoạn 2 giữa nhóm ĐTĐ và nhóm

chứng khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Bảng 2: So sánh các chỉ số thời gian tăng tốc, chỉ số

mạch đập, chỉ số trở kháng

Chỉ số Nhóm chứng

(n=35) X  SD

Nhóm ĐTĐ (n=37) X SD P

ACCT (ms) ĐMC 1 74,7±20,7 69,9±18,7 0,299

Phép kiểm t độc lập

Thời gian tăng tốc ACCT, chỉ số mạch đập PI

và chỉ số trở khángRI ở các đoạn ĐMC bụng của

nhóm ĐTĐ so với nhóm chứng không có sự

khác biệt có ý nghĩa

Đặc điểm hình thái ĐMC bụng của các

nhóm

Bảng 3: So sánh đặc điểm hình thái ĐMC bụng giữa

nhóm ĐTĐ và nhóm chứng

Nhóm Nhóm chứng

(n=35)X  SD

Nhóm ĐTĐ (n=37)X  SD P

IMT (mm) ĐMC 1 2,3±0,4 3,6±0,9 <0,001

Dd (mm) ĐMC 1 15,4±2,1 18,1±2,8 <0,001

Ds (mm) ĐMC 1 17,5±2,1 20,0±2,9 <0,001

ĐMC 2 11,8±2,1 14,0±1,9 <0,001

Phép kiểm t độc lập

Bảng 4: Tỷ lệ MXV trên siêu âm ĐMCB giữa nhóm

ĐTĐ và nhóm chứng

Mảng xơ vữa Nhóm ĐTĐ (n=37)

(%)

Nhóm chứng (n=35)

(%)

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ

lệ MXV giữa nhóm ĐTĐ so với nhóm chứng (p < 0,05)

BÀN LUẬN Đặc điểm vận tốc dòng chảy qua các đoạn ĐMC bụng của nhóm ĐTĐ và nhóm chứng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu được kết quả trình bày trong các bảng 1, 2, 3; qua phân tích so sánh, chưa ghi nhận có khác biệt

về các chỉ số dòng chảy giữa các nhóm nghiên cứu với p > 0,05 Điều này hoàn toàn hợp lý bởi kết quả đo độ dày thành mạch cho thấy, các mảng vữa xơ chỉ dày 2-4mm, chưa gây hẹp lòng mạch có ý nghĩa, do vậy chưa gây biến đổi vận tốc Theo y văn khi lòng động mạch hẹp trên 50% thì mới có sự thay đổi về vận tốc dòng máu, khi đó vận tốc tối đa Vs của ĐMC bụng tăng trên 120cm/s

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, vận tốc tối đa ở các đoạn động mạch ở các nhóm có

sự khác biệt và có độ phân tán (SD) khá lớn, tuy nhiên khi so sánh theo chi bình phương thì sự khác biệt cũng không có ý nghĩa thống

kê Nhưng so sánh với nghiên cứu của Trần Công Đoàn thì có một số trường hợp không khác biệt, một số trường hợp sự khác biệt có ý nghĩa Trong thực hành, điều chỉnh góc giữa tia siêu âm và hướng dòng máu rất quan trọng, nếu có sai lệch 5-10 độ cũng có thể gây sai số vận tốc, và đây có lẽ là một lý do Ngoài

ra, do việc chọn nhóm đối tượng và phương tiện nghiên cứu có khác nhau, cũng có thể ảnh hưởng đến các thông số

So sánh các chỉ số vận tốc tâm trương Vd cũng có những sự giống và khác tương tự Riêng với vận tốc trung bình do máy tự động đo đạc tính toán, chúng tôi nhận thấy hầu hết không có

Trang 4

sự khác biệt có ý nghĩa Như vậy có lẽ những sai

số trong thao tác thủ công cũng vẫn là vấn đề

cần chú ý cho những người làm siêu âm thực

hành Sự khác biệt ở nhiều thông số giữa các

nghiên cứu, giữa các nhóm cũng là lý do nhiều

khuyến cáo cho rằng, ngoài việc áp dụng các giá

trị tham số đối chiếu chung, thì mỗi cơ sở y tế

cũng nên có những nghiên cứu đưa ra thông số

tham chiếu cho cơ sở của mình

Bảng 5: So sánh vận tốc dòng máu trong ĐMC bụng

giữa các nhóm với nghiên cứu của Trần Công Đoàn (6)

Nhóm T.C.Đoàn

(n=31)

Nhóm BT (2)(n=35)

Nhóm ĐTĐ (3)(n=37) P(2&3)

PSV

(cm/s)

ĐMC 1 79±12 118,4±3,8 92,4±35,2 0,290

ĐMC 2 76±17 137,4±59,7 128,7±43,0 0,290

EDV

(cm/s

ĐMC 1 17±5 17,5±6,6 17,6±7,9 0,253

ĐMC 2 12±5 27,7±16,1 27,0±14,4 0,086

Vm

(cm/s)

ĐMC 1 37±-9 44,5±32,9 37,5±14,7 0,694

ĐMC 2 27±8 33,2±17,3 28,4±23,5 0,884

Bảng 2, so sánh các chỉ số thời gian tăng tốc

phổ sóng tâm thu ACCT, chỉ số mạch đập PI, chỉ

số trở kháng RI, sự khác nhau không có ý nghĩa

giữa các nhóm Trừ thời gian tăng tốc, các chỉ số

đánh giá sức đập, trở kháng thực chất chỉ là các

tỷ số của các thông số vận tốc Vs, Vd, Vm kể

trên, do vậy khi Vs, Vd, Vm không khác biệt

nhau nhiều thì các tỷ số từ chúng cũng ít khác

nhau Điều này cũng thể hiện các biến đổi cấu

trúc thành mạch như dày thành, MXV, mảng vôi

hoá thì dễ thấy sớm trên siêu âm, còn những

biến đổi huyết động học như Vs, Vd, Vm, PI, RI,

thì không nhận ra khi mà các MXV chưa gây hẹp

trên 50% lòng mạch Như vậy siêu âm Doppler

trong trường hợp mảng xơ vữa chưa gây hẹp

50% lòng mạch không vượt trội hơn siêu âm 2D,

các cơ sở y tế có thể đánh giá được tổn thương

thành mạch máu ĐMC bụng trên siêu âm 2D mà

không phải thực hiện các kỹ thuật siêu âm quá

chuyên sâu

Đặc điểm về hình thái siêu âm ĐMC bụng

Kích thước lòng ĐMC

Bảng 3, khi so sánh giữa các nhóm, đường

kính lòng động mạch ở hai giai đoạn tâm thu và

tâm trương trên nhóm bệnh ĐTĐ có hiện tượng

giãn ra hơn so với trị số Ds và Dd ở nhóm người chứng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với

p < 0,002 So với Trần Công Đoàn(6) nghiên cứu trên siêu âm 145 người bình thường có kết quả đường kính động mạch chủ bụng đo trên siêu

âm TM đoạn trên và dưới thận lần lượt là 18,6±2,2mm, 14,7±2,0mm ở tâm thu và 16,2±2,2mm, 13,3±2,4mm ở tâm trương, thì con

số của chúng tôi có nhỏ hơn ở nhóm người bình thường, nhưng cao hơn ở nhóm ĐTĐ, có lẽ do nhóm người bình thường chúng tôi nghiên cứu

số lượng ít hơn, tuổi trung bình thấp hơn

Nhưng chỉ số trung bình của đường kính lòng ĐMC bụng thì tâm thu của nhóm bệnh ĐTĐ cũng chỉ là 20,6±3,2mm (đoạn 1) và 13,9±2,2mm (đoạn 2), chưa vượt qua thông số của Nguyễn Phước Bảo Quân ở người bình thường là: ngang mức cơ hoành: 2-2,5cm, vị trí phân chia động mạch chậu: 1,5-2cm(3) Có thể do thời gian mắc bệnh của các BN chưa đủ dài để các mạch máu giãn lớn hơn

Các chỉ số hình thái

IMT, đường kính lòng động mạch tâm thu, tâm trương của nhóm ĐTĐ đều cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), chứng

tỏ trong bệnh ĐTĐ có sự dày lên của IMT tại ĐMC bụng khi so sánh với người bình thường (bảng 3)

Nghiên cứu trên mổ tử thi trẻ em đã ghi nhận các tổn thương xơ vữa động mạch bắt đầu phát triển đầu tiên trong lớp áo trong của ĐMC(0) Trong một nghiên cứu trên trẻ em của Järvisalo (2001) và Cs, khi tiến hành khảo sát đo đường kính lòng mạch, IMT của ĐMC bụng và

ĐM cảnh cho 88 trẻ em tuổi trung bình là 11 ± 2, trong đó 16 trẻ bị tăng cholesterol, 44 đã mắc bệnh ĐTĐ týp 1 và 28 trẻ khỏe mạnh Kết quả IMT của ĐMC bụng và động mạch cảnh đều tăng đáng kể trong nhóm rối loạn lipid máu và ĐTĐ so với nhóm chứng trẻ khỏe mạnh, nhưng

sự khác biệt rõ rệt hơn ở ĐMC bụng.Các tác giả rút ra kết luận trẻ em có tăng cholesterol máu và ĐTĐ có tăng kích thước IMT so với người khỏe

Trang 5

mạnh, với mức tăngtrong IMT của ĐMC bụng

lớn hơn trong IMT của động mạch cảnh Điều

này có thể được giải thích xơ vữa động mạch

khởi phát ở lớp nội mạc của ĐMC, các dữ liệu

cho thấy IMT của ĐMC có thể là dấu chỉ điểm

đánh giá tiền lâm sàng bệnh xơ vữa động

mạch(1)

Những kết luận trong nghiên cứu của Soha

M và Cs, cũng tương tự như của Järvisalo (2001)

và Cs, khi nghiên cứu 75 trẻ em ĐTĐ 12-23 tuổi

(17,99±2,59), thời gian mắc bệnh là 5-20,5 năm

(10,91±3,54), kết quả: IMT của ĐMC bụng đã

được tìm thấy là cao hơn đáng kể so với IMT của

ĐM cảnh (0,72±0,11 so với 0,52±0,06, p = 0,0001)

Các tác giả kết luận: Bệnh nhân ĐTĐ đã tăng

IMT và với mức tăng ở ĐMC bụng lớn hơn trong

ĐM cảnh(5)

Marcos và Cs nghiên cứu về độ dày lớp IMT

tại ĐM cảnh ở các BN ĐTĐ týp 2 so với người

bình thường, thấy sự khác biệt IMT tính theo

tuổi giữa nhóm ĐTĐ và nhóm bình thường là

0,040mm So sánh với kết quả nghiên cứu của

các tác giả này, kết quả tăng IMT của nhóm ĐTĐ

của chúng tôi là phù hợp(1)

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh

Liêm trên siêu âm động mạch cảnh ghi nhận:

IMT > 0,7mm chiếm 95,96% ở BN ĐTĐ, chỉ có

12,5% có IMT > 0,7mm ở nhóm không ĐTĐ và

không THA(4)

Trần Văn Thu (2013) đánh giá hình thái chức

năng của ĐM chày sau ở 118 bệnh nhân ĐTĐ

týp 2, thấy độ dày lớp nội trung mạc của bệnh

nhân ĐTĐ dày hơn của người bình thường một

cách có ý nghĩa (0,72±0,26mm so với 0,41±0,1mm,

p<0,001)(7)

Như vậy, trong bệnh ĐTĐ, từ các mạch máu

lớn như ĐMC bụng, ĐM cảnh đến các mạch nhỏ

ngoại vi như ĐM chày đều có sự dày lên của lớp

nội trung mạc, nhưng sớm và dày nhất là ở

ĐMC bụng Nhìn chung các kết quả về thay đổi

hình thái của ĐMC bụng trong nghiên cứu của

chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu khác

trong và ngoài nước

Xơ vữa ĐMC bụng

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận mảng

xơ vữa ĐMC bụng ở nhóm chứng có 18/37 trường hợp chiếm tỷ lệ 51,4%, nhóm ĐTĐ có 35/37 trường hợp chiếm tỷ lệ 94,6% Như vậy

tỷ lệ mảng xơ vữa ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng nhiều và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm thì mảng xơ vữa động mạch cảnh ở nhóm ĐTĐ chiếm 60,87% trường hợp, nhóm không ĐTĐ chỉ gặp trong 24,77% trường hợp; các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p< 0,0 Khi so sánh với nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mảng xơ vữa ở ĐMC bụng của chúng tôi cao hơn tỷ lệ mảng xơ vữa trên ĐM cảnh của Nguyễn Thanh Liêm, theo một số nghiên cứu, điều này có thể do tổn thương xơ vữa động mạch bắt đầu từ lớp áo trong của ĐMC bụng trước

KẾT LUẬN

Trong nhóm ĐTĐ týp 2 có sự dày lên của lớp nội trung mạc và xơ vữa ở ĐMC bụng nhiều hơn

so với nhóm chứng một cách có ý nghĩa thống

kê Không có sự khác biệt đáng kể về đường kính lòng động mạch, các chỉ số chức năng huyết động của ĐMC bụng, giữa nhóm BN bị bệnh ĐTĐ týp 2 so với nhóm chứng

Tổn thương dày lớp nội trung mạc và mảng

xơ vữa ở ĐMC bụng trong nhóm ĐTĐ týp 2, có khả năng dự báo và dùng làm dữ kiện để theo dõi bệnh xơ vữa động mạch Siêu âm ĐMC bụng

là kỹ thuật đơn giản, dễ làm, không xâm lấn, có thể thực hiện rộng rãi ở mọi cơ sở y tế có siêu âm 2D, giúp tầm soát phát hiện điều trị sớm xơ vữa động mạch

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Järvisalo MJ, Jartti L, Salonen KL, et al (2001) Increased Aortic

Atherosclerosis in High-Risk Children Circulation 104, pp

2943-2947

2 Marcos MAG, Rodriguez JIR, Sa´nchez ER, et al (2011) Carotid Intima-Media Thickness in Diabetics and Hypertensive

Patients Rev Esp Cardiol 64 (7), pp 622–625

3 Nguyễn Phước Bảo Quân (2013) Siêu âm Doppler mạch máu

Tập 2, nhà xuất bản Đại học Huế, tr 639 - 659

Trang 6

4 Nguyễn Thanh Liêm (2004) Khảo sát xơ vữa ĐM cảnh ở BN tai

biến mạch não bằng siêu âm duplex Luận văn thạc sỹ Y Học Đại

học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

in Aortic and Carotid Intimal Medial Thickness in Type 1

Diabetic Patients Open Access Macedonian Journal of Medical

Sciences Dec 15; 4(4), pp: 630-635

6 Trần Công Đoàn (2004) Nghiên cứu một số chỉ số hình thái-chức

năng của ĐMC bụng và động mạch chậu ngoài bằng phương pháp

siêu âm Luận án Tiến sĩ Y học Học viện Quân y

7 Trần văn Thu (2013) Khảo sát một số chỉ số hình thái chức năng

động mạch cẳng chân bằng siêu âm Doppler ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 Luận văn chuyên khoa II Học viện Quân y tr 68

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/02/2017 Ngày bài báo được đăng: 05/04/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 18:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w