1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một số trường hợp ứng dụng phẫu thuật nội soi tại khoa sản Bệnh viện An Bình

4 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 285,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nêu lên một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị nhân một số trường hợp ứng dụng phẫu thuật nội soi tại khoa Sản bệnh viện An Bình.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016

NHÂN MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI

TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN AN BÌNH

Nguyễn Đức Thiện*, Bùi Mạnh Côn*, Trần Hoài Sơn*, Nguyễn Đức Trí Dũng*, Trần Nguyễn Anh Thư*,

Nguyễn Đức Trung*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Trước đây, các trường hợp bệnh lý phụ khoa cần điều trị bằng phẫu thuật thường phải được mổ

hở Tuy nhiên, sự ra đời của kỹ thuật nội soi đã giúp cho cuộc phẫu thuật trở nên nhẹ nhàng hơn

Mục tiêu: Nêu lên một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị nhân một số trường hợp ứng

dụng phẫu thuật nội soi tại khoa Sản bệnh viện An Bình

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu: Các trường hợp phẫu thuật nội soi điều trị tại khoa Sản bệnh viện An Bình từ

10/2015-9/2016

Kết quả: Có 6 trường hợp được ghi nhận Tuổi trung bình: 34,15,4 Trong đó có 1 trường hợp bóc nhân xơ

tử cung (mổ chương trình), 2 trường hợp u nang buồng trứng (1 chương trình và 1 u nang buồng trứng xoắn phải mổ cấp cứu), 1 trường hợp u quái buồng trứngvà 2 trường hợp thai ngoài tử cung (mổ cấp cứu) Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh chính Thời gian mổ trung bình là 52 ± 11 phút Không ghi nhận các tai biến và biến chứng Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 4 ± 1,6 ngày Các trường hợp hậu phẫu xuất viện với tình trạng ổn

Kết luận: Các số liệu ghi nhận còn khá khiêm tốn, tuy nhiên lợi ích của phẫu thuật nội soi đã được biết đến

và chứng minh trong những thập kỷ gần đây Đây chỉ là bước khời đầu, để chúng tôi tiến hành các nghiên cứu có chiều sâu hơn, và có thể đưa ra các số liệu hữu ích, góp phần cho lĩnh vực phẫu thuật nội soi đặc biệt là trong ngành sản khoa

Từ khóa: phẫu thuật nội soi, phụ khoa

ABSTRACT

CASES APPLIED BY LAPAROSCOPY IN OBSTETRICS AND GYNECOLOGYDEPARTMENT

IN AN BINH HOSPITAL

Nguyen Duc Thien, Bui Manh Con, Tran Hoai Son, Nguyen Duc Tri Dung, Tran Nguyen Anh Thu, Nguyen Duc Trung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 156 - 159

Background: Previously, cases of gynecologic diseases should be treated with surgery typically have to

be open surgery However, the evolution of endoscopic techniques have improved the effectiveness and outcome results

Objectives: To evaluate some clinical, paraclinical and primarily treatment characteristics in cases of

gynecologic laparoscopy

Subjects – Method: descriptive and prospective cases of gynecologic laparoscopy were operated at An Binh

Hospital, from October 2015 to September 2016

Results: 6 cases Mean age: 34.1±5.4 One case removal of leiomyomas (schedule), two cases ovarian tumors

(one schedule and one emergency of ovarian torsion), one case tetratoma and two cases ectopic pregnancy

*Bệnh viện An Bình

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Đức Thiện ĐT: 0932108219 E-mail: thiencuorknia@yahoo.com.vn

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học

(emergencies) Ultrasound is the main tool to diagnose Mean operating time is 52±11 minutes No complication

is reported Mean hospitalized time after surgery is 4±1.6 days The patients are discharged in the good condition

Conclusions: The data is still limited, however, the advantage of gynecology laparoscopy has been

determined for nearly decades It is just the first step for us to continue doing more qualitative researches, therefore, we can reveal helpful numbers, contribute to gynecology laparoscopy

Keywords: laparoscopy, gynecology

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ý tưởng của thực hiện nội soi đã được đề cập

từ rất sớm bởi Hippocrates từ những năm

460-375 trước công nguyên Tuy nhiên, chỉ đến khi

có những phát kiến về nguồn sáng lạnh với hệ

thống cáp quang, vai trò của CO2 và đặc biệt là

sự phát triển của công nghệ video, camera, mini

camera…, phẫu thuật nội soi mới có những bước

phát triển vượt bậc như hiện nay Năm 1987

được xem là cột mốc đáng nhớ của ngành nội soi

khi Phillipe Mouret thực hiện ca phẫu thuật cắt

túi mật đầu tiên qua soi ổ bụng sử dụng kỹ thuật

video Cùng với sự phát triển nhanh chóng của

nội soi ổ bụng, việc ứng dụng nội soi trong các

chuyên khoa khác như tai mũi họng, lồng ngực,

bướu giáp, niệu khoa, xương khớp, thần kinh…

cũng phát triển mạnh và thay thế dần phẫu

thuật mở Hiện nay, đối với phụ khoa, việc cắt tử

cung, bóc u xơ tử cung, u buồng trứng, xử lý các

trường hợp thai ngoài tử cung, khảo sát vô

sinh… đang là những thế mạnh của nội soi So

với phương pháp mổ hở trước đây, kỹ thuật nội

soi đòi hỏi phẫu thuật viên phải có tay nghề cao

và cần phải có sự hỗ trợ của hệ thống trang thiết

bị hiện đại

Trước đây, các trường hợp bệnh lý phụ khoa

cần điều trị bằng phẫu thuật thường phải được

mổ hở Tuy nhiên, sự ra đời của kỹ thuật nội soi

đã giúp cho cuộc phẫu thuật trở nên nhẹ nhàng

hơn Nội soi trong sản phụ khoa thường được

chỉ định trong các trường hợp: nội soi chẩn đoán,

triệt sản, gỡ dính, lạc nội mạc tử cung, thai ngoài

tử cung, bóc u nang buồng trứng, cắt phần phụ,

cắt tử cung, bóc nhân xơ tử cung, bệnh lý ác

tính,…Trong phẫu thuật phụ khoa, nếu tất cả các

phẫu thuật trước đây được thực hiện bằng

phương pháp mổ hở thì hiện nay phần lớn đều

có thể thực hiện bằng phương pháp nội soi Các

ứng dụng của phương pháp nội soi được áp dụng rộng rãi trong việc chẩn đoán lẫn điều trị phụ khoa

Hiện nay, phẫu thuật nội soi đã được áp dụng rộng rãi trong các bệnh viện sản phụ khoa

ở nước ta Tại bệnh viện An Bình cũng đang bắt đầu triển khai phương pháp này từ nhiều năm nay Do vậy, nhằm khảo sát về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, và kết quả điều trị sớm các trường hợp đã được phẫu thuật nội soi tại khoa sản bệnh viện An Bình, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

Mục tiêu

Nêu lên một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị nhân một số trường hợp ứng dụng phẫu thuật nội soi tại khoa Sản bệnh viện An Bình

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Các trường hợp phẫu thuật nội soi điều trị tại khoa Sản bệnh viện An Bình từ 10/2015-7/2016

Tiêu chuẩn lựa chọn mẫu

Các bệnh nhân được chọn vào mẫu nghiên cứu thỏa mãn các điều kiện:

Được phẫu thuật nội soi điều trị

Tại khoa sản bệnh viện An Bình 10/2015 – 7/2016

Tiêu chuẩn loại trừ

Phẫu thuật nội soi chuyển mổ hở

Có các bệnh lý khác cần phải can thiệp ngoại khoa

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016 KẾT QUẢ

Qua 09 tháng (10/2015 – 7/2016)có 6 trường

hợp phẫu thuật nội soi tại khoa sản

Tuổi trung bình: 34,1 5,4

Bảng 1: Các trường hợp được phẫu thuật nội soi tại

khoa sản

Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh chính

Thời gian mổ trung bình là 52 ± 11 phút Không ghi nhận các tai biến và biến chứng

T

Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 4 ± 1,6 ngày

Các trường hợp hậu phẫu xuất viện với tình

trạng ổn

Hình 1 U nang buồng trứng Hình 2 U quái Hình 3 Thai ngoài tử cung vỡ

(Nguồn: bệnh viện An Bình)

BÀN LUẬN

Qua 6 trường hợp được ghi nhận, trong đó

có 1 trường hợp bóc nhân xơ tử cung (mổ

chương trình), 2 trường hợp u nang buồng trứng

(1 chương trình và 1 u nang buồng trứng xoắn

phải mổ cấp cứu), 1 trường hợp u quái buồng

trứng và 2 trường hợp thai ngoài tử cung (mổ

cấp cứu) Các số liệu này của chúng tôi không

dùng để đại diện một mẫu nào cả, mà đây chỉ là

tiền đề để chúng tôi tiên hành các nghiên cứu

trên những mẫu lớn hơn với các loại bệnh lý

khác nhau trong sản và phụ khoa Không thể

phủ nhận vai trò của phẫu thuật mổ hở, nhưng

cùng sự phát triển của khao hoc kỹ thuật trong y

học, vai trò của nội soi đã vươn lên một tầm cao

và đã khẳng định được những lợi ích của nó.Với

đặc thù riêng, PTNS có những ưu điểm vượt trội

so với phương pháp phẫu thuật mổ hở thông

thường Chất lượng phẫu thuật được thể hiện rõ,

hình ảnh được phóng đại nên bác sỹ có thể nhìn

rõ hơn, thao tác chính xác hơn, hiệu quả phẫu

thuật cao hơn, do đó các biến chứng liên quan

cũng được giảm hẳn Bệnh nhân ít mất máu

trong quá trình mổ, ít đau sau mổ, thời gian nằm

viện ngắn và mau hồi phục Vết mổ thường

ngắn (5mm-10mm) nên ít để lại sẹo, mang tính thẩm mỹ cao hơn Tuy nhiên, cũng như các phương pháp phẫu thuật khác, PTNS cũng có một số biến chứng nhất định nhưng ít hơn Tai biến nghiêm trọng nhất trong PTNS là việc chuyển từ mổ nội soi sang mổ hở Đôi khi do kích thước của khối u, do sự kết dính hoặc có biến chứng, việc mổ nội soi phải chuyển sang

mổ hở để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Biến chứng thứ hai trong mổ nội soi là trong quá trình ban đầu khi đưa ống dẫn nội soi vào có thể gây tổn thương đến các cơ quan khác Nếu bác sỹ phẫu thuật có tay nghề và kinh nghiệm cao thì biến chứng này có thể hoàn toàn bị loại bỏ Cuối cùng, hầu như các vết mổ PTNS không gây đau đớn cho bệnh nhân Tuy nhiên, nhiều trường hợp bệnh nhân bị đau vai nhưng cơn đau chỉ kéo dài trong vòng 48h và không gây nguy hiểm

Để có được một ca PTNS phụ khoa thành công

và ít để lại biến chứng cần có sự kết hợp giữa bác

sỹ giỏi, trang thiết bị phẫu thuật đầy đủ và đội ngũ hỗ trợ Bệnh nhân nên chọn PTNS tại những bệnh viện hiện đại, có đầy đủ tiện nghi về kỹ thuật nội soi như: màn hình 3D, dao điện cắt nhỏ khối u trong phẫu thuật cắt u xơ, cần nâng tử cung trong phẫu thuật cắt tử cung, dụng cụ đốt

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 5 * 2016 Nghiên cứu Y học

điện cầm máu… Và cuối cùng bác sỹ nội soi

trước tiên phải là bác sỹ mổ hở giỏi, có kinh

nghiệm sâu rộng trong PTNS và thường xuyên

được thực hành đối với tất cả các loại phẫu thuật

phụ khoa bằng phương pháp nội soi.Ở Việt Nam

phẫu thuật nội soi cắt u buồng trứng được áp

dụng đầu tiên tại Bệnh viện Từ Dũ năm 1993,

Bệnh viện Phụ Sản Trung ương áp dụng từ năm

1996 Bệnh viện 198 đươc sự giúp đỡ của Bệnh

viện Phụ Sản Trung ương đã tiến hành mổ nội

soi từ 2005, bắt đầu mổ độc lập từ 2006 và số

lượng bệnh nhân u buồng trứng được phẫu

thuật nội soi cũng tăng theo thời gian, phẫu

thuật an toàn, ít đau đớn, sau mổ hồi phục

nhanh, chi phí điều trị thấp và có tính thẩm mỹ

cao Tuy vậy vẫn còn những trường hợp phẫu

thuật nội soi phải chuyển mổ mở bụng và phẫu

thuật nọi soi u buồng trứng lành tính là cần thiết

đối với các cơ sở y tế Số bệnh nhân TNTC có xu

hướng ngày càng tăng lên, chiếm khoảng 1 – 2%

số thai nghén và là nguyên nhân gây tử vong cao

nhất trong 3 tháng đầu thai kỳ (4 – 10%) Điều trị

thai ngoài tử cung có nhiều phương pháp Gần

đây, điều trị thai ngoài tử cung đa số là phẫu

thuật nội soi và tỷ lệ thành công cao Mục tiêu

nghiên cứu: đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi

điều trị thai ngoài tử cung Phẫu thuật nội soi

điều trị thai ngoài tử cung là phương pháp an

toàn, tỉ lệ thành công cao, không gặp tai biến và

biến chứng nặng, bệnh nhân phục hồi nhanh sau

mổ, đảm bảo tính thẩm mỹ cung Gần đây thai

ngoài tử cung đa số là phẫu thuật nội soi và tỷ lệ thành công cao.(3,5,1)

KẾT LUẬN

Phẫu thuật nội soi (PTNS) là một tiến bộ của y học, là thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại Nó mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân và xã hội: ít đau hơn, sớm ra viện, sớm trở lại cuộc sống bình thường, sẹo mổ nhỏ, đẹp, ít biến chứng xa … Chính vì vậy, tuy mới

ra đời trong vài thập niên gần đây nhưng PTNS đã phát triển rất nhanh chóng cả về chiều sâu và chiều rộng Ứng dụng phương pháp PTNS trong điều trị các bệnh lý phụ khoa sẽ nâng cao chất lượng điều trị, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

hành sản phụ khoa, NXB y học, tr 258-267

surgery; Endoscopic surgery for Gynaecologists 3 – 7

surgery1989; Laparoscopic surgery September 429 – 436

bệnh lý chửa ngoài tử cung tại Bệnh viện Trường Đại học y dược Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ,

tr.177-183

nữ”, Nội tiết học sinh sản”, NXBY học, tr 166-184

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 19/08/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w