1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả của phương thức thẩm tách máu lưu lượng thấp kéo dài (SLED) ở bệnh nhân tổn thương thận cấp tại khoa hồi sức tích cực

7 66 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 366,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đánh giá sự thay đổi các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng và một số biến chứng khi áp dụng phương thức SLED ở bệnh nhân TTTC tại khoa hồi sức tích cực.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG THỨC THẨM TÁCH MÁU

LƯU LƯỢNG THẤP KÉO DÀI (SLED) Ở BỆNH NHÂN TỔN THƯƠNG THẬN CẤP TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC

Dương Phước Đông*, Phan Thị Xuân**, Phạm Thị Ngọc Thảo**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tổn thương thận cấp (TTTC) là một trong những rối loạn chức năng cơ quan thường gặp tại

khoa ICU, có tỷ lệ tử vong cao Trên 70% bệnh nhân TTTC cần phải áp dụng các phương thức điều trị thay thế thận (RRT) Phương thức lọc máu SLED kết hợp được các ưu điểm của IHD và CRRT Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu về vấn đề này

Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng và một số biến chứng khi áp dụng phương

thức SLED ở bệnh nhân TTTC tại khoa hồi sức tích cực

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát tiến cứu trên những bệnh nhân TTTC (theo tiêu chuẩn

KDIGO 2012) được lọc máu SLED tại khoa HSTC bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 8/2016 đến tháng 2/2017

Kết quả: trong 6 tháng chúng tôi thu thập được 41 bệnh nhân TTTC (với 140 lượt lọc máu SLED) với tỷ lệ

nam là 68%, tuổi trung bình 51,22 ± 18,98 tuổi, bệnh nội khoa chiếm tỷ lệ 65,8%, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng thuốc vận mạch là 68,3%, tỷ lệ tử vong là 48,7%, tỷ lệ phục hồi chức năng thận là 34,1%, điểm APACHE II là 25,5 ± 4,15 điểm, SOFA là 12 (10-13 điểm) Dấu hiệu sinh tồn trước và sau lọc máu không có sự khác biệt (p > 0,05), BUN sau khi lọc máu giảm 55% so với trước lọc (p = 0,0001), Creatinin sau khi lọc máu giảm 45% so với trước lọc (p = 0,0001) Các biến chứng có tỷ lệ thấp như: đông màng 1,42%, tắc catheter 1,42%, xuất huyết 2,13%, hạ

HA trong quá trình lọc máu là 17,1% (24/140 lượt lọc) Các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ tử vong bao gồm: điểm APACHE II > 25, điểm SOFA > 10 và có sử dụng thuốc vận mạch, với p < 0,05 Tuy nhiên, chỉ có sử dụng thuốc vận mạch là yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng tỷ lệ tử vong với OR = 9,9 (KTC 95%: 1,45 – 67,5; p = 0,019)

Kết luận: phương thức lọc máu SLED tương đối an toàn cho các bệnh nhân TTTC tại khoa hồi sức tích cực,

giảm BUN, creatinin và điều chỉnh rối loạn điện giải tốt, ít ảnh hưởng đến huyết động của bệnh nhân và tỷ lệ biến chứng thấp

Từ khóa: CRRT, IHD, RRT, SLED, TTTC, khoa hồi sức tích cực

ABSTRACT

VALUATION THE OUTCOME OF SUSTAINED LOW EFFICIENCY DIALYSIS (SLED) IN ACUTE

KIDNEY INJURY PATIENTS AT INTENSIVE CARE UNIT

Duong Phuoc Dong, Phan Thi Xuan, Pham Thi Ngoc Thao

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 ‐ No 2‐ 2018: 27 ‐ 33

Background: As we know acute kidney injury (AKI) is one of the commonly organ dysfunction at ICU

with high mortality rates More than 70% AKI patients need to apply renal replacement therapy (RRT) The SLED method combines the advantages of IHD and CRRT However, SLED method in Viet Nam was not studied very well

* Khoa Hồi sức chống độc, bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang

** Bộ môn Hồi sức – Cấp cứu – Chống độc ‐ Đại học Y Dược, TPHCM, Khoa ICU‐bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: BS CK2 Dương Phước Đông ĐT: 0989575515 Email: duongphuocdong81@gmail.com

Trang 2

Objectives: to valuate over clinical, para clinical and complications after the AKI patients underwent SLED

therapy

Methods and participants: The prospective observational study on patients with AKI (KDIGO 2012

criteria) was done SLED at ICU department of Cho Ray Hospital from August 2016 to February 2017

Results: Over 6 months, there were 41 AKI patients were treated with SLED (total number of sessions

n = 140) Male preponderance (68% were male) The mean age was 51.22 ± 18.98 years, internal disease was 65.8% and 68.3 % of patients needed vasoactive drugs Hospital mortality was 48.7 %; renal function recovery was 34.1% Mean APACHE II score was 25.5 ± 4.15 and SOFA score was 12 (10 - 13) Beside that vital signs pre and post SLED there were no changes in outcome (p > 0.05) We can see BUN value after SLED less 55% than before (p = 0.0001) and creatinine decreasing 45% less than before SLED (p = 0.0001) Lower complications such as: filter clotting occurred in 2 sessions ( 1.42%), catheter obstruction was 1.42%, hemorrhage was 19.2% Hypotension occurred in 17.1 % of procedures (24/140 sessions) Mortality rate was significantly higher in patients who were on inotrope support, APACHE II > 25 score, SOFA > 10 score (p< 0.05) However, merely used vasopressors was an independent risk factor made high mortality rate with OR = 9.9 (95% CI: 1.45 - 67.5; p = 0.019)

Conclusion: SLED therapy is a safe option relatively for AKI patients which can reduce BUN, creatinine

and regulate good electrolyte disorder and less influence on hemodynamics in lower complications

Keyword: CRRT, IHD, RRT, SLED, AKI, ICU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổn thương thận cấp (TTTC) là một trong

những rối loạn chức năng cơ quan thường gặp

tại khoa ICU, có tỷ lệ tử vong lớn hơn 50%(1)

Trên 70% bệnh nhân TTTC cần phải áp dụng các

phương thức điều trị thay thế thận Có hai

phương thức điều trị thay thế thận thường được

sử dụng là IHD và CRRT Tuy nhiên, mỗi

phương thức đều có ưu và nhược điểm riêng

Chính vì vậy mà năm 1998, một kỹ thuật lọc máu

mới ra đời đã kết hợp được ưu điểm của cả hai

phương thức lọc máu trên gọi là phương thức

thẩm tách máu lưu lượng thấp kéo dài (SLED)

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy phương

thức lọc máu SLED tương đối an toàn và hiệu

quả tương đương khi so sánh với CRRT Tuy

nhiên, phương thức SLED ít tốn nhân lực, ít tốn

thời gian hơn và rẻ hơn CRRT(9) Một nghiên cứu

gộp năm 2017 của Kovacs và cs khi so sánh giữa

phương thức SLED và CRRT thì không có sự

khác biệt về tỷ lệ phục hồi chức năng thận, thời

gian phục hồi chức năng thận cũng giống nhau

giữa hai nhóm, tỷ lệ hạ HA và tình trạng huyết

động giữa hai nhóm là như nhau Tuy nhiên, tỷ

lệ tử vong ở nhóm SLED thấp hơn so với

CRRT(3) Tại Việt Nam đã có một số bệnh viện áp dụng phương thức lọc máu SLED vào trong điều trị tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu về phương thức lọc máu SLED được công bố

Mục tiêu nghiên cứu

1 Đánh giá sự thay đổi các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng của SLED: thay đổi dấu hiệu sinh tồn sau khi lọc, thay đổi các thông số BUN, creatinin, kali, natri sau lọc

2 Khảo sát các biến chứng liên quan đến quá trình thực hiện SLED: tỷ lệ hạ huyết áp, tỷ lệ phải ngưng lọc, tỷ lệ biến chứng chảy máu, tỷ lệ đông màng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu quan sát, tiến cứu

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân ≥16 tuổi, điều trị tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Chợ Rẫy bị TTTC chẩn đoán theo tiêu chuẩn KDIGO 2012, có chỉ định điều trị thay thế thận, sử dụng phương thức lọc máu SLED theo quy trình của khoa Hồi sức tích cực

Trang 3

bệnh viện Chợ Rẫy

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có thai, bệnh nhân có tổn thương

não cấp, bệnh nhân có suy gan cấp

Cỡ mẫu

Công thức tính cỡ mẫu

‐ α = 0,05 → Z = 1,96

‐ p: tỉ lệ lượt lọc bị tụt huyết áp trong lúc lọc

máu bằng phương pháp SLED Chúng tôi chọn tỉ

lệ p = 47,5% theo tác giả Ponce năm 2013(7)

‐ d: độ chính xác (hay sai số cho phép): +/‐

10%

→ n ≥ 96 lượt lọc máu bằng phương thức

SLED

Phương tiện nghiên cứu

‐ Máy lọc máu DIALOG+ của Braun, màng

lọc polysulfone “high‐flux” có hệ số siêu lọc cao

và các trang thiết bị cần thiết cho quá trình lọc

máu

Quy trình của phương thức lọc máu SLED

(theo qui trình của BV Chợ Rẫy)

+ Tốc độ dòng máu từ 70 ‐ 350ml/phút

+ Tốc độ dịch thẩm tách: 300 ‐ 350ml/phút

+ Tốc độ dịch lấy bỏ: tùy thuộc tình trạng

người bệnh từ 0 ‐ 200 ml/giờ Liều siêu lọc tối đa

là 4000 ml trong một lần lọc

+ Chống đông bằng heparin: phụ thuộc vào

tình trạng đông máu của người bệnh, nằm ở

nhóm nguy cơ chảy máu cao, trung bình hay

không có nguy cơ (theo phác đồ chống đông)

+ Thời gian lọc máu: 6 ‐ 12 giờ trong 1 ngày, 3

đến 6 ngày/tuần tuỳ thuộc tình trạng lâm sàng

Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ 6 tháng (8/2016 – 2/2017),

có 41 bệnh nhân TTTC (với 140 lượt lọc máu

SLED) điều trị tại khoa Hồi sức bệnh viện Chợ Rẫy được đưa vào nghiên cứu

Đặc điểm chung của bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm chung của bệnh nhân tham gia

nghiên cứu

Tuổi (năm) 51,22 ± 18,98 Giới tính: Nam 28/41 (68%) Nhóm bệnh nội khoa 28/41 (65,8%) Điểm APACHE II (nhập hồi sức) 25,5 ± 4,15 Điểm SOFA (nhập hồi sức) 12 (10;13)

Sử dụng thuốc vận mạch 28/41 (68,3%) Thời gian nằm viện (ngày) 20 (10,5;30,5)

Tỷ lệ phục hồi chức năng thận 14/41 (34,1%)

Tỷ lệ tử vong 86/174 (49,4%)

Nhận xét: 41 bệnh nhân tham gia nghiên cứu

có tỷ lệ nam nhiều hơn nữ (p = 0,019), điểm

APACHE II và SOFA cao, tỷ lệ tử vong là 49,4% Các yếu tố nguy cơ tử vong

Bảng 2: Phân tích các yếu tố nguy cơ tử vong

Các yếu tố nguy cơ OR 95%CI p

Điểm APACHE > 25 2,88 0,81 – 10,2 0,101

Sử dụng thuốc vận mạch 9,90 1,45 – 67,5 0,019 Điểm SOFA > 10 4,36 0,51 – 37,7 0,181

Nhận xét: chỉ có sử dụng thuốc vận mạch là

yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng tỷ lệ tử vong với

OR = 9,9 (KTC 95%: 1,45 – 67,5; p = 0,019)

Sự thay đổi dấu hiệu sinh tồn trước và sau lọc máu

Bảng 3: Sự thay đổi dấu hiệu sinh tồn trước và sau

lọc máu (n=140)

Dấu hiệu sinh tồn Trước lọc Sau lọc p*

Mạch (lần/phút) 110 (100;120) 109 (103;115) 0,127 Nhịp thở (lần/phút) 25 (24;26) 25 (23;26) 0,428 Nhiệt độ (0C) 37 (37;37,5) 37 (37;37,5) 0,141 HAĐMTB (mmHg) 86,67 (83;87) 86,67 (83;90) 0,714

Nhận xét: dấu hiệu sinh tồn trước và sau lọc

máu không có sự khác biệt (p > 0,05)

Sự thay đổi BUN, creatinin, natri, kali trước và sau khi lọc máu

BUN sau khi lọc máu giảm 55% so với trước lọc, Creatinin sau khi lọc máu giảm 45%

so với trước lọc, Natri sau lọc tăng so với trước lọc (p = 0,0001)

Trang 4

Bảng 4: Sự thay đổi BUN, creatinin, natri, kali trước

và sau khi lọc máu(n=140)

Chỉ số Trước lọc

(n = 140)

Sau lọc (n = 140) p

BUN (mg/dl) 53,40 ± 22,08 24,31 ± 8,05 0,0001*

Creatinin (mg/dl) 3,16 ± 0,87 1,75 ± 0,49 0,0001*

Natri (mmol/l) 133(130;136) 135(134;137) 0,0001**

Kali (mmol/l) 3,8(3,4;4,3) 3,5(3,3;3,8) 0,0001**

(*) Paired Sample T Test (**) Wilcoxon Signed Ranks Test

Sự thay đổi Hồng cầu, Hb, Hct, TC, INR trước

và sau khi lọc máu

Bảng 5: Sự thay đổi Hồng cầu, Hb, Hct, TC, INR

trước và sau khi lọc máu

Chỉ số Trước lọc

(n = 140)

Sau lọc (n = 140) p

*

Hồng cầu (1012/L) 2,89 (2,67;3,15) 2,90 (2,69;3,15) 0,081

Hb (g/L) 85 (77;89) 85 (79;90) 0,073

Hct (%) 25,9 (24,3;27,8) 26,7 (25;28,4) 0,0001

TC (109/L) 157,5 (99;233) 156,5 (91;243) 0,597

INR 1,32 (1,21;1,51) 1,33 (1,19;1,50) 0,641

Nhận xét: Hồng cầu, Hb, TC, INR trước và

sau lọc máu không có sự khác biệt với p > 0,05

Hct sau lọc máu tăng hơn so với trước lọc với

p = 0,0001

Các biến chứng trong quá trình lọc máu

Bảng 6: Các biến chứng trong quá trình lọc máu (n =

140)

Biến chứng Số lần

lọc máu

Số lần

có biến chứng

Tỉ lệ

%

Đông màng 140 2 1,42

Tắc catheter 140 2 1,42

Ngừng lọc 140 1 0,71

Xuất huyết da, niêm mạc 140 1 0,71

Xuất huyết tiêu hóa 140 2 1,42

Hạ kali máu 140 27 19,2

Nhận xét: các biến chứng về kỷ thuật chiếm

tỉ lệ thấp, biến chứng xuất huyết là 2,13%, biến

chứng hạ HA trong quá trình lọc máu là 17,1%

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của bệnh nhân tham gia

nghiên cứu

Trong 41 bệnh nhân tham gia vào nghiên

cứu, nam giới gồm 28 bệnh nhân chiếm tỷ lệ

68% Tỷ lệ bệnh nhân nam nhiều hơn nữ (với p =

0,019) Tỷ lệ này tương tự nghiên cứu của Nguyễn Trường Sơn với tỷ lệ bệnh nhân nam là 59%(6) Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 51,22 ± 18,98 tuổi (thấp nhất là 17 tuổi, cao nhất là

90 tuổi) Nhóm bệnh nội khoa gồm 27 trường hợp chiếm tỷ lệ 65,8%

Trong nghiên cứu của chúng tôi điểm APACHE II là 25,5 ± 4,15 điểm, điểm SOFA là 12 (10;13) điểm Tỷ lệ bệnh nhân cần sử dụng thuốc vận mạch là 68,3% Đa số các bệnh nhân lọc máu SLED là những bệnh nhân nặng có huyết động không ổn định cho nên tỉ lệ sử dụng thuốc vận mạch khá cao Thời gian nằm viện là 20 ngày (10,5 đến 30,5 ngày), dài nhất là 68 ngày, ngắn nhất là 5 ngày Một số nghiên cứu thời gian nằm viện lớn hơn nghiên cứu của chúng tôi như nghiên cứu của Renato thời gian nằm viện là 34,5 ngày (18,5;48,5)(8) Sự khác biệt này có thể do thời gian nằm viện phụ thuộc rất nhiều vào các yếu

tố như: mức độ nặng của bệnh nhân khi vào viện, trang thiết bị và đội ngũ nhân viên y tế phục vụ cho bệnh nhân, vấn đề kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện

Tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi

là 48,7% Kết quả này không có sự khác biệt khi

so sánh với tỷ lệ tử vong được tiên đoán bằng bảng điểm APACHE II khi vào khoa Hồi sức và giống với nghiên cứu của Schwenger với tỷ lệ tử vong là 49,6%(9) Tuy nhiên nghiên cứu của Ponce tỷ lệ tử vong là 79,1%(7) Sự khác biệt này

có thể do điểm APACHE II lúc vào viện của

nghiên cứu này cao hơn chúng tôi

Các yếu tố nguy cơ tử vong ở bệnh nhân TTTC

Qua phân tích đơn biến, các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ tử vong của các bệnh nhân TTTC được lọc máu bằng phương pháp SLED bao gồm: điểm APACHE II > 25 điểm, điểm SOFA >

10 điểm và bệnh nhân tụt huyết áp phải sử dụng thuốc vận mạch, với p < 0,05 Tuy nhiên, trong phân tích đa biến chúng tôi nhận thấy rằng chỉ

có sử dụng thuốc vận mạch là yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng tỷ lệ tử vong với OR = 9,9 (KTC 95%: 1,45 – 67,5; p=0,019) (bảng 2) Kết quả này

Trang 5

tương đối giống với nghiên cứu của Nguyễn

Trường Sơn khi phân tích đa biến cũng nhận

thấy các yếu tố nguy cơ tử vong ở bệnh nhân

TTTC bao gồm tụt huyết áp phải sử dụng thuốc

vận mạch, TTTC giai đoạn muộn chuyển đến từ

các khoa phòng trong bệnh viện, bệnh nhân có

điểm APACHE II > 25(6)

Sự thay đổi dấu hiệu sinh tồn trước và sau lọc

máu

Một trong những mục đích chính của liệu

pháp thay thế thận ở bệnh nhân hồi sức là kiểm

soát tình trạng quá tải dịch, ổn định nội môi,

điều chỉnh rối loạn điện giải… trong khi đó vẫn

duy trì được tình trạng huyết động ổn định

Trong nghiên cứu của chúng tôi dấu hiệu sinh

tồn trước và sau lọc máu không có sự khác biệt

(bảng 3) Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho

kết quả tương tự Năm 2000 Lonnemann và cộng

sự nghiên cứu về sự biến đổi nhiệt độ trong hệ

thống dây dẫn máu ngoài cơ thể và nhiệt độ của

bệnh nhân trước và sau 18 giờ lọc máu SLED

Lonnemann và cộng sự nhận thấy rằng mặc dù

nhiệt độ trong hệ thống dây dẫn máu ngoài cơ

thể giảm 5 ± 0,50C trong 18h lọc máu (giảm

0,280C/giờ), tuy nhiên nhiệt độ trong cơ thể bệnh

nhân không thay đổi với nhiệt độ trước lọc là

36,8 ± 0,60C và sau lọc 36,2 ± 0,30C(4) Năm 2004

Kielstein và cộng sự đã theo dõi huyết động giữa

hai nhóm điều trị bằng SLED và CRRT kết quả là

không có sự khác biệt về huyết áp động mạch

trung bình, tần số tim, cung lượng tim, sức cản

mạch hệ thống giữa hai nhóm(2) Điều này cho

thấy phương thức lọc máu SLED có thể là một

lựa chọn cho các bệnh nhân nặng có huyết động

không ổn định ở ICU

Sự thay đổi BUN, creatinin, natri, kali trước và

sau khi lọc máu

Quá trình loại bỏ các chất phân tử nhỏ

trong lúc lọc máu SLED phụ thuộc rất nhiều

vào tốc độ dòng máu và tốc độ dịch thẩm tách

Trong nghiên cứu của chúng tôi giá trị trung

bình của BUN sau khi lọc máu giảm 55% so với

BUN trước lọc với p = 0,001 Creatinin sau khi

lọc máu giảm 45% so với creatinin trước lọc với

p = 0,001 (bảng 4) Nghiên cứu của Kielstein cho thấy nồng độ urê trước lọc là 82 ± 8 mg/dl và sau lọc 12 giờ là 38 ± 4 mg/dl, urê sau khi lọc máu giảm 53% so với trước lọc và lượng urê mất này được tìm thấy trong dịch thẩm tách và dịch siêu lọc của bệnh nhân sau lọc máu Tương

tự lượng creatinin giảm từ 3,93 ± 0,4 mg/dl xuống còn 1,96 ± 0,9 mg/dl (creatinin sau khi lọc máu giảm 49,8% so với creatinin trước lọc)(2) Tổng lượng urê được loại bỏ sau 18 giờ lọc máu SLED trong nghiên cứu của Lonnemann là 14g, lượng urê mất này nhằm cân bằng với lượng urê sản xuất trong một ngày của các bệnh nhân nằm hồi sức (10 đến 20g/ngày tùy thuộc vào lượng protein cung cấp và quá trình dị hóa protein trong cơ thể)(4)

Thật ra để đánh giá hiệu quả của cuộc lọc máu người ta thường dựa vào chỉ số Kt/V (là chỉ

số so sánh giữa tổng lượng dịch lọc sạch urê (Kt)

và thể tích phân bố urê trong cơ thể (V), thể tích phân bố của urê tương đương với tổng lượng nước của cơ thể) Tuy nhiên, để tính chỉ số này cần phải cân bệnh nhân trước và sau khi lọc máu Trong khi đó đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những bệnh nhân nằm ICU nên việc cân bệnh nhân gặp nhiều khó khăn

Trong nghiên cứu của chúng tôi Natri sau lọc máu tăng so với trước lọc với p = 0,0001 (bảng 5) Kết quả này khác với các nghiên cứu của Marshall với natri trước lọc là 137,6 ± 4,1 mmol/l và natri sau lọc là 137,6 ± 4,1 mmol/l (p

= 0,5)(5) Sự khác biệt này có thể do các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đa phần

có chỉ số natri trước lọc máu thấp 133mmol/l, trong khi đó nồng độ natri trong dịch thẩm tách là 140 mmol/l lớn hơn natri máu của bệnh nhân, nhờ sự chênh lệch nồng độ này nên sau khi lọc máu natri trở về giá trị gần bình thường Điều này cho thấy phương thức lọc máu SLED không chỉ làm hạ kali máu mà còn

góp phần điều chỉnh rối loạn natri máu rất tốt

Trang 6

Sự thay đổi Hồng cầu, Hb, Hct, TC, INR trước

và sau khi lọc máu

Việc sử dụng kháng đông trong quá trình lọc

máu là điều hiển nhiên nhằm tránh đông hệ

thống dây dẫn và màng lọc máu ngoài cơ thể

Chúng tôi muốn nghiên cứu việc chống đông

bằng heparin có ảnh hưởng như thế nào đến sự

thay đổi tiểu cầu và INR của bệnh nhân Kết quả

là tiểu cầu và INR trước khi lọc và sau khi lọc

không thay đổi Tương tự hồng cầu, Hb trước và

sau lọc máu cũng không có sự khác biệt, tuy

nhiên Hct sau lọc tăng hơn so với trước lọc; p =

0,0001 (bảng 5) Điều này có thể được giải thích

là do trong quá trình lọc máu đã lấy đi một

lượng dịch làm cho Hct của bệnh nhân sau lọc

tăng hơn so với trước lọc

Các biến chứng trong quá trình lọc máu

Các biến chứng về kỷ thuật xãy ra nhiều hay

ít tùy thuộc vào kinh nghiệm thực hành SLED

Các biến chứng của SLED cũng giống như các

biến chứng liên quan đến CRRT Mặc dù đây là

lần đầu tiên khoa ICU bệnh viện Chợ Rẫy triển

khai phương pháp lọc máu SLED, tuy nhiên các

biến chứng về kỷ thuật xãy ra rất thấp Có lẽ do

đội ngũ nhân viên trong khoa ICU đã thực hành

thành thạo phương pháp lọc máu CRRT nên khi

chuyển sang thực hành phương pháp lọc máu

SLED đã không gặp nhiều khó khăn

Trong nghiên cứu của chúng tôi các biến

chứng kỷ thuật xãy ra thấp (bảng 6): đông màng

có 2 trường hợp chiếm tỷ lệ 1,42% (hai trường

hợp này chúng tôi không dùng kháng đông do

bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao) Mặc dù

aPTT là yếu tố tiên đoán tốt cho việc màng lọc có

nguy cơ bị đông hay không, tuy nhiên do thời

gian lọc máu SLED tương đối ngắn cho nên

chúng tôi không thử aPTT thường qui trong quá

trình lọc máu Biến chứng tắc catheter cũng có 2

trường hợp chiếm tỷ lệ 1,42%, chỉ có 1 trường

ngừng lọc máu do đông màng lọc (trường hợp

này chúng tôi không thay màng lọc vì đã thực

hiện được 5/6 giờ lọc máu) Chúng tôi ghi nhận 3

trường hợp xuất huyết chiếm tỷ lệ 2,13% Trong

đó xuất huyết tiêu hóa có 2 trường hợp chiếm tỷ

lệ 1,42%, 1 trường hợp được nội soi và kết quả là xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày, trường hợp còn lại chúng tôi không dùng heparin trong quá trình lọc máu SLED vì bệnh nhân đang chạy ECMO nên đã dùng heparin và được theo dõi APTT thường qui Chảy máu vết mổ gặp 1 trường hợp chiếm tỷ lệ 0,71% và sau khi truyền huyết tương tươi đông lạnh bệnh nhân đã ổn định Các nghiên cứu khác trên thế giới cũng báo cáo biến chứng xuất huyết với tỷ lệ thấp Nghiên cứu của Marshall có 2/145(1%) lượt lọc bị xuất huyết (1 trường hợp bị tràn máu màng ngoài tim sau khi phẫu thuật bắt cầu mạch vành được 48 giờ, trường hợp còn lại do xuất huyết u dạ dày sau 6 giờ lọc máu SLED)(5)

Rối loạn điện giải cũng là một biến chứng thường gặp trong quá trình lọc máu SLED Các nghiên cứu trước đó khuyến cáo nên theo dõi điện giải đồ chặt chẻ nhất là các trường hợp lọc máu SLED hằng ngày, bởi vì có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân bị hạ kali và hạ phosphate trong quá trình lọc máu(5) Trong nghiên cứu của chúng tôi

có 27 lượt lọc có hạ kali sau khi lọc máu chiếm tỷ

lệ 19,2% Tuy nhiên, hầu hết các bệnh nhân TTTC đều vô niệu nên sau một thời gian kali máu tăng trở lại và chúng tôi không phải bổ sung kali cho bất kỳ trường hợp nào Chúng tôi cũng ghi nhận không có trường hợp nào hạ kali

máu nặng gây rối loạn nhịp tim hoặc tử vong

Bảng 7: Tỷ lệ tụt HA trong một số nghiên cứu

Nghiên cứu Tổng số lượt lọc Số lượt lọc tụt HA Tỷ lệ (%)

Ponce(7) 1367 649 47,5

Nhận xét: tỷ lệ tụt HA trong quá trình lọc

máu SLED thay đổi tùy nghiên cứu và dao động

từ 17% đến 47,5%

Tỷ lệ hạ HA trong nghiên cứu của chúng tôi

là 17,1% Hầu hết các trường hợp hạ HA được

xử trí bằng cách truyền dịch hoặc tăng liều vận mạch hoặc thêm thuốc vận mạch Một trường hợp chúng tôi truyền albumin 20% và một trường hợp truyền máu do hồng cầu của bệnh

Trang 7

nhân này trước lọc máu quá thấp Không có

trường hợp nào phải ngừng lọc máu do biến

chứng hạ HA

KẾT LUẬN

Lọc máu SLED là phương pháp điều trị hỗ

trợ có hiệu quả cho các bệnh nhân TTTC nằm

tại khoa ICU Ít ảnh hưởng đến huyết động của

BỆNH NHÂN với dấu hiệu sinh tồn trước và

sau lọc máu không đổi (p > 0,05) Phương pháp

này góp phần điều chỉnh rối loạn nước và điện

giải tương đối tốt, BUN sau lọc máu giảm 55%

so với BUN trước lọc (p = 0,001), creatinin sau

lọc máu giảm 45% so với creatinin trước lọc (p =

0,001) Quy trình lọc máu SLED áp dụng trong

nghiên cứu tương đối an toàn, dễ thực hiện, chỉ

gặp các biến chứng nhẹ và có thể xử trí được, tỷ

lệ xuất huyết là 2,13%, tỷ lệ hạ huyết áp trong

quá trình lọc máu là 17,1%, không có trường

hợp nào tử vong do biến chứng trong quá trình

lọc máu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đỗ Hữu Nam (2013), "Phương thức SLEDD trong ICU" In:

Vũ Đình Thắng, Cao Hoài Tuấn Anh, Võ Anh Khoa Lọc Máu

Liên Tục Nhà xuất bản Y học, Thành Phố Hồ Chí Minh, pp

tr 137‐146

cardiovascular tolerability of extended dialysis in critically ill

patients: a randomized controlled study", American journal of

kidney diseases, 43 (2), pp 342‐349

sustained low efficient dialysis versus continuous renal replacement therapy on renal recovery after acute kidney injury in the intensive care unit: A systematic review and

meta‐analysis", Nephrology 22 (2017) 343–353

veno‐venous high‐flux haemodialysis in patients with acute renal failure and multiple organ dysfunction syndrome using

a single path batch dialysis system", Nephrology Dialysis Transplantation, 15 (8), pp 1189‐1193

low‐efficiency dialysis for critically ill patients requiring renal

replacement therapy", Kidney international, 60 (2), pp 777‐785

thận cấp ở bệnh nhân điều trị tại khoa hồi sức bệnh viện Chợ

Rẫy", Luận án chuyên khoa 2, Trường đại học Y Dược thành

phố Hồ Chí Minh

dialysis in acute kidney injury patients: metabolic and fluid

control and risk factors for death", PloS one, 8 (12), pp e81697

"Sustained low‐efficiency extended dialysis (SLED) with single‐pass batch system in critically‐ill patients with acute

kidney injury (AKI)", J Nephrol, 29 (3), pp 401‐409

"Sustained low efficiency dialysis using a single‐pass batch system in acute kidney injury‐a randomized interventional trial: the REnal Replacement Therapy Study in Intensive Care

Unit PatiEnts", Critical Care, 16 (4), pp 1

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w