1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị đau dây thần kinh V bằng phẫu thuật giải ép vi mạch tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

5 95 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 256,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá kết quả điều trị đau dây thần kinh V bằng phương pháp vi phẫu thuật giải ép vi mạch thực hiện tại Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ ĐAU DÂY THẦN KINH V BẰNG PHẪU THUẬT GIẢI ÉP

VI MẠCH TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

Lê Trọng Nghĩa * , Trần Hoàng Ngọc Anh ** , Trịnh Xuân Hậu * , Nguyễn Quốc Giang *

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu : đánh giá kết quả điều trị đau dây thần kinh V bằng phương pháp vi phẫu thuật giải

ép vi mạch thực hiện tại Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

Phương pháp nghiên cứu : tiền cứu mô tả các trường hợp đau dây thần kinh V nhập Bệnh Viện Nhân

Dân Gia Định để điều trị bằng phẫu thuật từ 05/2010 đến 06/2015 Bệnh nhân được ghi nhận triệu chứng lâm sàng, đánh giá kết quả cải thiện triệu chứng lúc xuất viện, các biến chứng, và theo dõi bằng tái khám hoặc qua điện thoại

Kết quả : tổng số 30 trường hợp, nữ chiếm tỉ lệ 73%, tuổi trung bình 50, thời gian đau trước mổ trung bình

60 tháng Thường gặp nhất là đau nhánh V2, V3 (50%) Trên MRI thấy được mạch máu chèn vào dây V trong 57% trường hợp Thời gian theo dõi trung bình 20 tháng Sau phẫu thuật (83%)bệnh nhân hết đau Hiện tại (77%) hết đau, 13% giảm đau, 10% tái phát Sau mổ, các bệnh nhân thường hay bị chóng mặt, 2 bệnh nhân bị dò dịch não tủy, 1 bệnh nhân nhiễm trùng nông vết mổ, tất cả đều ổn

Kết luận : với sự nỗ lực đầu tư trang thiết bị của bệnh viện, chúng tôi đã triển khai được phẫu thuật giải ép

vi mạch, và đây là một lựa chọn điều trị hiệu quả và an toàn tiếp theo sau khi thất bại với điều trị nội

Từ khóa : đau dây thần kinh V, vi phẫu giải ép vi mạch, chèn ép mạch máu thần kinh

ABSTRACT

MICROVASCULAR DECOMPRESSION FOR TRIGEMINAL NEURALGIA

AT NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL

Le Trong Nghia, Tran Hoang Ngoc Anh, Trinh Xuan Hau, Nguyen Quoc Giang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 6 - 2015: 269 - 273

Objectives : evaluate results of treatment of trigeminal neuralgia by microvascular decompression at Nhan

Dan Gia Dinh Hospital

Method : prospective study of trigeminal neuralgia cases, which were treated by surgical therapy at Nhan

Dan Gia Dinh Hospital from 05/2010 to 06/2015 The patients were recorded clinical symtoms, improvement, complications and observed by follow-up examination or by phone

Results : there were totally 30 cases, female: 73%, mean age : 50, mean times of history : 60 months

Common pain distribution was V2V3 (50%) Mean times of follow up: 20 months There was neurovascular conflict on MRI: 57% 83% cases achieved pain free post operated At the moment, 77% cases is pain free, 13% cases reduce pain, and 10% has recurrent pain Many of patients sufer from postoperated dizziness, 2 cases suffered CSF leak, 1 infectious case, all of them were recover

Conclusion : with effort of providing modern equipment, we performed microvascular decompression

surgery, this is a safe and effective method for trigeminal neuralgia

Key words: trigeminal neuralgia, microvascular decompression, neurovascular compression

* Khoa Ngoại thần kinh BV Nhân Dân Gia Định ** BM Ngoại Thần Kinh DHYD

Tác giả liên lạc: BS CK I Lê Trọng Nghĩa, ĐT: 0913404549, Email: nghiale001@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau dây thần kinh số V đã được biết đến từ

rất lâu, nhưng người được xem là đầu tiên mô tả

về nó là một bác sĩ Ả râp và thế kỷ XI Sau này

đến năm 1829, Charles Bell đã mô tả được giải

phẫu của dây thần kinh V, ông cho rằng dây

thần kinh V là dây thần kinh chi phối cảm giác

vùng mặt cũng như vận động của các cơ nhai

Từ cơ sờ này các nhà khoa khoa học đã tiến hành

nghiên cứu dây thần kinh V nhằm đưa ra

phương pháp điều trị hiệu quả cho các cơn đau

vùng mặt(5)

Phẫu thuật giải ép vi mạch đã được chấp

nhận là một phương pháp điều trị hiệu quả đau

dây V Jannetta là người có công mô tả chi tiết

giả thuyết chèn ép mạch máu thần kinh, được

chấp nhận là nguyên nhân gây ra cơn đau mặt,

và kỹ thuật phẫu thật giải ép vi mạch Từ đó

phương pháp này được phổ biến rộng rãi và đã

có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh

được hiệu quả của nó.

Năm 1998, Mark R McLaughlin mô tả kinh

nghiệm sau 4400 ca phẫu thuật giải ép vi mạch(6)

Năm 2014, Xia, Lei MD công bố kết quả tổng kết

25 công trình nghiên cứu với tổng cộng 6847

bệnh nhân với tỉ lệ thành công là 83.5%(4) Năm

2008, tác giả Bùi Phú Ấn công kết quả phẫu thuật

giải ép vi mạch điều trị đau dây thần kinh V tại

bệnh viện Chợ Rẫy, đến năm 2012, tác giả Bùi

Huy mạnh cũng công bố kết quả phẫu thuật cho

26 bệnh nhân đau dây thần kinh V, với kết quả

giảm đau sau mổ là 85%(1)

Tại Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định, năm

2010, với sự hỗ trợ của kính vi phẫu mới trang bị,

chúng tôi đã triển khai mổ vi phẫu giải ép vi

mạch điều trị đau dây V Với phương pháp này

chúng tôi đã đạt được những kết quả ban đầu

tương đối tốt trong điều trị bệnh lý đau dây thần

kinh V

Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi

muốn đánh giá lại đặc điểm lâm sàng, hình ảnh

học cũng như kết quả đạt được trên những bệnh

nhân được chúng tôi thực hiện phẫu thuật giải

ép vi mạch điều trị đau dây V tại BV Nhân Dân Gia Định

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tiền cứu mô

tả hàng loạt ca Thực hiện tại Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định Thời gian thu thập số liệu từ tháng 5/2010 đến tháng 06/2015

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn

Tất cả những bệnh nhân đau dây thần kinh

V đã được điều trị bằng phẫu thuật giải ép vi mạch

Tiêu chuẩn loại trừ

Những bệnh nhân mất hồ sơ hay không tái khám và không liên lạc được sau khi xuất viện Mỗi bệnh nhân được khám lâm sàng, chụp cộng hưởng từ khảo sát mối tương quan mạch máu thần kinh vùng góc cầu tiểu não Bệnh nhân

sẽ được tư vấn về các phương pháp điều trị bằng can thiệp ngoại khoa, ưu, khuyết điểm và nguy

cơ của từng phương pháp để bệnh nhân chọn lựa cách điều trị

Tất cả các bệnh nhân đã được phẫu thuật giải

ép vi mạch để điều trị đau dây thần kinh V được lấy lại hồ sơ bệnh án Chúng tôi tiến hành thu thập dữ liệu về dịch tễ, lâm sàng và hình ảnh học, cũng như quá trình tái khám của bệnh nhân sau khi xuất viện Đối với những bệnh nhân không có dữ liệu về tái khám sau khi xuất viện thì chúng tôi tiến hành liên hệ qua điện thoại Những bệnh nhân nào không liên lạc được thì loại khỏi nghiên cứu

KẾT QUẢ Dịch tễ học

Trong thời gian 5 năm, chúng tôi đã tiến hành phẫu thuật giải ép vi mạch cho 30 bệnh nhân đau dây thần kinh V Tuổi trung bình là 50, trẻ nhất là 26 và già nhất là 67 tuổi, trong đó chủ yếu là tuổi trung niên: 50% trường hợp từ 40 đến

58 tuổi Đa số là nữ giới chiếm khoảng 73%

Trang 3

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học

Phẫu thuật

Lâm sàng và hình ảnh học

Bệnh sử trung bình các bệnh nhân đau dây

thần kinh V diễn tiến khoảng 60 tháng Tất cả các

bệnh nhân đều có triệu chứng lâm sàng điển

hình với cơn đau nhói như điện giật, phân bố

theo các nhánh của dây thần kinh V, cơn đau

thường khởi phát khi sờ chạm vào một điểm nào

đó trên mặt hay khi ăn hoặc đánh răng thậm chí

chỉ là một cơn gió thổi vào mặt Tất cả các bệnh

nhân đều đáp ứng với điều trị bằng

carbamazepine trước đó, tuy nhiên hiện tại đã

thất bại Đa số BNI trước mổ là V Bệnh nhân bị

chủ yếu đau bên phải (97%) Vị trí đau thường

gặp nhất là nhánh V2V3 (50%), các vị trí đau

hiếm gặp là V1V3, hay V1V2V3

Bảng 2: Đặc điểm cơn đau

Tất cả các bệnh nhân sau đó được thực

hiện chụp cộng hưởng từ não không có thuốc

tương phản, trong đó có một chuỗi xung hình

ảnh với độ phân giải cao nhằm khảo sát mối

tương quan mạch máu thần kinh vùng góc cầu

tiểu não Trên hình ảnh phim MRI, không có

trường hợp nào có thương tổn của não, chúng

tôi ghi nhận khoảng 57% các trường hợp có

hình ảnh mạch máu tiếp xúc với dây thần kinh

V đoạn trong sọ

Kết quả điều trị

Trong các bệnh nhân phẫu thuật, chúng tôi tiếp cận vào góc cầu tiểu não bằng đường mổ retrosigmoid, mở sọ hố sau sát xoang ngang và xoang xích ma, mở màng cứng hình chữ Y, bóc tách màng nhện để tiếp cận được dây thần kinh

V Chúng tôi luôn tìm thấy ít nhất một mạch máu chèn vào dây thần kinh V Vì đây là phẫu thuật chức năng nên chúng tôi cố gắng không làm tổn thương các mạch máu vùng góc cầu tiểu não, tuy nhiên một số trường hợp chúng tôi phải đốt một nhánh của tĩnh mạch đá để có thể tiếp cận được dây V Thông thường dây thần kinh V

bị chèn bởi 1 mạch máu (67%) và chủ yếu là động mạch

Bảng 3: Đặc điểm trong mổ

Kết quả phẫu thuật lúc xuất viện có 25 (83%) bệnh nhân hết đau mặt không cần phải dùng thêm carbamazepine, 5 (17%) bệnh nhân chỉ giảm đau và cần dùng thêm thuốc Sau thời gian theo dõi trung bình khoảng 20 tháng đến nay, có thêm 1 trường hợp hết đau, nhưng có 4 trường hợp tái phát trở lại, tuy nhiên các trường hợp tái phát này vẫn đáp ứng với thuốc, riêng có 1 trường sau phẫu thuật chỉ giảm đau và đáp ứng với thuốc giảm đau, sau đó tái phát đau nhiều trở lại phải nhập viện để nhiệt đông hạch Gasser qua da, và sau đó cũng chỉ giảm đau và phải tiếp tục dùng thuốc Như vậy hiện tại tỉ lệ bệnh nhân hết đau với phẫu thuật là 23 (77%) bệnh nhân Các trường hợp còn lại vẫn phải tiếp tục dùng thuốc, và đáp ứng tốt với carbamazepine

Bảng 4: Kết quả phẫu thuật

Trang 4

Sau mổ không có bệnh nhân nào tử vong,

khó chịu thường gặp sau mổ là chóng mặt gặp

trên 12 bệnh nhân (40%), nguyên nhân là do

lúc phẫu thuật rút bớt dịch não tủy làm xẹp

tiểu não để dể thao tác Không có bệnh nhân

nào bị tổn thương dây thần kinh sọ Có 2( 7%)

trường hợp bị dò dịch não tủy Có một trường

hợp (3%) bị nhiễm trùng vết mổ, tuy nhiên sau

đó các bệnh nhân đều được điều trị ổn và

không để lại di chứng

Bảng 5: Các biến chứng sau mổ

BÀN LUẬN

Bệnh lý đau dây thần kinh V đã được mô tả

từ rất lâu Đến nay, việc điều trị bệnh lý này đã

đạt được nhiều tiến bộ nhờ sự hỗ trợ của trang

thiết bị y khoa tiên tiến Hiện nay, tại bệnh viện

chúng tôi, điều trị đau dây V có 2 hướng, ban

đầu là điều trị nội khoa dùng thuốc với chủ yếu

là carbamazepine Sau khi thất bại với thuốc, do

thuốc không còn hiệu quả hay gây ra các tác

dụng phụ nặng nặng nề, chúng tôi sẽ tư vấn

bệnh nhân chuyển sang phương pháp can thiệp

ngoại khoa bao gồm nhiệt đông hạch Gasser qua

da và vi phẫu thuật giải ép vi mạch

Về phân bố độ tuổi, bệnh thường gặp ở tuổi

trung niên với 50% trường hợp từ 40 đến 58 tuổi

vì một trong những khuyết điểm của phương

pháp giải ép vi mạch là phải chịu nguy cơ của

cuộc mổ, nguy cơ này tăng theo tuổi cũng như

các bệnh lý nội khoa đi kèm, do đó trong quá

trình chọn lựa bệnh, có một số bệnh nhân lớn

tuổi (trên 70 tuổi) chúng tôi ưu tiên các phương

pháp điều trị nhẹ nhàng như dùng thuốc hay

nhiệt đông hạch Gasser qua da

Trong nhóm bệnh nhân đau dây V được

chúng tôi điều trị bằng các can thiệp ngoại khoa,

số lượng bệnh nhân còn khá ít với 30 ca phẫu

thuật giải ép vi mạch Tuy nhiên về đặc điểm lâm sàng khá điển hình như tính chất cơn đau, phân bố giới tính với chủ yếu là nữ giới và vị trí đau thường gặp nhất là nhánh V2V3(2) Và vì đây

là một rối loạn về chức năng, không gây nguy hiểm đến tính mạng, và đáp ứng ban đầu rất tốt với thuốc nên các bệnh nhân thường có bệnh sử khá lâu trước khi phải can thiệp bằng ngoại khoa (trung bình là 60 tháng)

Trên hình ảnh MRI của các bệnh nhân đau dây thần kinh V, ngoài việc không ghi nhận các thương tổn nội sọ, thì tỷ lệ quan sát thấy mạch máu chèn vào dây thần kinh V là không cao (57%) Điều này một lần nữa cho thấy chẩn đoán xác định bệnh lý đau dây thần kinh

V chủ yếu dựa vào cơn đau điển hình, và MRI chỉ giúp loại trừ các bệnh lý như u não, avm,

xơ cứng rải rác…

Kết quả phẫu thuật với tỉ lệ thành công sau

mổ là 83% bệnh nhân hết đau, cho thấy kết quả chúng tôi đạt được cũng tương tự so với các công trình nghiên cứu khác trên thế giới(1,8,4,3), mặc dù số lượng bệnh của chúng tôi chưa nhiều Hiện tại có 3 trường hợp tái phát đau sau khi đã hết đau, và và 1 trường hợp tái phát đau sau khi giảm đau chiếm tỉ lệ tái phát trong vòng 5 năm sau phẫu thuật là 13%

Ngoài ra còn có một bệnh nhân bị nhiễm trùng vết mổ nông và 2 bệnh nhân bị dò dịch não tủy, trong đó 1 bệnh nhân điều trị ổn với dẫn lưu thắt lưng và kháng sinh, một bệnh nhân

bị dò dịch não tủy qua mũi sau khi xuất viện, nguyên nhân là do màng cứng không được vá kín và xoang chủm không được xử lý tốt nên dịch não tủy theo xoang chủm vào tai giữa rồi theo vòi Eustache ra xoang mũi họng, bệnh nhân này phải nhập viện để phẫu thuật vá lỗ dò, và các bệnh nhân này đều ổn định không để lại di chứng nào Từ đó chúng tôi rút kinh nghiệm luôn cố gắng vá màng cứng thật kín kiểm tra và

xử lý kỹ xoang chủm sau khi khoan sọ cũng như trước khi đặt lại nắp sọ

Trang 5

KẾT LUẬN

Thông qua những kết quả ban đầu chúng tôi

đạt được khi điều trị đau dây V bằng phẫu thuật

giải ép vi mạch mặc dù với số lượng bệnh nhân

không nhiều, nhưng vẫn cho thấy đây là một

phương pháp điều trị hiệu quả an toàn, là lựa

chọn điều trị tiếp theo sau khi thất bại với điều

trị nội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

thần kinh trong điều trị đau dây V tại Bệnh Viện Việt Đức tạp

chí Y học thực hành, tập 10, tr 89-92

neuralgia, J neurosurgery, vol 58(7),p 225-228

neurosurgery – Seven edition, pp 551-562

Decompression Surgery for Treatment of Trigeminal

Neuralgia: A Systematic Review, J neurosurgery, vol 63(8), p225- 229

nonoperative management, Youman neurological surgery - six edition, pp 1776 – 1780

cranial nerves: lessons learned after 4400 operations Neurosurgery focus

approach Neurosurgery 61(S4):175-192

Decompression for Trigeminal Neuralgia, J neurosurgery, vol 25(9), p367- 342

Ngày nhận bài báo: 5/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo : 12/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 05/12/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm