1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự thay đổi của đường cong Spee ở bộ răng vĩnh viễn: Nghiên cứu dọc từ 13-18 tuổi

7 187 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 353,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm xác định độ sâu và bán kính của đường cong Spee của cung răng vĩnh viễn hàm dưới ở người 13 và 18 tuổi và đánh giá sự thay đổi của những đặc điểm này trong giai đoạn bộ răng vĩnh viễn từ 13-18 tuổi.

Trang 1

SỰ THAY ĐỔI CỦA ĐƯỜNG CONG SPEE Ở BỘ RĂNG VĨNH VIỄN:

NGHIÊN CỨU DỌC TỪ 13-18 TUỔI

Nguyễn Bảo Trân*, Nguyễn Thị Kim Anh**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định độ sâu và bán kính của đường cong Spee của cung răng vĩnh viễn hàm dưới ở

người 13 và 18 tuổi và đánh giá sự thay đổi của những đặc điểm này trong giai đoạn bộ răng vĩnh viễn từ 13-18 tuổi

Phương pháp: Với mô thức nghiên cứu dọc, mẫu nghiên cứu gồm 35 trẻ (16 nam, 19 nữ) có bộ răng vĩnh

viễn lành mạnh và đầy đủ được theo dõi liên tục từ 13 đến 18 tuổi Hình ảnh mặt bên mẫu hàm hàm dưới được ghi lại bằng cách chụp ảnh kỹ thuật số có chuẩn hóa Độ sâu và bán kính đường cong Spee được đo đạc gián tiếp qua ảnh chụp mặt bên mẫu hàm hàm dưới bằng phần mềm AutoCAD

Kết quả nghiên cứu: Các giá trị đặc trưng của đường cong Spee của cung răng vĩnh viễn hàm dưới ở nam và nữ không

có sự khác biệt có ý nghĩa ở 13 và 18 tuổi Khi đánh giá sự thay đổi của những đặc điểm này trong giai đoạn từ 13-18 tuổi, nhận thấy độ sâu đường cong Spee giảm có ý nghĩa và bán kính đường cong Spee tăng có ý nghĩa

Kết luận: Xu hướng thay đổi của đường cong Spee của cung răng vĩnh viễn hàm dưới từ 13-18 tuổi là ngày càng ít cong

hơn Mặt phẳng nhai cung răng vĩnh viễn hàm dưới trở nên phẳng ra hơn

Từ khóa: đường cong Spee, độ sâu đường cong Spee, bán kính đường cong Spee

ABSTRACT

CHANGES OF THE CURVE OF SPEE IN PERMANENT DENTITION: A LONGITUDINAL STUDY

FROM 13 TO 18 YEARS OF AGE

Nguyen Bao Tran, Nguyen Thi Kim Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 7 - 13

Objectives: the aims of this study are to determine the depth and radius of the curve of Spee (COS) in 13

and 18 year-old-people and to evaluate the changes of COS from 13 to 18 years of age

Method: 35 people (16 males, 19 females) with sound and complete dentition longitudinally participated in

this study Dental casts of mandibular were collected every year The depth and radius of COS were measured based on the standardized photographs of dental casts by AutoCAD software

Results: Values of the curve of Spee had no significant difference between males and females During the

time from 13 to 18 years old, the depth of the Spee curve decreased significantly, while the radius of this curve increased significantly

Conclusions: The curve of Spee showed some modifications from 13 to 18 years of age, which was

determined as becoming more flattened

Keywords: the curve of Spee, the Spee depth, the Spee radius

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ thống hàm mặt của con người, đặc biệt là

bộ răng, là một tổng thể thống nhất được sắp xếp

một cách tinh tế, theo những nguyên tắc nhất định, giúp hoạt động chức năng diễn ra hiệu quả Mỗi răng trên cung hàm có đặc điểm giải phẫu và vị trí thích hợp để không chỉ đảm nhận

* Học viên Nội trú khóa 2011-2014, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược, Thành phố Hồ Chí Minh

** Bộ môn NKCS, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

được chức năng chuyên biệt của từng răng mà

còn đảm bảo cho sự hài hoà cho toàn bộ cung

răng và khớp cắn

Khi nhìn từ phía bên cung răng hàm dưới,

các răng được sắp xếp để hình thành nên một

đường cong cắn khớp Đường cong này được

mô tả lần đầu tiên vào năm 1890 bởi Von Spee,

mà sau này được biết đến qua thuật ngữ “đường

cong Spee”(14,15) Theo Spee, đường cong Spee

đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chức

năng của bộ răng vì nếu mặt nhai các răng sắp

xếp theo một mặt phẳng, do sự hiện diện của lồi

khớp, hai cung răng không thể trượt theo chiều

trước sau để thực hiện chức năng nhai nghiền

Trong thực hành nha khoa, việc điều chỉnh hoặc

tái tạo lại đường cong Spee sao cho hài hòa với

hướng dẫn lồi cầu, hướng dẫn răng cửa, mặt

phẳng khớp cắn và độ cao của múi răng giả là

một yêu cầu bắt buộc trong chỉnh hình răng mặt

cũng như phục hình toàn hàm để đạt được một

khớp cắn chức năng và ổn định

Trên thế giới, hình ảnh đường cong Spee ở

bộ răng vĩnh viễn với các giá trị cơ bản là độ sâu

và bán kính đã được nhiều tác giả quan tâm

nghiên cứu vì tầm quan trọng về mặt lâm sàng

của nó (Ferrario (1997, 1999)(4,5), Orthlieb

(1997)(13), Kobayashi (1998)(7), Xu (2004)(16),

Marshall (2006)(8)…) Theo các nghiên cứu trên,

đường cong Spee có sự thay đổi trong giai đoạn

vị thành niên theo xu hướng giảm độ sâu và

tăng bán kính Ở tuổi trưởng thành, đường cong

Spee gần như không thay đổi

Tại Việt Nam, Hoàng Tử Hùng và Nguyễn

Thị Kim Anh lần đầu tiên cho số liệu đo đạc

cụ thể về đường cong Spee ở bộ răng vĩnh

viễn của người trưởng thành (1994)(9) và tiếp

theo đó, nghiên cứu về sự thay đổi của đường

cong này trên bộ răng sữa ở trẻ từ 3-5 tuổi

(2007)(10) Song vẫn chưa có nghiên cứu nào về

sự thay đổi của đường cong Spee theo thời

gian ở bộ răng vĩnh viễn

Nhằm tiếp nối các công trình nghiên cứu

trên, góp phần hoàn thiện những thông số về

đặc điểm hình thái học cung răng vĩnh viễn người Việt và sự thay đổi của các đặc điểm này theo thời gian, chúng tôi thực hiện nghiên cứu

về đường cong Spee ở bộ răng vĩnh viễn từ 13-18 tuổi với những mục tiêu sau:

1- Xác định độ sâu và bán kính của đường cong Spee của cung răng vĩnh viễn hàm dưới ở người 13 và 18 tuổi

2- Xác định sự thay đổi về độ sâu và bán kính của đường cong Spee của cung răng vĩnh viễn hàm dưới trong giai đoạn từ 13 - 18 tuổi

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu nghiên cứu

Gồm 35 mẫu hàm hàm dưới (16 nam và 19 nữ) được chọn từ 358 cặp mẫu hàm của trẻ em

tham gia chương trình “Theo dõi và chăm sóc răng

miệng đặc biệt trong 15 năm (1996-2010)” do Bộ Y

Tế quản lý, thực hiện tại Khoa RHM – ĐH Y Dược TP.HCM Đối tượng nghiên cứu được chọn theo các tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn chung

Có cha mẹ, ông bà nội ngoại là người VN, dân tộc Kinh

Có tình trạng sức khỏe bình thường, không

có dị tật bẩm sinh hay bất hài hòa mặt, không mắc bệnh ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể và hệ thống đầu mặt – cung răng

Không chỉnh hình răng mặt

Tiêu chuẩn về răng

Có đủ 28 răng vĩnh viễn trên cung hàm Không bị bất thường hình dạng và số lượng răng

Khớp cắn ANGLE hạng I

Tiêu chuẩn chọn lựa mẫu hàm

Phải đủ 2 mẫu hàm hàm dưới tương ứng với

độ tuổi 13 và 18 của cùng một cá thể Cung răng cân xứng, không có răng trồi và răng lún ảnh hưởng đến các đường cong cắn khớp

Ghi dấu rõ ràng và đầy đủ các chi tiết của

Trang 3

răng và cung răng

Phương pháp nghiên cứu

Mô thức nghiên cứu

Nghiên cứu dọc thuần túy trên một nhóm

người nhất định được theo dõi liên tục từ 13 đến

18 tuổi, dữ liệu được thu thập lần thứ nhất lúc 13

tuổi và lần thứ nhì lúc 18 tuổi

Phương tiện nghiên cứu

- Máy ảnh kỹ thuật số loại DSRL, hiệu

NIKON D5100, độ phân giải 16,2 MP

- Chân máy ảnh

- Thước thủy tĩnh

- Bút lông kim

- Hệ thống định vị mẫu hàm:

Chân đỡ mẫu hàm: gồm một mâm nhỏ để

giữ mẫu hàm và 3 nhánh chân Mâm có thể

nghiêng và các nhánh chân có thể thay đổi kích

thước để định vị mẫu hàm theo hướng lựa chọn

Tấm kính dùng để chuẩn hóa mặt nhai mẫu

hàm gắn cố định trên thanh đứng bằng ốc khóa

Tấm kính dày 3mm, được chỉnh song song với

mặt phẳng ngang bằng thước thủy tĩnh

Các điểm mốc được chọn trên mẫu hàm

Chọn 3 điểm mốc để xác định độ sâu và bán

kính của đường cong Spee (dựa theo nghiên cứu

của Nguyễn Thị Kim Anh (1994, 2012)(9,11), gồm:

đỉnh múi răng nanh, đỉnh múi gần ngoài răng

cối lớn I và đỉnh múi xa ngoài răng cối lớn II

Các thông số kích thước của đường cong Spee

Độ sâu đường cong Spee (S Spee ): khoảng cách

từ đỉnh múi gần ngoài răng cối lớn I dưới đến

đường thẳng nối đỉnh múi xa ngoài răng cối lớn

II dưới và đỉnh múi răng nanh dưới

Bán kính đường cong Spee (RSpee): bán kính

đường tròn ngoại tiếp tam giác có 3 đỉnh lần lượt

là đỉnh múi răng nanh dưới, đỉnh múi gần ngoài răng cối lớn I dưới, đỉnh múi xa ngoài răng cối

lớn II dưới

Mô tả phương pháp đo đạc các thông số kích thước của đường cong Spee

Bước 1: Chụp ảnh mẫu hàm hàm dưới nhìn từ phía bên phải mẫu hàm (dựa theo phương pháp

của Farella(2) và Xu(16) có điều chỉnh) Các tác giả trên đã chọn một bên của mẫu hàm (phải hoặc trái) để nghiên cứu Nhiều nghiên cứu khác về đường cong Spee trên thế giới và tại Việt Nam đều nhận thấy hình thái đường cong Spee bên phải và trái cung răng không có sự khác

phía bên phải mẫu hàm hàm dưới để chụp ảnh nghiên cứu

Chuẩn hóa mẫu hàm sao cho mặt nhai song song mặt phẳng ngang:

Tấm kính được chỉnh song song mặt phẳng ngang Đặt mẫu hàm lên chân đỡ và điều chỉnh chạm tấm kính ít nhất 3 điểm: một điểm trên răng trước và hai điểm vùng răng sau hai bên (theo phương pháp của Hoàng Tử Hùng(12)) Chuẩn hóa máy ảnh sao cho:

Mặt ống kính vuông góc mặt phẳng ngang

và song song đường thẳng đi qua đỉnh múi răng nanh và đỉnh múi xa ngoài răng cối lớn II hàm dưới (hình 1 và 2)

Hình 1 Chuẩn hóa mặt ống kính vuông góc mặt phẳng

ngang

Hình 2 Chuẩn hóa mặt ống kính song song đường

thẳng đi qua đỉnh múi răng nanh và đỉnh múi xa ngoài răng cối lớn II hàm dưới

Trang 4

Tâm ống kính trùng với đỉnh múi ngoài răng

cối nhỏ II hàm dưới

Chụp ảnh từng mẫu hàm bằng chế độ

Mannual, tiêu cự 105mm, khẩu độ F16

Bước 2: Chuyển ảnh vào máy vi tính, dùng

phần mềm AutoCAD 2007 đo độ sâu và bán

kính đường cong Spee

Hình 3 Ảnh chụp mặt hàm hàm dưới từ phía bên

phải mẫu hàm

Xử lý số liệu

Dùng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý thống kê

số liệu thu thập, trình bày đặc trưng thống kê cơ bản (số trung bình, độ lệch chuẩn) Sử dụng kiểm định t cho 2 mẫu độc lập hoặc kiểm định

Mann-Whitney để so sánh các đặc điểm nghiên

cứu giữa giữa nam và nữ Sử dụng kiểm định t cặp đôi hoặc kiểm định dấu hạng Wilcoxon để

so sánh dọc các đặc điểm nghiên cứu từ 13 đến

18 tuổi

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Các đặc trưng của đường cong Spee ở cung răng vĩnh viễn hàm dưới ở người 13 và 18 tuổi

Bảng 1 và 2 trình bày các số liệu thống kê mô

tả về độ sâu và bán kính của đường cong Spee ở người 13 và 18 tuổi, chung cho hai giới

Bảng 1 Các thông số về đường cong Spee ở trẻ 13 tuổi, chung cho nam và nữ

Biến số Trung bình

(mm)

Độ lệch chuẩn (mm)

Sai số chuẩn (mm)

Hệ số biến thiên (%)

Khoảng tin cậy 95%

(mm)

So sánh với các nghiên cứu khác về độ sâu

của đường cong Spee ở bộ răng vĩnh viễn,

chúng tôi nhận thấy: ở trẻ vị thành niên (13

tuổi), độ sâu đường cong Spee trong nghiên

cứu này là 2,23mm, xấp xỉ với kết quả nghiên

cứu của Nguyễn Thị Kim Anh cũng ở trẻ em

Việt Nam 13 tuổi (2012)(11) thực hiện bằng

phương pháp đo trực tiếp trên mẫu hàm là

2,03mm Sự khác biệt về độ sâu giữa hai

nghiên cứu là 0,2mm, phù hợp với nhận định

của Hirogaki (2001)(6): sự khác biệt giữa đo kích thước cung răng trực tiếp trên mẫu hàm

và đo gián tiếp qua hình ảnh mẫu hàm là dưới 0,3mm Độ sâu đường cong Spee trong nghiên cứu của Marshall ở trẻ người Mỹ 12,5 tuổi(8) là 2,17mm, cũng xấp xỉ với trẻ em Việt Nam trong nghiên cứu này Độ sâu đường cong Spee trong nghiên cứu của Carter ở trẻ người

Mỹ 14 tuổi(1) là 1,86mm, thấp hơn đo trên trẻ Việt Nam

Bảng 2 Các thông số về đường cong Spee ở người 18 tuổi, chung cho nam và nữ

Biến số Trung bình

(mm)

Độ lệch chuẩn (mm)

Sai số chuẩn (mm)

Hệ số biến thiên (%)

Khoảng tin cậy 95% (mm)

Ở người trưởng thành, độ sâu đường cong

Spee trong nghiên cứu này là 1,75mm, nhỏ hơn

kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh

trên người Việt trưởng thành từ 18-25 tuổi(9) là

1,91mm Độ sâu đường cong Spee trong nghiên

cứu của Xu trên người Nhật 21 tuổi(16) là 1,9mm

và của Marshall trên người Mỹ 27 tuổi(8) là 2,02mm, lớn hơn trẻ em Việt Nam trong nghiên cứu này Độ sâu đường cong Spee trong nghiên cứu của Carter trên người Mỹ 48 tuổi(1) là 1,5mm, thấp hơn trẻ Việt Nam

So sánh giữa nam và nữ, bảng 3 và 4 cho

Trang 5

thấy ở 13 và 18 tuổi, độ sâu đường cong Spee của

nam nhỏ hơn nữ và bán kính đường cong Spee

của nam lớn hơn nữ nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Bảng 3 Độ sâu và bán kính đường cong Spee ở trẻ 13 tuổi, so sánh giữa nam và nữ

Biến số Nam (n=16) Nữ (n=19) p Mức ý nghĩa

TB ĐLC TB ĐLC

(1): Kiểm định t cho hai mẫu độc lập, (2): Kiểm định Mann-Whitney

Bảng 4 Độ sâu và bán kính đường cong Spee ở người 18 tuổi, so sánh giữa nam và nữ

Biến số Nam (n=16) Nữ (n=19) p Mức ý nghĩa

TB ĐLC TB ĐLC

(1): Kiểm định t cho hai mẫu độc lập, (2): Kiểm định Mann-Whitney

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp

với kết quả của nhiều nghiên cứu khác: độ sâu

đường cong Spee không có sự khác nhau giữa

hai giới(3,9,11,16) Tuy nhiên, Kobayashi (1998)(7) khi

nghiên cứu về đường cong Spee ở người Nhật

trưởng thành lại nhận thấy có sự khác biệt có ý

nghĩa về độ sâu đường cong Spee giữa nam và

nữ: nữ sâu hơn nam

Những thay đổi của đường cong Spee ở

cung răng vĩnh viễn hàm dưới từ 13 - 18 tuổi

Sự thay đổi của đường cong Spee từ 13-18

tuổi được đánh giá qua hai tham số đặc trưng cơ

bản:

Độ sâu đường cong Spee (SSpee): giảm có ý nghĩa từ 2,23mm ở 13 tuổi xuống 1,75mm ở 18 tuổi (giảm -0,48mm, p<0,001) Điều này nói lên mặt phẳng nhai cung răng vĩnh viễn trở nên ít cong hơn hay phẳng hơn trong giai đoạn từ 13 đến18 tuổi

Bán kính đường cong Spee (RSpee): tăng có ý nghĩa từ 80,78mm ở 13 tuổi lên 104,89mm ở 18 tuổi (tăng 24,10mm, p<0,001)

Bảng 5 Sự thay đổi các đặc trưng của đường cong Spee ở cung răng vĩnh viễn hàm dưới từ 13-18 tuổi

Biến số 13 tuổi 18 tuổi Khác biệt p Mức ý

nghĩa

TB ĐLC TB ĐLC TB ĐLC

S Spee

Nam

Nữ

Chung

2,145 2,301 2,229

0,508 0,452 0,478

1,697 1,794 1,750

0,524 0,583 0,551

-0,448 -0,507 -0,479

0,314 0,353 0,332

0,000(1) 0,000(1) 0,000(1)

***

***

***

R Spee

Nam

Nữ

Chung

86,484 75,978 80,781

20,339 18,799 19,945

109,548 100,959 104,885

28,665 32,802 30,838

23,064 24,981 24,104

15,926 21,708 19,034

0,000(2) 0,000(2) 0,000(2)

***

***

***

(1): Kiểm định t cặp đôi, (2): Kiểm định dấu hạng Wilcoxon

Như vậy, xu hướng thay đổi của đường cong

Spee trong giai đoạn từ 13-18 tuổi là ngày càng ít

cong hơn, mặt phẳng nhai của cung răng vĩnh

viễn hàm dưới có khuynh hướng phẳng hơn Xu

hướng thay đổi của đường cong Spee ở giai đoạn

vị thành niên trong nghiên cứu này tương tự với

kết quả các nghiên cứu khác trên thế giới:

Carter(1) và Marshall(8) nhận thấy độ sâu đường cong Spee giảm trong giai đoạn vị thành niên, Ferrario(5) xác định rằng từ 13-20 tuổi bán kính đường cong Spee tăng và mặt phẳng nhai cung răng vĩnh viễn hàm dưới phẳng hơn Sau giai đoạn vị thành niên, độ sâu của đường cong Spee tương đối ổn định(1,8)

Theo dõi sự hình thành và phát triển của

Trang 6

đường cong Spee từ giai đoạn bộ răng sữa đến

tuổi trưởng thành, nghiên cứu dọc của Marshall

trên 33 người Mỹ(8) cho thấy: ở bộ răng sữa, độ

sâu đường cong Spee có giá trị nhỏ nhất, ở độ

tuổi từ 4 đến 5 tuổi, độ sâu trung bình là 0,24 -

0,25mm; khi bắt đầu mọc các răng cửa và răng

cối lớn vĩnh viễn I hàm dưới (6-7 tuổi), độ sâu

trung bình đường cong Spee tăng lên có ý nghĩa,

đạt 1,32mm; độ sâu này gần như không thay đổi

cho đến khi mọc răng cối lớn vĩnh viễn II hàm

dưới (12,5 tuổi) độ sâu đường cong Spee đạt đến

giá trị tối đa là 2,17mm Ở giai đoạn tuổi vị thành

niên, độ sâu đường cong Spee giảm có ý nghĩa

với giá trị trung bình ở 16 tuổi là 1,98mm Ở bộ

răng vĩnh viễn người trưởng thành, độ sâu đường cong Spee gần như không thay đổi với giá trị trung bình là 2,02mm ở 27 tuổi

Tại Việt Nam, qua hai nghiên cứu dọc thuần túy khảo sát sự thay đổi các giá trị đặc trưng của đường cong Spee, một ở giai đoạn bộ răng sữa(10)

và một ở giai đoạn sớm của bộ răng vĩnh viễn (nghiên cứu này), chúng tôi nhận thấy: độ sâu đường cong Spee giảm trong giai đoạn bộ răng sữa, sau đó độ sâu tăng lên ở bộ răng vĩnh viễn khi răng cối lớn II mọc và ăn khớp hoàn chỉnh (13 tuổi) và có xu hướng giảm trong giai đoạn từ

13 đến 18 tuổi (biểu đồ 1)

Biểu đồ 1 Độ sâu đường cong Spee trên bộ răng sữa và bộ răng vĩnh viễn người Việt

Lý giải cho sự thay đổi của đường cong Spee

theo thời gian, Marshall(8) cho là do sự tăng

trưởng của cấu trúc sọ mặt, sự phát triển của hệ

thống cơ-thần kinh và sự thay đổi của các răng

(sự mọc răng và những dịch chuyển sinh lý tự

nhiên của bộ răng), tuy nhiên cơ chế sinh học

của quá trình thay đổi này vẫn chưa được biết

đến một cách rõ ràng và đầy đủ Theo Ferrario,

sự xoay của các răng sau hàm dưới theo hướng

ngày càng nghiêng ngoài (do thành phần lực

hướng về phía ngoài) và nghiêng gần (do thành

phần lực hướng ra trước), làm thay đổi dần độ

cong của các đường cong cắn khớp(5)

Như vậy, đường cong Spee luôn thay đổi

theo thời gian dưới tác động của rất nhiều yếu

tố Muốn xác định đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng

đến sự thay đổi của đường cong Spee, cần có

những nghiên cứu sâu hơn tìm hiểu mối tương quan hỗ tương giữa đường cong Spee và các thành phần khác của hệ thống nhai trong quá trình hoạt động chức năng của bộ răng như độ dốc của sườn sau lồi khớp xương thái dương, độ cắn phủ, cắn chìa của răng trước và lực nhai…

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu, chúng tôi rút ra được những kết luận chính như sau:

Các giá trị đặc trưng của đường cong Spee của cung răng vĩnh viễn hàm dưới ở nam và nữ không có sự khác biệt có ý nghĩa ở 13 và 18 tuổi Khi đánh giá sự thay đổi của đường cong Spee trong giai đoạn từ 13-18 tuổi, nhận thấy độ sâu đường cong Spee giảm có ý nghĩa và bán kính đường cong Spee tăng có ý nghĩa Như vậy,

Trang 7

mặt phẳng nhai cung răng vĩnh viễn trở nên ít

cong hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Carter GA, McNamara JA (1998), “Longitudinal dental arch

changes in adults”, Am J Orthod Dentofac Orthop, 114, pp.88-99

2 Farella M, Michelotti A, van Eijden TMGJ, Martina R (2002),

“The curve of Spee and craniofacial morphology: a multiple

regression analysis”, Eur J Oral Sci, 110, pp.277-281

3 Ferrario VF, Sforza C, Miani Jr A, Colombo A, Tartaglia G

(1992), “Mathematical definition of the curve of Spee in

permanent healthy dentition in man”, Archs oral Biol, 37(9),

pp.691-694

4 Ferrario VF, Sfoza C, Miani A (1997), “Statistical evaluation of

Monson’s Sphere in healthy permanent dentitions in Man”,

Archs oral Biol, 42(5), pp.365-369

5 Ferrario VF, Sfoza C, Poggio CE, Serrao G, Colombo A (1999),

“Three-dimensional dental arch curvature in human

adolescents and adults”, Am J Orthod Dentofac Orthop, 115(4),

pp.401-405

6 Hirogaki Y, Sohmura T, Satoh H, Takahashi J, Takada K

(2001), “Complete 3D reconstruction of dental cast shape

using perceptual grouping”, IEEE Trans Med Imaging, 20,

pp.1993-1101

7 Kobayashi M, Arai K, Ishikawa H (1998), “A

three-dimensional analysis of the curve of Spee in Japanese normal

occlusions”, Orthod Waves, 57(4ӧ), pp.258-267

8 Marshall SD, Caspersen M, Hardinger RR, Franciscus RG,

Aquilino SA, Southard TE (2006), “Development of the curve

of Spee”, Am J Orthod Dentofac Orthop, 134(3), pp.344-352

9 Nguyễn Thị Kim Anh, Hoàng Tử Hùng (1994), “Đặc điểm

hình thái đường rìa cắn đỉnh múi ngoài cung răng dưới theo 3

chiều trong không gian”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học

Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP.HCM, tr.24-30

10 Nguyễn Thị Kim Anh (2007), “Sự thay đổi của đường cong

Spee trong giai đoạn bộ răng sữa ở trẻ em từ 3 đến 5 tuổi”, Tạp

Chí Y Học TP.HCM, tập 11(2), tr.01-09

11 Nguyễn Thị Kim Anh (2012), “Kích thước cung răng vĩnh

viễn hàm dưới ở trẻ 13 tuổi”, Tạp Chí Y Học TP.HCM, tập

16(2), tr.34-39

12 Nguyễn Thị Mỹ Linh (2011), Hình thể cung răng hàm trên ở trẻ

12 tuổi, Tiểu luận tốt nghiệp Bác Sĩ Răng Hàm Mặt, Khoa

Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP.HCM

13 Orthlieb J (1997), “The Curve of Spee: understanding the

sagittal organization of mandibular teeth”, The Journal of

Craniomandibular Pratice, 15(4), pp.333-340

14 Spee FG, Beidenbach MA, Hotz M, Hitchcock HP (1980), “The

gliding path of the mandible along the skull”, J Am Dent Assoc,

100, pp.670-675

15 The Academy of Prosthodontics (2005), “The Glossary of

Prosthodontic Terms”, J Prosthet Dent, 94(1), pp.10-92

16 Xu H, Suzuki T, Muronoi M, Ooya K (2004), “An evalution of the curve of Spee in the maxilla and mandible of human

permanent healthy dentitions”, J Prosthet Dent, 92, pp.536-539

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w