1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ của trẻ sơ sinh đẻ non tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế

7 150 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 334,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đa số trẻ đẻ non có tuổi thai từ 34-

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ

NGUY CƠ CỦA TRẺ SƠ SINH ĐẺ NON TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ

Nguyễn Thị Thanh Bình*, Trương Thị Hồng*, Phạm Thị Ny*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ của trẻ sơ sinh đẻ non

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang Cỡ mẫu thuận tiện gồm 89 trẻ sơ sinh có tuổi thai

dưới 37 tuần sinh ra và được theo dõi tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2016 đến tháng 3/2017

Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ 1,28/1, 70,8% trẻ từ 34-<37 tuần 44,9% có cơn ngưng thở, 61,8% trẻ có vàng da

tăng bilirubin gián tiếp, 92,1% trẻ đi tiểu và 74,2% trẻ đi cầu phân su trong 24 giờ đầu sau sinh Nhiễm trùng sơ sinh và vàng da tăng bilirubin gián tiếp là hai bệnh lý thường gặp nhất 37,0% trẻ đẻ non không rõ nguyên nhân Một số yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía mẹ là ối vỡ non 44,9%, mẹ sốt trước, trong hoặc sau sinh 3 ngày 23,6% ,

mẹ trên 35 tuổi 15,7%, mẹ bị tiền sản giật 12,4% Yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía thai là đa thai 20,2% và suy thai 5,6%.

Kết luận: Đa số trẻ đẻ non có tuổi thai từ 34-<37 tuần Yếu tố nguy cơ của đẻ non thường gặp nhất là ối vỡ

non, mẹ có sốt trước, trong hoặc sau sinh 3 ngày, đa thai Tuy nhiên, có khoảng 1/3 số trẻ đẻ non không rõ nguyên nhân

Từ khóa: Sơ sinh, đẻ non, yếu tố nguy cơ của đẻ non

ABSTRACT

CHARACTERISTICS AND SOME RISK FACTORS OF PRETERM INFANTS

IN HUE UNIVERSITY HOSPITAL

Nguyen Thi Thanh Binh, Truong Thi Hong, Pham Thi Ny

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine *Vol 22 - No 4- 2018: 215 – 221

Objectives: Describe clinical characteristics and some risk factors of preterm infants

Methods: A descriptive study A convenient sample of 89 preterm were born in Hue University Hospital,

Hue, Viet Nam from 5/2016-3/2017

Results: Male/female was 1.28 /1; 70.8% preterm were 34- 37 weeks 44.9% had apnea, 61.8% had

hyperbilirubinemia, 92.2% had urinary excretion and 74.2% had meconium smears in the first 24 hours Early neonatal infection and hyperbilirubinemia are the two most common pathologies 37.0% of premature were unexplained Some risk factors for preterm birth were 44.9% premature rupture of membranes, 23.6% of fever in mother, 35.7% of mothers older than 35 years old, pre-eclampsia 12.4% Risk factors for fetal preterm birth were multiple gestation (20.2%) and fetal distress (5.6%)

Conclusions: Most premature babies have a gestational age from 34 to 37 weeks The most common risk

factors for prematurity include premature rupture of membranes, fever in their mother, multiple pregnancies However, the exact cause of one-thirds of premature haven’t just known

* Trường Đại Học Y Dược Huế

Trang 2

Key words: Neonate, premature, preterm, risk factor of preterm infant

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sơ sinh đẻ non là những trẻ sơ sinh sống

sinh ra trước 37 tuần thai (WHO) Năm 2010,

trên toàn thế giới có khoảng 11,1% trẻ đẻ non

tương ứng với 15 triệu trẻ đẻ non mỗi năm(2)

Tới năm 2015, tỷ lệ trẻ đẻ non dao động từ 5%

đến 18%

Trẻ đẻ non có tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc

bệnh cao hơn những trẻ sơ sinh đủ tháng vì

các cơ quan của trẻ chưa đủ trưởng thành để

thích nghi với cuộc sống bên ngoài tử cung,

thời gian nằm viện kéo dài và các thủ thuật

can thiệp trên trẻ cũng nhiều hơn Về lâu dài,

các di chứng của đẻ non sẽ ảnh hưởng tới chất

lượng cuộc sống của trẻ và cũng là gánh nặng

cho gia đình và xã hội

Biến chứng nguy hiểm nhất của đẻ non là

tử vong sơ sinh Theo WHO, năm 2015, tỷ lệ tử

vong sơ sinh chiếm 46% trong các nguyên

nhân tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó tử

vong do đẻ non là nguyên nhân hàng đầu,

chiếm 16% 3/4 số trẻ đẻ non được cứu sống

bằng các can thiệp hiệu quả nhưng nhiều trẻ

vẫn phải đối mặt với các di chứng nặng nề về

sau, bao gồm các di chứng về tinh thần, vận

động, các di chứng ở thính lực, thị lực, bệnh

phổi mạn tính

Việc tìm hiểu về các yếu tố nguy cơ của đẻ

non cũng như những đặc điểm của trẻ sau

sinh sẽ giúp cho việc phòng ngừa đẻ non và

chăm sóc trẻ đẻ non được tốt hơn, giảm tỷ lệ

mắc bệnh và di chứng cho trẻ

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố

nguy cơ của trẻ sơ sinh đẻ non

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Gồm 89 trẻ sơ sinh có tuổi thai dưới 37

tuần sinh ra tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế

từ tháng 05/2016 đến 03/2017 với các tiêu

chuẩn sau:

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Trẻ đẻ non dưới 37 tuần được sinh ra và theo dõi tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế

Người nhà đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Trẻ được chuyển lên tuyến trên ngay sau sinh

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang Cỡ mẫu thuận tiện

Các bước thực hiện: Những trẻ đủ tiêu chuẩn tham gia vào nghiên cứu sẽ được hỏi về tiền sử, bệnh sử của mẹ, các bệnh lý của mẹ, thăm khám và theo dõi các triệu chứng của trẻ

và ghi vào phiếu nghiên cứu

Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để thực hiện thống kê mô tả và phân tích

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Trong 89 trẻ sơ sinh đẻ non (SSĐN) được nghiên cứu, có 50 trẻ nam chiếm 56,2% và 39 trẻ nữ chiếm 43,8% Tỷ lệ nam/nữ là 1,28/1

Phân loại sơ sinh theo tuổi thai

70,8% trẻ đẻ non có tuổi thai từ 34-<37 tuần, không có trẻ nào dưới 28 tuần (bảng 1)

Bảng 1 Phân loại sơ sinh theo tuổi thai

Tuổi thai < 28

tuần

28-< 32 tuần

32-< 34 tuần

34-< 37

Tỷ lệ (%) 0,0 2,2 27,0 70,8 100

Chỉ số cân nặng lúc sinh, chiều dài, vòng đầu của nhóm nghiên cứu

Tuổi thai càng lớn thì cân nặng, chiều dài và vòng đầu của trẻ càng lớn (bảng 2)

Một số đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu

Các đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu

Trang 3

Đa số trẻ có thân nhiệt bình thường, tần số

tim khoảng 140 lần/phút, 23,6% trường hợp có

thở nhanh, 44,9% có cơn ngưng thở 92,1% trẻ

đi tiểu và 74,2% trẻ đi cầu phân su lần đầu

trong 24 giờ đầu 61,8% trẻ có vàng da (Bảng 3)

Bảng 2 Chỉ số cân nặng lúc sinh, chiều dài, vòng đầu

của nhóm nghiên cứu

Giá trị trung bình

( ±SD)

Nhóm tuổi thai

<34 tuần (n=26) 34-<37 tuần

(n=63)

Cân nặng lúc sinh

(gram) 1765,4 ± 220,8 2101,6 ± 286,5

Chiều dài (cm) 41,15 ± 1,43 44,57 ± 2,69

Vòng đầu (cm) 29,42 ± 1,10 30,71 ± 1,35

Bảng 3 Các đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu

Tần số tim trung bình (lần/phút) 140,0 ± 11,35

Thở nhanh >60 lần/phút 21 23,6

Đi phân su trong 24 giờ đầu sau

Đi tiểu lần đầu trong 24 giờ sau

Số trẻ có vàng da trong thời

Thời gian bắt đầu xuất hiện

vàng da

48,3 ± 20,74 giờ

Các bệnh lý mắc phải của nhóm nghiên cứu

Bảng 4 Các bệnh lý của nhóm nghiên cứu

Bệnh lý

< 34 tuần 34 - < 37 tuần

N1=26 % N2=63 % Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm 20 76,9 47 74,6

Nhiễm khuẩn sơ sinh mắc

Vàng da tăng bilirubin gián

Suy hô hấp sơ sinh 10 42,3 18 28,6

Hạ glucose máu 3 11,5 15 23,8

Nhận xét: Hai bệnh lý thường gặp nhất ở

nhóm nghiên cứu là nhiễm khuẩn sơ sinh sớm

và vàng da tăng bilirubin gián tiếp

Một số yếu tố nguy cơ của đẻ non

Trong 89 trẻ, có 56 trẻ (63,0%) ghi nhận được

yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía mẹ hoặc thai, 33

trường hợp chưa rõ nguyên nhân chiếm 37,0%

Một số yếu tố nguy cơ dẫn đến đẻ non từ phía

mẹ Bảng 5 Yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía mẹ

Yếu tố thể trạng, bệnh lý và kinh tế

xã hội

Tuổi mẹ > 35 tuổi 14 15,7

Nhiễm trùng đường tiểu trong 3 tháng

Mẹ bị viêm âm hộ, âm đạo 5 5,6

Mẹ bị tiêu chảy trong những ngày

Mẹ sốt trước, trong hoặc 3 ngày sau

Yếu tố sản phụ khoa

Nhận xét: ối vỡ non (44,9%), mẹ sốt trước,

trong hoặc sau sinh 3 ngày (23,6%), mẹ lớn tuổi trên 35 tuổi (15,7%) , tiền sản giật (12,4%) là các yếu tố nguy cơ gây đẻ non có tỷ lệ cao hơn các nguyên nhân khác

Một số yếu tố nguy cơ dẫn đến đẻ non từ phía thai nhi

Bảng 6 Một số yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía thai

nhi

Nhận xét: Yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía thai

nhi chỉ ghi nhận được đa thai và suy thai

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Giới tính

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ trẻ nam: nữ là 1,28:1 Tỷ lệ này tương tự với một số nghiên cứu khác Theo Trương Thị Như Huyền (2013)

tỷ lệ nam/nữ là 53,8%/46,2%(14) Nguyễn Thị Hồng Hương (2014), trẻ nam chiếm 56,5%(9) Nghiên cứu của Kunle-Olowu (2014) tỷ lệ nam/nữ là 1,1/1(5)

Trang 4

Theo Zeitlin, tỷ lệ trẻ nam sinh non cao

hơn nữ có thể do nhiều cơ chế: thai nhi nam có

trọng lượng lớn hơn nên dễ gây chuyển dạ

sớm, thai nhi nam nhạy cảm với những bệnh

lý liên quan đến sinh non như tăng huyết áp

thai kỳ hoặc nhiễm khuẩn, sự khác biệt giữa

nam và nữ về những quá trình sinh lý có liên

quan giới tính như chuyển dạ - một quá trình

được tác động bởi estrogen sinh ra từ tiền chất

androgen(17)

Tuổi thai

Nghiên cứu của chúng tôi có 70,8% trẻ đẻ

non từ 34-<37 tuần, nhưng không có trẻ sơ

sinh dưới 28 tuần vì những trẻ SSĐN < 28 tuần

và một số trẻ từ 28-<32 tuần có dấu hiệu nặng

được chuyển ngay lên tuyến trên từ phòng

sinh hoặc phòng mổ

Kết quả này cũng tương tự nghiên cứu của

Trương Thị Như Huyền (2013), SSĐN 33-37

tuần chiếm tỷ lệ cao nhất (77,8%), 28-32 tuần

chiếm 18,7%, <28 tuần chiếm 3,5%(14) Nghiên

cứu của Nguyễn Thị Hồng Hương (2014),

80,0% trẻ đẻ non có tuổi thai từ 33-<37 tuần,

20% trẻ có tuổi thai 28-32 tuần, không có trẻ

cực non dưới 28 tuần(9) Theo số liệu thống kê

từ 184 quốc gia trên thế giới, Blencowe (2012)

đã ghi nhận tỷ lệ trẻ đẻ non theo tuổi thai lần

lượt là 5,2 % trẻ <28 tuần, 10,4% trẻ từ 28-32

tuần và 84,3% trẻ 33-37 tuần(2)

Chỉ số cân nặng, chiều dài, vòng đầu của trẻ sơ

sinh đẻ non

Kết quả ở bảng 2 cho thấy cân nặng, chiều

dài và vòng đầu của trẻ sơ sinh có tuổi thai từ

34-<37 tuần đều cao hơn nhóm trẻ <34 tuần

Theo Nguyễn Thị Kim Phương (2007), các chỉ

số nhân trắc của trẻ sơ sinh tăng dần có ý

nghĩa thống kê theo tuổi thai (p <0,001)(10)

Theo Cunningham, chiều dài, cận nặng tăng

theo tuổi thai, thai 28 tuần có chiều dài đầu

mông và cân nặng là 250 mm, 1000g, trong khi

ở thai 34 tuần là 300 mm, 2100g(3) Như vậy,

kết quả này cũng phù hợp với sự phát triển

bình thường của thai nhi ở trong tử cung

Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu

Thân nhiệt

Trong nghiên cứu này, hạ thân nhiệt chỉ chiếm 1,1% Theo nghiên cứu của Lê Minh Trác (2012), tỷ lệ hạ thân nhiệt ở trẻ sơ sinh đẻ non chiếm tỷ lệ thấp (0,7%)(6) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hương (2014), tỷ lệ hạ thân nhiệt chiếm tới 34,1% và chủ yếu ở tuổi thai 33-

<37 tuần(9) Sự khác nhau này có thể lý giải do địa điểm và thời điểm nghiên cứu khác nhau

Tần số tim

Tần số tim trung bình là 140,0 ± 11,35

lần/phút, tần số này nằm trong giới hạn bình thường của trẻ sơ sinh Thông thường tần số tim

ở trẻ sơ sinh từ 120- 160 lần/ phút(18)

Nhịp thở

Theo bảng 5, tỷ lệ ngưng thở chung của nhóm là 44,9% (40 trẻ) Trong đó, 19/26 trẻ đẻ non <34 tuần và 21/63 trẻ 34-<37 tuần Như vậy,

tỷ lệ ngưng thở ở nhóm trẻ < 34 tuần cao hơn nhóm trẻ 34-<37 tuần (73,1% so với 33,3%) Sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Ngưng thở có thể xảy ra ở 70% trẻ <34 tuần, tuổi thai càng non, nguy cơ ngưng thở càng cao Theo Zhao Jing (2011), tỷ lệ ngưng thở bệnh lý có tương quan nghịch với tuổi thai: 7% ở tuổi thai 34- 35 tuần, 15% ở 32- 33 tuần, 54% ở 30- 31 tuần và gần như tất cả trẻ

sơ sinh <29 tuần hoặc <1000 gram(18) Kết quả này cao hơn nghiên cứu của chúng tôi Sự khác biệt này có thể giải thích do sự khác nhau

về cỡ mẫu, cách chọn bệnh và địa dư nghiên cứu

Thời điểm đi cầu phân su và đi tiểu lần đầu tiên

Trong nghiên cứu này, 92,1% trẻ đi tiểu lần đầu nhưng chỉ có 74,2% trẻ đi phân su lần đầu trong 24 giờ sau sinh Nghiên cứu của Bekkali ở

198 trẻ sơ sinh từ 25-42 tuần còn cho thấy, tuổi thai càng nhỏ, thời điểm đi cầu phân su lần đầu càng trễ (p< 0,001), với tỷ lệ đi cầu phân su trong

24 giờ đầu sau sinh như sau: nhóm ≥37 tuần: 79%, 35-36 tuần là 73%, 31-34 tuần là 68%, ≤30

Trang 5

tuần là 44% Tỷ lệ trẻ đi cầu trong 48 giờ lần lượt

là 83%, 76%, 84, 75%(7)

Sự chậm đi cầu phân su ở trẻ sơ sinh đẻ non

có thể do vận động của đường tiêu hoá chưa

trưởng thành, nhu động ruột yếu(1) Theo Okoro

(2013), trẻ sơ sinh bình thường có thể đi cầu

phân su sau 24 giờ, nên xem xét làm các xét

nghiệm kiểm tra ở trẻ chậm đi cầu phân su sau

48 giờ(12)

Vàng da tăng bilirubin gián tiếp

Tỷ lệ vàng da ở trẻ sơ sinh đẻ non trong

nghiên cứu của chúng tôi chiếm 61,8% Tuy

nhiên tỷ lệ vàng da trong các nghiên cứu khác

thấp hơn: nghiên cứu của Lê Minh Trác là 30%(6),

Nguyễn Thị Hồng Hương là 31,8%(9), Võ Hữu

Đức là 25,6%(15) Sự khác biệt này là do đối tượng

nghiên cứu khác với nghiên cứu của chúng tôi

Thời điểm xuất hiện vàng da chủ yếu là

24-72 giờ, trung bình là: 48,3 ± 20,74 giờ

Nguyễn Thị Mai (2012) nghiên cứu tại bệnh

viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên,

38,7% trẻ vàng da xuất hiện ở thời điểm 49-72

giờ, vàng da xuất hiện trước 24 giờ chỉ chiếm

3,2%(11)

Các bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh đẻ non

Theo kết quả ở bảng 6, bệnh lý chiếm tỷ lệ

cao nhất ở trẻ là nhiễm khuẩn sơ sinh sớm

(NTSSS), tiếp đến là vàng da tăng bilirubin gián tiếp

Theo Trương Thị Như Huyền (2013) ở nhóm

trẻ đẻ non 28-32 tuần, NTSSS (49,1%) và suy hô

hấp không do nhiễm khuẩn (35,2%) là 2 bệnh lý

thường gặp nhất Ở nhóm 33-37 tuần, bệnh lý

phổ biến là NTSSS (57,2%) và vàng da tăng

bilirubin gián tiếp (10,3%), tiếp đến là suy hô hấp

không do nhiễm trùng (6,5%)(14) Kết quả này gần

tương tự nghiên cứu của chúng tôi, nhưng tỷ lệ

thấp hơn

Khác với nghiên cứu này, Nguyễn Thị

Hồng Hương (2014) ghi nhận tỷ lệ vàng da

tăng bilirubin gián tiếp ở nhóm 33-<37 tuần

cao hơn nhóm <33 tuần, sự khác nhau giữa các

nhóm tuổi thai có ý nghĩa thống kê (p<0,05)(9)

Nhưng tỷ lệ hạ glucose máu ở nhóm 33-<37

tuần cũng cao hơn nhóm < 33 tuần như nghiên cứu của chúng tôi(10)

Một số yếu tố nguy cơ của đẻ non

Một số yếu tố nguy cơ của đẻ non từ phía mẹ

Theo nhiều tài liệu, tuổi mẹ <16 tuổi hoặc

>35 tuổi là yếu tố nguy cơ của đẻ non Nghiên cứu của López và Bréart (2013) tại Chile, tuổi

mẹ < 18 tuổi hoặc > 38 tuổi là yếu tố nguy cơ của đẻ non (p<0,001)(7) Kết quả nghiên cứu của Martius (1998): tuổi mẹ >35 tuổi là yếu tố nguy cơ của sinh non < 37 tuần và sinh rất non

< 32 tuần với tỷ suất chênh (OR) lần lượt là 1,4

và 1,8; tuổi mẹ <18 tuổi là yếu tố nguy cơ với

OR 2 và 3,4(8) Nhưng nghiên cứu của Prunet (2017) cho biết so với năm 1995 thì năm 2010 tuổi mẹ ≥ 35 tuổi không còn là yếu tố nguy cơ của sinh non (13)

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 8,9%

bà mẹ có tiền sử sẩy thai và 3,3% bà mẹ có tiền

sử sinh non Nhiều nghiên cứu cho thấy tiền

sử sinh non là một yếu tố nguy cơ của sinh non như các nghiên cứu của Nguyễn Thị

Kunle Olowu (2014)(5), Prunet (2017)(13) Trong khi đó, Martius (1998) ghi nhận tiền sử sinh non của mẹ là yếu tố nguy cơ của sinh non nhưng tiền sử sẩy thai không phải là yếu tố nguy cơ của sinh non, thiếu máu là yếu tố nguy cơ của sinh non nhưng không phải là yếu tố nguy cơ của sinh rất non(8)

Theo Nguyễn Thị Hồng Hương (2014) mẹ

có triệu chứng ngứa âm hộ, âm đạo là một yếu

tố nguy cơ của sinh non với p <0,05, OR >1, nhưng mẹ sốt trước sinh không phải là yếu tố nguy cơ của sinh non(10) Theo Martius (1998) nhiễm khuẩn đường tiểu không phải là yếu tố nguy cơ của sinh non và sinh rất non(8) Có những sự khác biệt này có thể do cỡ mẫu của các nghiên cứu khác nhau và một số bà mẹ đã được điều trị trước khi trẻ sinh ra

Các yếu tố sản phụ khoa có nguy cơ gây đẻ non

Trong nghiên cứu này, ối vỡ non chiếm tỷ lệ

Trang 6

cao nhất 44,9% Ối vỡ non dẫn đến chuyển dạ

trong một thời gian ngắn vì nó làm cho buồng ối

hở, tăng thêm nguy cơ nhiễm trùng Nghiên cứu

của Martius (1998) cho thấy ối vỡ non là yếu tố

nguy cơ của sinh non và sinh rất non với OR lần

lượt là 2,8 và 1,6(8) Nghiên cứu của Kornacki

(2009) ghi nhận những mẹ có ối vỡ non thì hầu

hết các biến chứng sơ sinh kể cả nhiễm khuẩn sơ

sinh cao hơn đáng kể ở những trẻ < 31 tuần so

với trẻ >31 tuần thai(4)

Tỷ lệ tiền sản giật trong nghiên cứu này là

12,4% Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng

Hương (2014), tăng huyết áp thai kì chưa phải

là yếu tố nguy cơ của sinh non(9), trái lại

nghiên cứu của Kunle Olowu (2014) cho thấy

tăng huyết áp thai kì là yếu tố nguy cơ của

Martius (1998) cho thấy tiền sản giật là yếu tố

nguy cơ của sinh non và sinh rất non với OR

lần lượt là 2,7 và 4,0(8) Nhiều nghiên cứu cho

thấy viêm màng ối là yếu tố nguy cơ của sinh

non như nghiên cứu của Martius, Kunle

Olowu(5,8)

Một số yếu tố nguy cơ của đẻ non từ phía thai

nhi

Đa thai là yếu tố nguy cơ của sinh non tương

tìm thấy nghiên cứu về liên quan giữa đa thai và

các mức đẻ non Suy thai cũng là yếu tố nguy cơ

của sinh non Tuy nhiên vì số lượng trẻ suy thai

trong mẫu nghiên cứu quá thấp nên không kiểm

định được mối liên quan

KẾT LUẬN

Có 89 trường hợp đẻ non có tỷ lệ nam/nữ là

1,28/1, 70,8% trẻ có tuổi thai từ 34-<37 tuần

Đặc điểm lâm sàng

1,1% hạ thân nhiệt, 23,6% thở nhanh, 44,9%

có cơn ngưng thở và 27,0% trẻ có nôn

92,1% trẻ đi tiểu và 74,2% trẻ đi cầu phân su

lần đầu trong 24 giờ sau sinh

61,8% trẻ có vàng da tăng bilirubin gián tiếp trong tuần đầu sau sinh

Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm và vàng da tăng bilirubin gián tiếp là hai vấn đề thường gặp nhất

Yếu tố nguy cơ của đẻ non

Trong 89 trẻ, có 33 trẻ (37,0%) đẻ non không

rõ nguyên nhân

Yếu tố nguy cơ từ mẹ: Ối vỡ non 44,9%, mẹ sốt trước, trong hoặc sau sinh 3 ngày (23,6%), mẹ lớn tuổi trên 35 tuổi (15,7%) , tiền sản giật (12,4%)

là các yếu tố nguy cơ gây đẻ non có tỷ lệ cao hơn các nguyên nhân khác

Yếu tố nguy cơ từ thai: chỉ ghi nhận được hai yếu tố nguy cơ là đa thai 20,2% và suy thai 5,6%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bekkali N (2008), "Duration of meconium passage in preterm

and term infants", Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed, 93(5), p F376-9

2 Blencowe H (2012), "National, regional, and worldwide estimates of preterm birth rates in the year 2010 with time trends since 1990 for selected countries: a systematic analysis and

implications", The Lancet, 379 (9832), pp 2162-2172

3 Cunningham FG (2010), "Fetal growth and development",

Williams Obstetrics, Mc Graw Hill, p 78-106

4 Kornacki J (2009), "The influence of preterm premature rupture

of membranes on maternal and neonatal outcome", Arch Med

Sci, 5(2), p 222-28

5 Kunle-Olowu OE, Peterside O, Adeyemi OO (2014), "Prevalence and outcome of preterm admissions at the neonatal unit of a

tertiary health centre in Southern Nigeria", Open Journal of

Pediatrics., 4, p.67-75

6 Lê Minh Trác, Phan Thị Thu Nga, Lê Anh Tuấn (2012), "Thực trạng trẻ sơ sinh thấp cân, non tháng đẻ tại Bệnh Viện Phụ Sản

Trung Ương", Tạp Chí Phụ Sản, 10(2), tr 98-103

7 López PO, Bréart G (2013), "Sociodemographic characteristics of mother’s population and risk of preterm birth in Chile",

Reproductive health, 10(1), p 26

8 Martius JA (1998), "Risk factors associated with preterm (<37+0 weeks) and early preterm birth (<32+0 weeks): univariate and multivariate analysis of 106 345 singleton births from the 1994

statewide perinatal survey of Bavaria", Eur J Obstet Gynecol

Reprod Biol, 80(2), pp 183-9

9 Nguyễn Thị Hồng Hương (2014), Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý

và các yếu tố liên quan từ mẹ của loại sơ sinh đẻ non giai đoạn

sơ sinh sớm tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Huế, Luận văn

thạc sĩ của bác sĩ nội trú, Chuyên ngành Nhi, Trường Đại học Y

Dược Huế, tr.37

10 Nguyễn Thị Kim Phương (2007), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học

trẻ sơ sinh tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Trung ương Huế, Luận văn

tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, Trường Đại học Y Dược Huế, tr.32

11 Nguyễn Thị Mai (2013), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng vàng da trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Đa khoa

Trung ương Thái Nguyên", Tạp chí y học thực hành, 9(879), tr 60-65

Trang 7

12 Okoro PE, Enyindah CE (2013), "Time of passage of first stool in

newborns in a tertiary health facility in Southern Nigeria",

Nigerian Journal of Surgery, 19(1), pp 20-22

13 Prunet C (2017), "Risk factors of preterm birth in France in 2010

and changes since 1995: Results from the French National

Perinatal surveys", Journal of Gynecology Obstetrics and Human

Reproduction, 46(1), pp 19-28

14 Trương Thị Như Huyền (2013), Nghiên cứu mô hình bệnh tật

và tử vong của trẻ sơ sinh đẻ non điều trị tại khoa Nhi – Bệnh

viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng, Luận văn chuyên khoa II, Chuyên

ngành Nhi, Trường Đại Học Y Dược Huế, tr.41

15 Võ Hữu Đức, Trương Công Đầy (2009), "Đặc điểm bệnh lý vàng

da sơ sinh tại khoa Nhi Bệnh viện trung tâm Tiền Giang", Tạp

chí y học thực hành, tr 547-553

16 Weaver L, Lucas A (1993), "Development of bowel habit in

preterm infants", Archives of disease in childhood, 68(3 Spec No),

pp 317-320

17 Zeitlin J (2002), "Fetal sex and preterm birth: are males at greater

risk?" Human Reproduction, 17(10), pp 2762-2768

18 Zhao J, Gonzalez F, Mu D (2011), "Apnea of prematurity: from

cause to treatment", European journal of pediatrics, 170(9), pp 1097-1105

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w