1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân 2 trường hợp bệnh phổi mô kẽ ở trẻ em có đột biến gen SFTPC và SFPTB

4 89 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 449,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh phổi mô kẽ (BPMK) ở trẻ em là một dạng tổn thương nhu mô phổi lan tỏa, không chỉ ảnh hưởng phế nang mà còn ở cả toàn bộ mô kẽ xung quanh. Hậu quả là sự trao đổi khí phế nang bị tổn thương, chức năng phổi bị hạn chế với hình ảnh tổn thương lan tỏa trên x-quang. BPMK ở trẻem có thể tìm thấy căn nguyên, trong đó có đột biến gen liên quan sự tổng hợp protein hình thành surfactant: đột biến SFTPC và SFTPB.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017

Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản – Bà Mẹ Trẻ Em 286

NHÂN 2 TRƯỜNG HỢP BỆNH PHỔI MÔ KẼ Ở TRẺ EM CÓ

ĐỘT BIẾN GEN SFTPC VÀ SFPTB

Lý Kiều Diễm*, Trần Anh Tuấn*, Hoàng Anh Vũ**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Bệnh phổi mô kẽ (BPMK) ở trẻ em là một dạng tổn thương nhu mô phổi lan tỏa, không chỉ ảnh

hưởng phế nang mà còn ở cả toàn bộ mô kẽ xung quanh Hậu quả là sự trao đổi khí phế nang bị tổn thương, chức năng phổi bị hạn chế với hình ảnh tổn thương lan tỏa trên x-quang BPMK ở trẻem có thể tìm thấy căn nguyên, trong đó có đột biến gen liên quan sự tổng hợp protein hình thành surfactant: đột biến SFTPC và SFTPB

Ca lâm sàng: 2 trường hợp chúng tôi báo cáo có liên quan đột biến gen SFTPCvà SFTPB, một protein liên

quan hình thành bề mặt tế bào lót phế nang 1 trường hợpphát hiện bé đột biến gen SFTPC sau đó phát hiện bố cũng bị đột biến, 1 trường hợp phát hiện đột biến SFTPB mà bố mẹ bình thường.2 trường hợp này chưa được báo cáo qua những bài báo cáo trước đây

Kết luận: Bệnh phổi mô kẽ do đột biến gen SFTPCvà SFTPB rất hiếm gặp, cần thực hiện xét nghiệm đột

biến gen trên những trẻ bệnh phổi mô kẻ để tư vấn di truyền và điều trị thích hợp

Từ khóa: Bệnh phổi mô kẻ, đột biến gen SFTPC, đột biến gen SFTPB SFTPC = surfactant protein C gene

SFTPB= surfactant protein B gene

ABSTRACT

INTERSTITIAL LUNG DISEASE IN CHILDREN WITH MUTATION IN THE SFTPC AND SFPTB

GENE: A two –case report

Ly Kieu Diem, Tran Anh Tuan, Hoang Anh Vu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 1 - 2017: 286 - 289

Background: Interstitial lung disease (ILD) in children is a form of diffuse pulmonary parenchyma lesions,

which not only affects the alveoli but also the entire surrounding interstitial tissue Consequently, alveolar gas exchange is compromised, pulmonary function is limited, with diffuse lesions on x-rays The root causes of ILD in children canbe found, includingmutations in the genes associated with production of surfactant protein: SFTPBand SFTPC

Clinical cases: The mutation gene in these two cases has been identified: SFTPC and SFTPB gene, which

encode pulmonary- associated surfactant protein C and B, a protein surface forming alvevolar lining cells In the first case, we detected the gene mutation SFTPC in baby and his father, in the second case, the gene mutation SFTPB was confined to the baby with the parent unaffected These two cases have not been reported before

Conclusions: Interstitial lung disease caused by gene mutations SFTPC, SFTPBis rare, we need to perform

tests on the genetic mutation in children with interstitial lung disease We should do genetic counselling and appropriate treatment

Keywords: Interstitial lung disease, mutations SFTPC, SFTPB.

* Bệnh viện Nhi đồng 1, ** Trung tâm Y Sinh học phân tử, Đại học Y Dược TPHCM

Tác giả liên lạc: ThS BS Lý Kiều Diễm ĐT: 09083911889 Email: kieudiemy2k@yahoo.com.au

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017 Nghiên cứu Y học

BÁO CÁO CA LÂM SÀNG

Trường hợp 1

Bé trai 6 tháng tuổi nhập bệnh viện Nhi

Đồng 1 vì bệnh viện Kiên Giang chuyển với

chẩn đoán Viêm Phổi nặng, điều trị tại bệnh viện

Kiên Giang 10 ngày: ceftrione, amikacin,

imipenem triệu chứng sốt, ho, khó thở không cải

thiện chuyển Nhi Đồng 1

Tiền căn: con 1/1 sanh thường, đủ tháng, cân nặng 2,7kg Gia đình không ai suyễn, lao

Tình trạng lúc nhập viện có 2 vấn đề chính: hội chứng suy hô hấp và hội chúng nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Chẩn đoán: Viêm Phổi nặng nhập viện khoa

Hô Hấp

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của trường hợp 1

Lâm sàng Cận lâm sàng Điều trị

Thở oxy

CPAP

Thở máy

XQ ngực: viêm phổi lan tỏa 2 bên CTSCAN ngực: tổn thương kính mờ lan tỏa 2 phổi, theo dõi viêm phổi mô kẽ sau 3 ngày nhập viện

Kháng sinh: peflecin, vancomycin, dalacin, bactrim kháng lao

Suy hô hấp không cải thiện;

hội chẩn toàn viện

Sinh thiết phổi bằng phẫu thuật sau 2 tháng nằm viện Kết quả GPB: viêm phổi mô kẽ Lympho bào

Thêm prednison Suy hô hấp cải thiện ít

Tư vấn thử nghiệm gen

Xét nghiệm sinh học phân tử Đột biến gen SFTPC ở con Đột biến SFTPC bố

CT Scan Ngực: tổn thương phế nang lan tỏa

2 phổi dạng kính mờ Theo dõi viêm phổi không

điển hình

Kết quả đột biến

Phương pháp: Giải trình tự chuỗi DNA gen

SFTPB và SFTPC

Kết quả: Bệnh nhân có đột biến điểm

c.218T>C (p.Ile73Thr) trên exon 3 của gen SFTPC

Hình 1: Hình ảnh đột biến gen của trường hợp 1

Phân tích gen trên bố mẹ bé cho thấy bố bé

có đột biến tương tự

Trường hợp 2

Bé nữ 3 tuổi nhập viện Nhi Đồng 1 vì sốt, ho

> 1 tháng Tiền căn: nhập viện 4 lần Tình trạng nhập viện: hội chứng suy hô hấp

và hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp dưới

Đã được dùng nhiều loại kháng sinh nhưng không giảm

Cận lâm sàng

CT Scan ngực: mờ lan tỏa 2 phế trường dạng kính mờ nghi viêm phổi mô kẽ

Bảng 2: Diễn tiến lâm sàng của trường hợp 2

Lần 1 Lần 2( 1 năm sau lần 1) Lần 3 (3 ngày sau lần 2) Lần 4( bv PNT chuyển)

Chẩn đoán Viêm phế quản Suyễn bội nhiễm Viêm phổi Td Lao Viêm phổi mô kẽ

Kết quả phân tích gen

Yêu cầu: Khảo sát đột biến gen SFTPB và

SFTPC

Phương pháp: Giải trình tự chuỗi DNA gen SFTPB và SFTPC

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017

Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản – Bà Mẹ Trẻ Em 288

Hình 2: Hình ảnh đột biến gen của trường hợp 2

Kết quả: Bệnh nhân có đột biến điểm

c.428C>T (p.Thr143Ile) trên exon 5 của

gen SFTPB

Trường hợp này phân tích gen trên bố mẹ bé

bình thường

Điều trị thêm corticoid 2mg/kg/ngày: xuất

viện sau 37 ngày điều trị

BÀN LUẬN

BPMK ở trẻ có một loạt các nguyên nhân gây

bệnh bao gồm các bất thường di truyền của hệ

thống hoạt động bề mặt, các khuyết tật miễn

dịch, ô nhiễm môi trường và tăng sản tế bào thần

kinh nội tiết của giai đoạn phát triển phổi(2)

Trường hợp 1 minh họa sự thay đổi của mức độ

lâm sàng liên quan đến đột biến gen Trường

hợp này rất dễ bỏ qua nếu không làm xét

nghiệm sàng lọc bởi bố mang gen bệnh nhưng

vẫn khỏe mạnh, bé trai sinh ra bình thường hoàn

toàn và triệu chứng xuất hiện lúc 6 tháng tuổi

Trường hợp thứ 2 diển tiến từ từ khởi phát bệnh

chậm hơn (3 tuổi) Theo tác giả Pavia MA nghiên

cứu hồi cứu trong vòng 20 năm (1984-2004) tại

Brasil thì trẻ bị BPMK dưới 2 tuổi cũng chiếm

hơn phân nửa trong tổng dân số nghiên cứu

Lâm sàng cả 2 ca đủ tiêu chuẩn chẩn đoán

theo Katzenstein, hội chứng BPMK ở trẻ em

được định nghĩa khi trẻ có từ 3 trong 4 dấu hiệu

sau, với các triệu chứng kéo dài ít nhất

01 tháng(6)

• Triệu chứng hô hấp: ho, thở nhanh hoặc

không dung nạp với gắng sức

• Triệu chứng thực thể: ran nổ, ngón tay dùi

trống hoặc co kéo liên sườn

• Áp suất oxy trong máu thấp hay giảm oxy máu

• Bất thường nhu mô lan tỏa trên chẩn đoán hình ảnh

CT scan ngực phù hợp với BPMK giống với

y văn gần đây(5) Với kỹ thuật thích hợp, CTscan ngực có thể đủ cho một chẩn đoán để tránh cho sinh thiết phổi CT scan ngực cũng rất hữu ích trong việc theo dõi hiệu quả điều trị, như có một

sự tương quan mạnh mẽ giữa cải thiện lâm sàng

và CT Đối với trường hợp bệnh nhân chúng tôi, thực hiện CT ngực đều có tổn thương dạng kính

mờ giúp chẩn đoán BPMK Trong nghiên cứu của tác giả Chen HZ tại 11 bệnh viện ở Trung Quốc chỉ có 94,6% trẻ được chụp HRCT, trong

đó 63,6% có hình ảnh kính mờ, 30% có xuất hiện thể khảm, 1 trường hợp có hình ảnh nốt mờ có kích thước nhỏ lan tỏa, còn lại 1 trường hợp có hình ảnh nốt lưới mờ lan tỏa và có kén khí(1)

Bề mặt phổi là một hỗn hợp của chất béo và protein làm giảm sức căng bề mặt phế nang Sự thiếu hụt vì sinh non là nguyên nhân chính của trẻ sơ sinh suy hô hấp Ngoài ra, một số các ILD tìm thấy ở trẻ đủ tháng và trẻ nhỏ có một cơ sở

di truyền liên quan đến đột biến gen

Bệnh phổi do đột biến SFTPC có đặc điểm di truyền trên NST thường(3,7) Các bệnh này có một loạt các biểu hiện lâm sàng và biểu hiện khác nhau, từ hội chứng suy hô hấp sơ sinh gây tử vong cho bệnh người lớn mãn tính kẽ phổi (BPMK).Trường hợp thứ 1 chúng tôi báo cáo có liên quan đến đột biến di truyền SFTPC nhận từ bố.Đột biến điểm ATT thành ACT làm cho axit amin IIE thành Thr

Thiếu SP-B, một vật liệu cơ bản protein được lưu trữ trong các phế nang, có vai trò tạo sức căng bề mặt, gen đột biến nằm trên NST thường SFTPB (MIM 1.786.640)(2,4,6), biểu hiện suy hô hấp

sơ sinh gây tử vong nhanh chóng, mặc dù thiếu hụt một phần hoặc thoáng qua cũng đã được quan sát Trường hợp thứ 2 đột biến đột biến ACT thành ATT làm cho axit amin Thr thành IIE

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 21 * Số 1 * 2017 Nghiên cứu Y học

Thiếu SP-B và SP-C là một bệnh phổi hiếm

xảy ra ở trẻ em, Các phát hiện trên thế giới gần

đây nhờ vào sự phát triển sinh học phân tử

Chúng tôi báo cáo 2 trường hợp đột biến trong

gen SFTPC, SFTPB liên quan đến bệnh phổi mô

kẻ ở trẻ em và chưa được tìm thấy tại Việt Nam

KẾT LUẬN

Báo cáo này nêu bật tầm quan trọng của sàng

lọc cho đột biến SFTPCvà SFTPB ở trẻ em với

BPMK không rõ nguyên nhân Có một nhu cầu

rất lớn đối với các nghiên cứu sàng lọc trên

phương diện sinh học phân tử đối với trẻ BPMK

và thử nghiệm ngẫu nhiên để xác định phác đồ

tốt nhất cho các loại thuốc hiện có để cải thiện

quá trình của bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alhamad EH, Cosgrove GP (2011) “Interstitial Lung Disease:

The Initial Approach” Med Clin N Am 95, 1071–1093

2 Barbato A, Panizzolo C, Cracco A, de Blic J, Dinwiddie R, Zach M (2000) “Interstitial lung disease in children: a

multicentre survey on diagnostic approach” Eur Respir J 16,

509-13

3 Clement A, Eber E (2008) “Interstitial lung diseases in infants

and children” Eur Respir J 31 (2008) 658–666

4 Devine MS, Garcia CK (2011) “Genetic Interstitial Lung

Disease” Clin Chest Med 33 (2012), 95–110

5 Dishop MK (2011) Paediatric Interstitial Lung Disease:

Classification and Definitions Paediatric Respiratory Reviews

12, 30–237

6 Guillerman RP, Brody AS (2011) Contemporary perspectives

on pediatric diffuse lung disease Radiol Clin N Am 49, 847–

868

7 Shaheen M (2011) Clinical approach for childhood interstitial

lung disease Egyptian Journal of Bronchology.1 (2011) 54-79

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w