1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khuyến cáo chẩn đoán và điều trị hẹp động mạch cảnh ngoài sọ

6 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 214,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày một số nội dung chính sau: Tầm soát phát hiện sớm hẹp động mạch cảnh ngoài sọ ở người không có triệu chứng, phương pháp chẩn đoán hẹp động mạch cảnh ngoài sọ, chỉ định siêu âm Duplex động mạch cảnh tầm soát hẹp động mạch cảnh.

Trang 1

KHUYẾN CÁO CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ HẸP ĐỘNG MẠCH CẢNH

NGOÀI SỌ

Đỗ Kim Quế*

MỞ ĐẦU

Đột quỵ não là nguyên nhân gây tử vong thứ

3 sau bệnh tim và ung thư, tuy nhiên đây là

nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế cho bệnh

nhân Theo nghiên cứu về đột quỵ Bắc

Kentucky/Greater Cincinnati, mỗi năm ở Mỹ có

khoảng 700.000 trường hợp đột quỵ não, trong

đó 500.000 trường hợp đột quy mới, và 200.000

trường hợp đột quỵ tái phát Theo nghiên cứu

NOMASS, tần suất đột quỵ não trên 100 000 dân

ở người da đen là 223, da vàng là 196 và ờ người

da trắng là 93(2,8)

Năm 2009, nước Mỹ phải chi 68.9 tỉ Dollar

cho điều trị đột quỵ não Chi phí trung bình cho

1 trường hợp đột quỵ là 103.576 Dollar Với xuất

huyết dưới nhện là 228 030 USD, với xuất huyết

não là 123.565 USD và với đột quỵ thiếu máu

não là 90,981 USD

Hẹp động mạch cảnh ngoài sọ là một trong

những nguyên nhân chính của đột quỵ não Tần

suất hẹp động mạch cảnh > 60% ở những bệnh

nhân đột quỵ lần đầu trong nghiên cứu

NOMASS là 7% Theo báo cáo của Mayo Clinic

18% các trường hợp đột quỵ não có tổn thương

các động mạch lớn trong và ngoài sọ Trong

nghiên cứu Framingham, 9% nam và 7% nữ có

Mức độ nặng của hẹp động mạch liên quan

mật thiết với tần suất của đột quỵ não Theo

thống kê tại Texas, 10% bệnh nhân có cơn thiếu

máu não thống qua có hẹp > 70% động mạch

cảnh Theo Cinà và cộng sự, 33% những trường

hợp hẹp động mạch cảnh từ 80 – 99% có cơn

thiếu máu não hoặc nhũn não do lấp mạch trong

khi đó tỉ lệ này chỉ xuất hiện ở 0.4% ở những

Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh

cho những bệnh nhân hẹp từ 70 – 99% làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não 17% Hơn nữa phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh là một phẫu thuật an toàn tỉ lệ tử vong và biến chứng dưới 5% ở những bệnh nhân có triệu chứng và dưới 3% ở những bệnh nhân không có triệu chứng Do đó việc phát hiện sớm hẹp động mạch cảnh ngoài sọ và điều trị đúng đắn sẽ góp

Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh được De Bakey thực hiện thành công lần đầu tiên năm 1953 Sau đó năm 1985 Kieny đưa ra phương pháp bóc lớp trong động mạch cảnh kiểu lộn vỏ động mạch nhằm rút ngắn thời gian kẹp động mạch cảnh và giảm tỉ lệ hẹp tái phát Nong động mạch cảnh tại chỗ chia đôi bằng bóng đầu tiên được thực hiện vào năm 1979 bởi Mathias Sau đó, năm 1989 Theron đã thực hiện đặt stent động mạch cảnhlần đầu tiên đầu tiên,

và đến năm 1990 các dụng cụ bảo vệ não khi đặt stent động mạch cảnh đã được tiến hành Từ đó việc đặt stent đã được tiến hành ở những trung tâm lớn

Các nghiên cứu về đột quỵ não đã được nhiều trung tâm trong nước thực hiện trong những năm vừa qua Tần suất đột quỵ do thiếu máu nuôi ngày càng gia tăng Theo Lê văn Thành, tần suất đột quỵ não ở TP Hồ Chí Minh

và các tỉnh phía Nam là 415/100.000 dân trong đó

tỉ lệ đột quỵ não mới là 141/100.000 dân Tỉ lệ tử vong do đột quỵ não là 37/100.000 dân Ước tính

ở Việt Nam mỗi năm có khoảng 199.444 trường

Khuyến cáo điều trị bệnh lý tim mạch được trường môn tim mạch Mỹ và Hội tim mạch Mỹ đưa ra từ năm 1980 Từ đó tới nay các khuyến cáo trong lĩnh vực tim mạch thường xuyên được cấp nhật dựa trên các nghiên cứu khoa học có

* Bệnh viện Thống Nhất TP HCM

Trang 2

giá trị

Khuyến cáo điều trị bệnh lý động mạch cảnh

và đốt sống được cập nhật năm 2011 dựa trên

các nghiên cứu được công bố tới tháng 5/2010

Ở Việt Nam tới nay mặc dù đã có khá nhiều

trung tâm triển khai điều trị đột quỵ não và hẹp

động mạch cảnh nhưng chưa có khuyến cáo

hướng dẫn điều trị hẹp động mạch cảnh ngoài

sọ nào được công bố

Dựa trên các kết quả nghiên cứu trong và

ngoài nước về hẹp động mạch cảnh ngoài sọ,

chúng tôi đưa ra khuyến cáo này góp phần

hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh lý nguy

hiểm này

KHUYẾN CÁO

Tầm soát phát hiện sớm hẹp động mạch

cảnh ngoài sọ ở người không có triệu

chứng

Phát hiện sớm hẹp động mạch cảnh ngoài sọ

khi chưa có triệu chứng có ý nghĩa quan trọng

trong phòng ngừa đột quỵ

Siêu âm Duplex động mạch cảnh là phương

pháp đánh giá không xâm lấn có giá trị cao trong

chẩn đoán hẹp động mạch cảnh ngoài sọ chưa có

triệu chứng(13,19)

Chỉ định siêu âm Duplex động mạch cảnh tầm

soát hẹp động mạch cảnh

- Bệnh nhân có tiếng thổi ở cổ (Loại IIa,

chứng cứ C)

- Theo dõi tiến triển hẹp động mạch cảnh cho

bệnh nhân biết có hẹp động mạch cảnh > 50%

(Loại IIa, chứng cứ C)

- Bệnh nhân có hẹp động mạch ngoại biên,

động mạch vành hoặc phình động mạch chủ

(Loại IIb, chứng cứ C)

- Bệnh nhân có nhiều hơn 2 yếu tố nguy cơ

sau: Tăng huyết áp, tăng lipid máu, gia đình có

người đột quỵ, gia đình có người bị xơ vữa động mạch trước 60 tuổi (Loại IIb, chứng cứ C)

Phương pháp thực hiện siêu âm Duplex động mạch cảnh

- Siêu âm Doppler động mạch bởi Bác sĩ chuyên khoa về động mạch cảnh để xác định hẹp động mạch cảnh có ảnh hưởng huyết động được chỉ định cho bênh nhân có hẹp hoặc nghi ngờ động mạch cảnh (Loại I, chứng cứ C)

Phương pháp chẩn đoán hẹp động mạch cảnh ngoài sọ

Sử dụng các phương pháp chẩn đoán không xâm lấn

Cho bệnh nhân có biểu hiện mù hoặc yếu nửa người thoáng qua (Loại I, chứng cứ C)

Chỉ định Siêu âm Duplex

- Để xác định hẹp động mạch cảnh ở bệnh nhân có tổn thương thần kinh khu trú liên quan với vùng cấp máu của động mạch cảnh (Loại I, chứng cứ C)

- Có thể được sử dụng cho những trường hợp TIA có nguyên nhân rõ ràng (Loại IIa, chứng cứ C)

MRA hoặc CTA

- Được chỉ định ở bệnh nhân có dấu hiệu thần kinh khu trú cấp tính nhưng siêu âm không xác định được chẩn đoán hoặc kết quả siêu âm không rõ ràng (Loại I, chứng cứ C)

- Khi nguyên nhân ngoài sọ không được xác định ở bệnh nhân có TIA, cần làm CTA, MRA để xác định tổn thương mạch máu trong sọ (Loại IIa, chứng cứ C)

- Những trường hợp có khả năng phải phục hồi lưu thông mạch máu nên chụp MRA hoặc CTA khi kết quả Duplex không rõ ràng (Loại IIa, chứng cứ C)

- Trường hợp hẹp động mạch cảnh có chỉ định can thiệp phẫu thuật trên kết quả siêu âm, cần làm CTA hoặc MRA để xác định các tổn thương trong ngực hoặc trong sọ (Loại IIa, chứng cứ C)

Trang 3

- MRA không cản từ được chỉ định cho bệnh

nhân có suy thận hoặc vôi hóa động mạch lan

tỏa Nên sử dụng hệ thống MRI chất lượng hình

ảnh cao để có kết quả chính xác (Loại IIa, chứng

cứ C)

- CTA nên được sử dung để đánh giá mức

độ hẹp động mạch cảnh khi bênh nhân không

thể thực hiện MRA (Loại IIa, chứng cứ C)

Chỉ định chụp x quang động mạch:

- DSA có thể được cân nhắc cho những

trường hợp TIA và siêu âm hoặc MRA, CTA

nghi ngờ tắc động mạch nhằm xác định khả

năng tái phục hồi lưu thông động mạch (Loại

IIa, chứng cứ C)

- DSA có thể chỉ định cho bênh nhân có suy

thận nhẹ có thể dung nạp lượng cản quang vừa

phải để xácđịnh tổn thương động mạch đơn

giản (Loại IIb, chứng cứ C)

- Ở bênh nhân có TIA nhưng các phương

pháp chẩn đoán hình ảnh không sâm lấn không

thể thực hiện hoặc không kết luận được thì cần

chụp DSA (Loại IIb, chứng cứ C)

Tổn thương mạch máu trong và ngoài sọ

Nếu tổn thương mạch máu trong và ngoài sọ

không tương xứng với lâm sàng cần tìm nguyên

nhân nghẽn mạch từ tim (Loại I, chứng cứ C)

Chỉ định phục hồi lưu thông động mạch

cảnh

Chỉ định bóc lớp trong động mạch cảnh

- Bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật trung

bình hoặc thấp đã bị đột quỵ nhưng không tàn

phế hoặc có cơn thiếu máu não thoáng qua, kể cả

bệnh nhân yếu liệt nửa người và thất ngôn trong

vòng 6 tháng (có triệu chứng) nên phẫu thuật

bóc lớp trong nếu > 70% động mạch theo

phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm

lấn (Loại I, chứng cứ A) Hoặc hẹp > 50% theo

chụp x quang động mạch (Loại I, chứng cứ B)

Dự đoán nguy cơ tử vong hoặc đột quỵ trong

mổ < 6%

- Phẫu thuật phục hồi lưu thông động mạch

cảnh cho bệnh nhân không triệu chứng lâm sàng

cần cân nhắc lợi ích với nguy cơ do các bệnh lý

đi kèm, dư kiến thời gian sống thêm và sự chọn lựa của bệnh nhân (Loại I, chứng cứ C)

- Có thể chỉ định phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh cho bệnh nhân hẹp > 70% có nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim, và tử vong thấp (Loại IIa, chứng cứ A)(22,23,29,30,35,36)

- Bóc lớp trong động mạch cảnh tốt hơn đặt stent động mạch cảnh cho bệnh nhân có giải phẫu động mạch không thích hợp cho can thiệp (Loại IIa, chứng cứ B)(7,20,21,27,37,41)

- Bênh nhân có chỉ định phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh nên thực hiện sớm trong vòng 2 tuần nếu không có chống chỉ định khác (Loại IIa, chứng cứ C)

Chỉ định đặt stent động mạch cảnh:

- Bệnh nhân có nguy cơ trung bình hoặc thấp khi hẹp trong nếu > 70% động mạch theo phương pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn hoặc hẹp > 50% theo chụp x quang động mạch Dự đoán nguy cơ tử vong hoặc đột quỵ trong thủ thuật < 6% (Loại I, chứng cứ B)

- Stent động mạch cảnh tốt hơn cho bệnh nhân có giải phẫu vùng cổ không thích hợp với phẫu thuật (Loại IIa, chứng cứ B)(25,27,28,39,40)

Điều trị nội khoa trước mổ

Điều trị tăng huyết áp

Duy trì huyết áp dưới 140/90 cho bệnh nhân

có hẹp động mạch cảnh ngoài sọ do xơ vữa động mạch (Loại I, chứng cứ A)

Điều trị rối loạn lipid máu:

- Statin được chỉ định cho bệnh nhân hẹp động mạch do xơ vữa để duy trì LDL cholesterol

< 100 mg% (Loại I, chứng cứ B)

- Dùng statin duy trì LDL cholesterol < 70 mg% cho bệnh nhân nghi ngờ có đột quỵ do hẹp động mạch cảnh (Loại IIa, chứng cứ B)

- Statin nên được sử dụng cho bệnh nhân hẹp động mạch có chỉ định phẫu thuật bất kể cholesterol máu cao hay không (31) (Loại IIa, chứng cứ B)

Trang 4

- Dùng statin duy trì LDL < 70mg% ở bệnh

nhân xơ vữa động mạch cảnh có tiểu đường sẽ

làm giảm nguy cơ đột quỵ (Loại IIa, chứng cứ

B)

Kiểm soát đường huyết

Bằng ăn kiêng, dùng thuốc hạ đường phòng

ngừa đột quỵ cho bệnh nhân bệnh động mạch

cảnh do xơ vữa Tuy nhiên điều trị tích cực duy

trì HbA1C <7% chưa chứng tỏ có hiệu quả nhiều

hơn (Loại IIa, chứng cứ A)

Bệnh nhân có bệnh động mạch cảnh đang hút

thuốc

Nên được khuyên ngừng hút thuốc để giảm

tiến triển xơ vữa động mạch và nguy cơ đột quỵ

(Loại IIa, chứng cứ B)

Điều trị chống đông máu:

- Aspirin liều thấp (81 – 325 mg/ngày) giảm

nguy cơ biến cố tim mạch ở bệnh nhân hẹp động

mạch cảnh (Loại I, chứng cứ A)

- Bệnh nhân hẹp hoặc tắc động mạch cảnh

ngoài sọ nghi ngờ đột quỵ hoặc TIA có thể dùng

Aspirin 81 - 325 mg hoặc clopidogrel 75 mg hoặc

phối hợp Aspirin với Dipyridamol 25 + 200mg 2

lân/ngày (Loại I, chứng cứ B) Phối hợp Aspirin

và clopidogrel ít được ưa thích hơn (Loại I,

chứng cứ B) Việc lựa chọn phác đồ tùy từng

trường hợp, tùy khả năng dung nạp, kinh tế

(Loại I, chứng cứ B)

- Aspirin liếu thấp (81 – 325 mg/ngày) nên

được duy trì tới khi mổ (Loại I, chứng cứ A)

- Trước can thiệp nong động mạch cảnh

nên dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu kép

aspirin 81 -325 mg phối hợp clopidogrel 75

mg Với bệnh nhân không dung nạp

clopidogrel thay thế bằng ticlopidin 250 mg 2

lần/ ngày (Loại I, chứng cứ C)

- Bệnh nhân xơ vữa động mạch não ngoài sọ

có chỉ định dùng thuốc chống đông như rung

nhĩ, van tim cơ học nên sử dụng thuốc kháng

vitamin K như Warfarin để duy trì INR đạt

2,5(2,11) (Loại IIa, chứng cứ C)

Phương pháp bóc lớp trong động mạch cảnh

Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh

- Gây mê nội khí quản hoặc gây tê vùng có thể áp dụng trong phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh với kết quả không khác biệt (Loại IIa, chứng cứ C)

- Không có sự khác biệt về tỉ lệ đột quỵ giữa

sử dụng shunt tạm và không sử dung shunt tạm (Loại IIa, chứng cứ C)(4,17)

- Sử dụng miếng vá động mạch khi phục hồi động mạch cảnh tốt hơn khâu trực tiếp (1,6) (Loại IIa, chứng cứ B)(1,16)

- Bóc lớp trong kiểu lộn vỏ động mạch cho

Đặt stent động mạch cảnh:

Lưới lọc dùng khi đặt stent động mạch cảnh

cứ C)

Xử trí sau phục hồi lưu thông động mạch cảnh

- Aspirin liều thấp (75 – 325 mg/ngày), clopidogrel (75mg/ngày), hoặc phối hợp Aspirin liều thấp và Clopidogrel (75 mg/ngày), hoặc Aspirin liều thấp và dipyridamole phóng thích kéo dài (25mg và 200mg 2 lần/ngày) nên được chỉ định để phòng ngừa biến cố tim mạch do

- Kiểm soát tốt huyết áp trong và sau mổ sẽ giảm nguy cơ biến cố tim mạch (Loại I, chứng

cứ C)

- Siêu âm Dulex sau mổ 1 tháng, 6 tháng, hàng năm để xác định không hẹp tái phát và xuất hiện tổn thương mới bên động mạch đối diện Khi tình trạng ổn định khoảng cách theo

Xử trí tái hẹp động mạch cảnh

- Bệnh nhân hẹp tái phát động mạch cảnh có triệu chứng được khuyến cáo nên tái phục hồi lưu thông động mạch theo các tiêu chuẩn phục

Trang 5

hồi lưu thông động mạch cảnh lần đầu (Loại IIa,

chứng cứ C)

- Bóc lớp trong động mạch cảnh hoặc stent

động mạch cảnh lại khi tái hẹp nhanh có khả

năng gây tắc hoàn toàn xác định dựa trên chẩn

đoán hình ảnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 AbuRahma AF, Robinson PA, Saiedy S, et al (1999)

Prospective randomized trial of bilateral carotid

endarterectomies: primary closure versus patching Stroke

30:1185–9

2 Adams HP Jr, del Zoppo GJ, Alberts MJ, et al (2007)

Guidelines for the early management of adults with ischemic

stroke: a guideline from the American Heart

Association/American Stroke Association Stroke Council,

Clinical Cardiology Council, Cardiovascular Radiology and

Intervention Council, and the therosclerotic Peripheral

Vascular Disease and Quality of Care Outcomes in Research

Interdisciplinary Working Groups Stroke 38:1655–711

3 Ballotta E, Meneghetti G, Mananra R (2007) Long-term

survival and stroke-free survival after eversion carotid

endarterectomy for asymptomatic severe carotid stenosis J

Vasc Surg 33: 678-83

4 Ballotta R, Luzzani L, Carugatti C (2006) Routine shunting is

a safe and reliable method of cerebral protection during

carotid endarterectomy Ann Vasc Surg, 12: 243 – 46

5 Bhatt DL, Fox KA, Hacke W, et al (2006) Clopidogrel and

aspirin versus aspirin alone for the prevention of

atherothrombotic events N Engl J Med 354:1706 –17

6 Bond R, Rerkasem K, AbuRahma AF, et al (2004) Patch

angioplasty versus primary closure for carotid

endarterectomy Cochrane Database Syst Rev CD000160

7 Brott TG, Hobson RW, Howard G, et al (2010) Stenting

versus endarterectomy for treatment of carotid-artery stenosis

N Engl J Med 363:11–23

8 Brott TG, Halperin JL, Suhny Abbara S, Bacharach JM, Barr

JD, Bush RL, et al (2011) Guideline on the Management of

Patients With Extracranial Carotid and Vertebral Artery

Disease Circulation 123: 1-77

9 CAPRIE Steering Committee (1996) A randomised, blinded,

trial of clopidogrel versus aspirin in patients at risk of

ischaemic events (CAPRIE) Lancet 348:1329 –39

10 Chiam PT, Roubin GS, Panagopoulos G, et al (2006) One-year

clinical outcomes, midterm survival, and predictors of

mortality after carotid stenting in elderly patients Circulation

2009;119:2343– 8

11 Cho L, Mukherjee D Basic cerebral anatomy for the carotid

interventionalist: the intracranial and extracranial vessels

Catheter Cardiovasc Interv 68:104 –11

12 Cinà CS, Clase CM, Haynes BR (1999) Refining the

indications for carotid endarterectomy in patients with

symptomatic carotid stenosis: A systemic review J Vasc Surg

30:606-18

13 Corriveau MM, Johnston KW (2004) Interobsever variability

of carotid Doppler peak velocity measurements among

technologists in an ICVL-accredited vascular laboratory Vasc

Surg 39:735-41

14 Diener HC, Bogousslavsky J, Brass LM, et al (2004) Aspirin and clopidogrel compared with clopidogrel alone after recent ischaemic stroke or transient ischaemic attack in high-risk patients (MATCH): randomised, double-blind, placebo-controlled trial Lancet 364:331–7

15 Diener HC, Cunha L, Forbes C, et al (1996) European Stroke Prevention Study 2 Dipyridamole and acetylsalicylic acid in the secondary prevention of stroke J Neurol Sci.143:1–13

16 Đỗ Kim Quế (2004) Chẩn đoán và điều trị ngoại khoa hẹp động mạch cảnh ngoại sọ Y học thực hành 491:405 – 409

17 Đỗ Kim Quế, Chung Giang Đông.(2012) Điều trị ngoại khoa hẹp động mạch cảnh ngoài sọ: kinh nghiệm 200 trường hợp Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh 16(4): 256 – 261

18 Đỗ Kim Quế, Chung Giang Đông (2014) Kết quả phẫu thuật cầu nối động mạch vành trong điều trị hẹp nhiều nhánh động mạch vành ở bệnh nhân có hẹp nặng động mạch cảnh Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh 18 (3): 383 – 388

19 Đỗ Kim Quế (2008) Phẫu thuật bóc lớp trong động mạch cảnh 2 bên Y học Việt Nam, 2(352): 262-74

20 Eckstein HH, Ringleb P, Allenberg JR, et al (2008) Results of the Stent-Protected Angioplasty versus Carotid Endarterectomy (SPACE) study to treat symptomatic stenoses

at 2 years: a multinational, prospective, randomised trial Lancet Neurol 7:893–902

21 Ederle J, Dobson J, Featherstone RL, et al (2010) Carotid artery stenting compared with endarterectomy in patients with symptomatic carotid stenosis (International Carotid Stenting Study): an interim analysis of a randomised controlled trial Lancet 375:985–97

22 Executive Committee for the Asymptomatic Carotid Atherosclerosis Study (1995) Endarterectomy for asymptomatic carotid artery stenosis JAMA 273:1421– 8

23 Garg N, Karagiorgos N, Pisimisis GT, et al (2009) Cerebral protection devices reduce periprocedural strokes during carotid angioplasty and stenting: a systematic review of the current literature J Endovasc Ther 16: 412–27

24 Gray WA, Hopkins LN, Yadav S, et al (2006) Protected carotid stenting in high-surgical-risk patients: the ARCHeR results J Vasc Surg 44: 258–68

25 Gray WA, Yadav JS, Verta P, et al (2007) The CAPTURE registry: results of carotid stenting with embolic protection in the post approval setting Catheter Cardiovasc Interv 69:341–

8

26 Green RM, Greenberg R, Illig K, Shortell C, Ouriel K (2000) Eversion endarterectomy of the carotid artery: Technical considerations and recurrent stenosis Vasc Surg 32:1052-61

27 Gurm HS, Yadav JS, Fayad P, et al (2008) Long-term results

of carotid stenting versus endarterectomy in high-risk patients N Engl J Med 358:1572–9

28 Harrod-Kim P, Kadkhodayan Y, Derdeyn CP, et al (2005) Outcomes of carotid angioplasty and stenting for radiation-associated stenosis AJNR Am J Neuroradiol 26:1781– 8

29 Hobson RW, Weiss DG, Fields WS, et al (1993) Efficacy of carotid endarterectomy for asymptomatic carotid stenosis: the Veterans Affairs Cooperative Study Group N Engl J Med 328:221–7

30 Katzen BT, Criado FJ, Ramee SR, et al (2007) Carotid artery stenting with emboli protection surveillance study: thirty-day results of the CASES-PMS study Catheter Cardiovasc Interv 70:316 –23

Trang 6

31 Lamuraglia GM, Stoner MC, Brewster DC, et al (2005)

Determinants of carotid endarterectomy anatomic durability:

effects of serum lipids and lipid-lowering drugs J Vasc Surg

41:762– 8

32 Mas JL, Chatellier G, Beyssen B, et al (2006) Endarterectomy

versus stenting in patients with symptomatic severe carotid

stenosis N Engl J Med 355:1660 –71

33 Mohr JP, Thompson JL, Lazar RM, et al (2001) A comparison

of warfarin and aspirin for the prevention of recurrent

ischemic stroke N Engl J Med 345:1444 –51

34 Roth SM, Back MR, Bandyk DF, et al (1999) A rational

algorithm for duplex scan surveillance after carotid

endarterectomy J Vasc Surg 30: 453–60

35 Rothwell PM, Goldstein LB (2004) Carotid endarterectomy

for asymptomatic carotid stenosis: asymptomatic carotid

surgery trial Stroke 35: 2425–7

36 Rothwell PM, Slattery J, Warlow CP (1996) A systematic

review of the risks of stroke and death due to endarterectomy

for symptomatic carotid stenosis Stroke 27:260 –5

37 Roubin GS, New G, Iyer SS, et al (2001) Immediate and late clinical outcomes of carotid artery stenting in patients with symptomatic and asymptomatic carotid artery stenosis: a 5-year prospective analysis Circulation 103:532–7

38 Sacco RL, Diener HC, Yusuf S, et al (2008) Aspirin and extended-release dipyridamole versus clopidogrel for recurrent stroke N Engl J Med 359:1238 –51

39 Yadav JS, Wholey MH, Kuntz RE, et al (2004) Protected carotid-artery stenting versus endarterectomy in high-risk patients N Engl J Med 351:1493–501

40 Yadav JS, Sneed D, Ouriel K, et al (2005) Durability of carotid stenting for the prevention of stroke: 3-year follow-up of the SAPPHIRE tiral and the US Carotid Feasibility Circulation 112:416

41 Zahn R, Ischinger T, Hochadel M, et al (2007) Carotid artery stenting in octogenarians: results from the ALKK Carotid Artery Stent (CAS) Registry Eur Heart J 28:370 –5

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm