1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức, thái độ, hành vi của bệnh nhân và gia đình và một số yêu tố liên quan trong điều trị viêm loét dạ dày tá tràng có nhiễm Helicobacter pyloritại Bệnh viện Nhi Đồng 2

10 139 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 410,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu phân tích yếu tố kiến thức, thái độ, hành vi của bệnh nhân và gia đình và một số yếu tố có tác động đến kết cục tiệt trừ H. pylori. Nghiên cứu này đưa ra một số gợi ý hữu ích để phát triển các chương trình can thiệp cộng đồng và bằng chứng về kết quả điều trị tiệt trừ H. pylori hiện nay.

Trang 1

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA BỆNH NHÂN

VÀ GIA ĐÌNH VÀ MỘT SỐ YÊU TỐ LIÊN QUAN

TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG

CÓ NHIỄM HELICOBACTER PYLORI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Dương Thị Thanh*, Hà Văn Thiệu**, Nguyễn Minh Ngọc*, Nguyễn Trọng Trí***

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu này của chúng tôi bước đầu phân tích yếu tố kiến thức, thái độ, hành vi của

bệnh nhân và gia đình và một số yếu tố có tác động đến kết cục tiệt trừ H pylori Nghiên cứu này đưa ra một số gợi ý hữu ích để phát triển các chương trình can thiệp cộng đồng và bằng chứng về kết quả điều trị tiệt trừ H pylori hiện nay

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện từ 11/2016 đến 8/2017 tại

khoa Tiêu Hóa bệnh viện Nhi Đồng 2 Chọn mẫu bằng phương pháp thuận tiện Bố hoặc mẹ của bệnh nhân được phỏng vấn sâu bằng bảng câu hỏi khảo sát kiến thức, thái độ về H pylori Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm: 1) bệnh nhân nhận vào mẫu từ 15/11/2016 đến 15/3/2017 được điều trị ngay bằng phác đồ 3 thuốc OAM hoặc EAM (không kháng sinh đồ); 2) bệnh nhân nhận vào mẫu từ 15/3/2017 đến 30/8/2018 được kê toa PPI trong 3 tuần và sau đó tiệt trừ H pylori trong 2 tuần tiếp theo khi có kết quả cấy (có kháng sinh đồ + PCR gen CYP2C19) Sau khi kết thúc 2 tuần kháng sinh, bệnh nhân được đánh giá mức độ cải thiện lâm sàng và mức độ tuân thủ điều trị Sau 4 tuần ngưng kháng sinh và 2 tuần ngưng thuốc ức chế bơm proton, bệnh nhân có loét được nội soi kiểm tra; bệnh nhân không loét được làm test kháng nguyên H pylori trong phân (HpSA) để xác định kết quả tiệt trừ

Kết quả: Mẫu gồm 220 ca nhập viện nội soi cùng với cha hoặc mẹ của bệnh nhân Kiến thức của người

dân về H pylori còn chưa đúng và đầy đủ Có 83,2% cha hoặc mẹ của bệnh nhân đã từng nghe nói đến

“HP” hoặc “Helicobacter pylori” và 84,7% trong số đó cho rằng “nhiễm H pylori có thể dẫn đến ung thư” Những phụ huynh tin rằng nhiễm H pylori có thể dẫn đến ung thư thì có thái độ phòng ngừa lây nhiễm tiêu cực hơn Tỷ lệ kháng với các loại kháng sinh lần lượt là: Amoxicillin 53,8%; Metronidazole 42,3%; Clarithromycin 96,2%; Levofloxacin 42,3%; Tetracyclin 1,3% Với phác đồ 3 thuốc, tỷ lệ tuân thủ điều trị ≥ 80% toa được kê đạt 92% Tỷ lệ điều trị thành công trong lần tiệt trừ đầu tiên với phác đồ 3 thuốc: trong nhóm có kháng sinh đồ 60,6%; nhóm không kháng sinh đồ 50,4%

Kết luận: Cần xây dựng các chương trình can thiệp để nâng cao nhận thức của cộng đồng về H pylori

Tỷ lệ thất bại với phác đồ 3 thuốc (trong lần tiệt trừ H pylori đầu tiên) của nghiên cứu này rất cao ngay

cả khi sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tốt, có kháng sinh đồ và PCR gen CYP2C19

Từ khóa: Helicobacter pylori, kiến thức, thái độ, hành vi, kết quả điều trị

* Bệnh viện Nhi Đồng 2, **Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, ***Đại học Y Dược, TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Dương Thị Thanh ĐT: 01678899011 Email: bsduongthithanh@gmail.com

Trang 2

ABSTRACT

KNOWLEDGE, ATTITUDE, BEHAVIOR OF PATIENTS AND THEIR FAMILIES AND OTHER FACTORSIN TREATMENT GASTRI TIS AND PEPTIC ULCER DISEASE WITH HELICOBACTER

PYLORI INFECTION AT CHILDREN’S HOSPITAL 2

Duong Thi Thanh, Ha Van Thieu, Nguyen Minh Ngoc, Nguyen Trong Tri

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine* Vol 22 - No 4- 2018: 79 - 88

Objectives: Our study will initially work on how patients’ and their families’ knowledge, attitude and

practice as well as some other factors affect the result of H pylori treatment The study will also provide useful recommendations for the development of community intervention programs and also the evidences of the results of

H pylori radical treatment at the present

Methods: In this cross-sectional study was performed over an 7 month period from November 2016 until

August 2017 in Gastrointestinal department of Children Hospital 2 Parents of the patients were interviewed in details about their knowledge, attitude towards H pylori through a questionnaire The subjects were divided into two groups: 1) subjects picked from 1 November 2016 until 15 March 2017 were treated immediately with triple therapy OAM or EAM (without antibiograms); 2) subjects picked from 16 March 2017 until 30 August 2017 were treated with a PPI for three weeks and wait for the result of antibiograms to get medication for treatment in the next two weeks (with antibiograms and PCR gene CYP2C19) Patients were scheduled to revisit immediately after finishing their two weeks of antibiotics to determine the level of adherence, side effects, difficulties encountered during treatment and clinical progress After stopping 4 weeks of antibiotics and 2 weeks of PPI, patients with duodenal ulcer were given a second colonoscopy; patients withgastritis were given HpSA to evaluate treatment outcomes

Results The samples were taken from 220 patients who were hospitalized for endoscopy and accompanied by

their parents People’s knowledge of H pylori was not appropriate and adequate Up to 83.2% of patients’ parents said they had ever heard of “HP” or “Helicobacter pylori” and 84.7% of those thought H pylori infection could cause cancer Those who thought H pylori can cause cancer had negative attitude towards prevention of the infection The concerns coming from the wrong thinking that “H pylori infection can cause cancer” encourages treatment adherence The adherence rates of patients in this study are very high with two hundred-two subjects (92.3%) consumed greater than 80% of doses With triple therapy for the first time, success rate of treatment in the antibiograms group was 60.6% and in the standard therapy group was 50.4%

Conclusion It’s necessary to develop intervention programs in order to raise the awareness of the

community on H pylori The failure rate of the triple therapy in this study was very high even with good adherence, antibiograms and PCR ofCYP2C19

Key word Helicobacter pylori, knowledge, attitude, behavior, treatment outcomes

ĐẶT VẤN ĐỀ

Helicobacter pylori (HP) từ lâu đã được công

nhận là một mầm bệnh quan trọng trong sự

hình thành bệnh viêm loét dạ dày tá tràng

(VLDDTT) và là nguồn lây nhiễm vi khuẩn

mạn tính phổ biến nhất trên người Việc phát

hiện nhiễm H pylori liên quan hầu hết các

bệnh viêm loét dạ dày tá tràng tạo bước đột phá lớn trong lĩnh vực tiêu hóa(4) Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây tại Việt Nam báo

cáo tỷ lệ thất bại điều trị tiệt trừ H pylori lên

đến hơn 40% ở bệnh nhân (BN) trẻ em(1,4,5,6)

Điều trị nhiễm H pylori ở trẻ em gặp nhiều

khó khăn vì có nhiều yếu tố quyết định thành công như: đề kháng kháng sinh nguyên phát

Trang 3

hoặc thứ phát, nồng độ thuốc phân phối đến

niêm mạc dạ dày tá tràng, sự tuân thủ của

bệnh nhân, khả năng tái nhiễm cao, ảnh

hưởng của tác dụng phụ và chi phí điều

trị(4,8,10) Ngày nay, các nghiên cứu về H pylori

tập trung chủ yếu vào nghiên cứu chuyên sâu

về gen Mặt khác, yếu tố kiến thức, thái độ và

hành vi của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân

cũng là những yếu tố quan trọng góp phần

vào thành công của việc điều trị(2,3,10) Xuất phát

từ vấn đề trên, đi cùng nỗ lực tìm kiếm một

con đường mới cho điều trị tiệt trừ H pylori

chúng tôi đã quyết định thực hiện nghiên cứu

này Mục đích là tìm hiểu những yếu tố ảnh

hưởng đến sự thành công hoặc thất bại trong

điều trị tiệt trừ H pylori Trong nghiên cứu

này, chúng tôi khảo sát kiến thức - thái độ của

phụ huynh bệnh nhi, hành vi sử dụng thuốc

của bệnh nhân và phụ huynh trong điều trị

tiệt trừ H pylori Những kết quả mà nghiên

cứu này đưa ra sẽ là những gợi ý hữu ích để

các nhà lâm sàng cũng như các nhà khoa học

khác tiếp tục mở rộng nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu bước đầu phân tích yếu tố kiến

thức, thái độ, hành vi của bệnh nhân và gia đình

và một số yếu tố có tác động đến kết cục tiệt trừ

H pylori

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Đối tượng

Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian

7 tháng từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 8 năm

2017 tại khoa Tiêu Hóa, bệnh viện Nhi Đồng 2

Các đối tượng được chọn từ danh sách nội soi

ở khoa Tiêu Hóa Mẫu thu thập bằng phương

pháp thuận tiện Phụ huynh(PH) đã được tư

vấn về quyền từ chối tham gia và hiểu rõ rằng:

"việc từ chối tham gia sẽ không làm thay đổi quyết định điều trị"

Tiêu chuẩn chọn mẫu

1) Có chỉ định điều trị tiệt trừ H pylori ; 2) Tiệt trừ H pylori lần đầu;

3) Cha hoặc mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Trong thời gian tham gia nghiên cứu sử

dụng các thuốc khác toa được kê Nghiên cứu

lựa chọn bệnh nhân điều trị H pylori lần đầu

vì phác đồ điều trị lần đầu là phác đồ 3 thuốc chia làm 2 cữ uống trong ngày Các bệnh nhân thất bại với điều trị lần đầu có thể được kê toa với các phác đồ ≥ 3 loại thuốc với số cữ uống thuốc trong ngày nhiều hơn Để đảm bảo thống nhất trong đánh giá hành vi dùng thuốc, nghiên cứu này chỉ chọn đưa vào mẫu những bệnh nhân được điều trị tiệt trừ lần

đầu

Tiêu chuẩn điều trị tiệt trừ H pylori (theo guideline NASPGHAN 2011) (4) :

1) nhiễm H pylori và loét đường tiêu hóa; 2) nhiễm H pylori và người thân trực hệ bị

ung thư dạ dày;

3) nhiễm H pylori và thiếu máu thiếu sắt

kháng trị đã loại trừ các nguyên nhân khác;

4) nhiễm H pylori được chẩn đoán bằng

phương pháp dựa trên mẫu sinh thiết mà không có loét đường tiêu hóa, điều trị tiệt trừ

có thể xem xét

Phương pháp tiến hành

Tất cả phụ huynh của bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ

về nhiễm H pylori trước khi tư vấn kết quả nội

soi và kê toa điều trị.Bệnh nhân được làm CLOtest, giải phẫu bệnh (GPB)  cấy H pylori

và PCR gen CYP2C19 Mẫu chia làm 2 nhóm: 1) mẫu lấy từ 01/11/2016 đến 15/3/2017

được điều trị H pylori ngay bằng phác đồ 3

Trang 4

thuốc theo guideline NASPGHAN 2011 trong

vòng 2 tuần (không cấy);

2) mẫu lấytừ 16/3/2017 đến 30/8/2017 được

kê toa PPI 3 tuần để đợi kết quả cấyvà kê toa

tiệt trừ H pylori trong 2 tuần tiếp theo khi có

kháng sinh đồ (KSĐ) Bệnh nhân được hẹn tái

khám ngay sau khi uống đủ 2 tuần

thuốckháng sinh để xác định mức độ tuân thủ

điều trị, tác dụng phụ, khó khăn gặp phải khi

điều trị và diễn biến lâm sàng

Đánh giá việc sử dụng thuốc của bệnh

nhân bằng phỏng vấn trực tiếp thông qua

bảng câu hỏi Cha mẹ được yêu cầu nhớ lại

cách sử dụng thuốc của bệnh nhân trong hai

tuần trước đó bao gồm:

1) lượng thuốc được sử dụng;

2) thời gian dùng thuốc trong ngày;

3) làm thế nào để uống thuốc

Thuốc được xem làsử dụng đúng khi tuân

thủ đúng cả ba yếu tố trên Mức độ cải thiện

lâm sàng được xác định bằng cách so sánh tần

suất xuất hiện triệu chứng trước khi nội soi và

sau khi kết thúc 2 tuần điều trị kháng sinh

Kết quả được so sánh giữa các nhóm bệnh

nhân bao gồm:

1) có hay không xuất hiện tác dụng phụ;

2) sử dụng PPI 2 hoặc 5 tuần;

3) loại PPI sử dụng

Sau khi ngưng thuốc kháng sinh tối thiểu 4

tuần và thuốc ức chế bơm proton (PPI) tối

thiểu 2 tuần, bệnh nhân không loét được xét

nghiệm HpSA và bệnh nhân có loét được nội

soi lần 2 để xác định kết quả điều trị.Trẻ

không loét được xem là điều trị thành công

khi xét nghiệm HpSA âm tính Xét nghiệm

HpSA được tiến hành bởi khoa Vi Sinh, bệnh

viện Nhi Đồng 2 Các bệnh nhân có loét được

nội soi lần hai nhằm khảo sát sự lành sang

thương, sinh thiết gửi giải phẫu bệnh, xét

nghiệm CLO test và PCR gen H pylori Điều

trị thành công ở bệnh nhân có loét được xác

định khi kết quả âm tính ở cả 3 xét nghiệm

trên CLO test được thực hiện bởi bác sĩ nội soi ngay tại phòng nội soi Xét nghiệm sinh thiết mẫu mô niêm mạc dạ dày gửi giải phẫu bệnh được thực hiện bởi khoa Vi Sinh, bệnh viện Nhi Đồng 2 Đồng thời, một mẫu sinh thiết được gửi đến Nam Khoa Biotek để thực hiện

PCR gen H pylori hoặc nuôi cấy và làm kháng

sinh đồ Quy trình xây dựng phiếu câu hỏi được thực hiện dựa theo hướng dẫn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới về xây dựng bảng câu hỏi khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi KAP Nền tảng xây dựng bộ câu hỏi khảo sát kiến thức, thái độ dựa vào giả thuyết về các quan niệm sai lầm thường gặp của người dân về việc

nhiễm H pylori Giả thuyết bộ câu hỏi được

nêu ra bởi những bác sĩ có kinh nghiệm trong

lĩnh vực điều trị tiệt trừ H pylori thông qua

một cuộc họp lấy ý kiến đồng thuận của khoa Các mục tiêu khảo sát tập trung vào các vấn đề như sau:

1) nguồn tiếp cận thông tin về H pylori của

phụ huynh;

2) kiến thức, thái độ của phụ huynh về tác

hại của việc nhiễm H pylori;

3) kiến thức, thái độ của phụ huynh về

phòng ngừa lây lan H pylori ;

4) kiến thức, thái độ của phụ huynh về

điều trị tiệt trừ H pylori ;

5) hành vi của bệnh nhân và gia đình trong quá trình điều trị

Bộ câu hỏi được thử nghiệm trên mẫu nhỏ nhằm đánh giá:

1) tính khả thi;

2) thời gian hoàn thành;

3) mức độ rõ ràng dễ hiểu Sau đó, bộ câu hỏi được chỉnh sửa để phù hợp với mục tiêu khảo sát

Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được nhập vào STATA và phân tích thống kê bằng các phương pháp:

1) mô tả đơn biến bằng các tỷ lệ phần trăm,

số trung bình, độ lệch chuẩn, số trung vị,

Trang 5

khoảng tứ vị, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất,

giá trị tuyệt đối;

2) với biến định lượng có phân phối chuẩn

và phương sai đồng nhất hoặc biếnđịnh lượng

có phân phối không chuẩn nhưng có thể

chuyển đổi số liệuthành phân phối chuẩn

bằng cách dùng hàm log10 thì dùng ttest,

ANOVA;

3) với biến định danh, biến thứ tự, biến

định lượng có phân phối không chuẩn

hoặcphương sai không đồng nhất thì dùng

Mann-Whitney, Kruskall-Wallis.Xác định mối

liên quan giữa các biến bằng các phép kiểm:

OR, Chi bình phương, Fisher exact, phân tán

đồ, phương trình hồi quy, Logistic đơn và đa

biến, khoảng tin cậy 95% (KTC 95%)

KẾT QUẢ

Trong thời gian thực hiện, 220 bệnh nhân

thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và cha hoặc mẹ của

bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu Gửi

mẫu cấy HP ở 103/220 bệnh nhân Trong đó,

96/103 bệnh nhân được làm PCR tìm gen

CYP2C19 (bảng 1)

Những phụ đồng ý với phát biểu “tất cả

những người có ăn chung với người nhiễm

HP đều cần làm xét nghiệm kiểm tra” thì có số

chênh OR đồng ý với phát biểu “nên cho

người nhiễm ngồi ăn riêng bàn” cao hơn 4,3

lần (p<0,05) (bảng 2)

Những phụ đồng ý “nhiễm HP có thể gây

ung thư” thì có số chênh OR đồng ý với phát

biểu “nên điều trị tất cả những người nhiễm”

cao hơn 3,73 lần; số chênh OR đồng ý “nên

cho người nhiễm ngồi ăn riêng bàn” cao hơn 3

lần; số chênh OR đồng ý “tất cả những người

nhiễm HP đều phải nội soi” cao hơn 13,4 lần

so với những phụ huynh không đồng ý phát

biểu “nhiễm HP có thể gây ung thư” (các giá trị p <0,05) (bảng 3)

Bảng 1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu (N=220)

Khu vực TP.HồChí Minh 76/220 34,5

Tỉnh khác 144/220 65,5 Tình trạng

dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng 21/220 9,5 Bình thường 178/220 81 Thừacân, béo phì 21/220 9,5

Triệu chứng lâm sàng trước khi điều trị

Tiêu phân đen 29/220 13,2

Đau bụng phải nghỉ học 66/220 30

Khó tiêu sau ăn 90/220 40,9 Đau bụng mạn 206/220 93,6

Kết quả nội soi

Sung huyết 64/220 29,1

Mức độ nhiễm HP trên GPB

Kháng sinh

đồ

Kháng Amoxicillin 42/78 53,9 Kháng Clarithromycin 75/78 96,2 Kháng Metronidazole 33/78 42,3 Kháng Levofloxacin 33/78 42,3 Kháng Tetracyclin 1/78 1,3

CYP2C19

Chuyển hóa PPI Nhanh 40/96 41,7 Chuyển hóa PPI Trung

Chuyển hóa PPI Chậm 8/96 8,3

Bảng 2 Thái độ phụ huynh với tầm soát nhiễm H pylori (N=183)

Ăn chung với người nhiễm cần xét nghiệm HP

NhiễmHP nên ăn

riêng

4,3 0,002 1,5-14,8

Trang 6

Bảng 3 Quan niệm “nhiễm H pylori có thể ung thư” và thái độ với nhiễm H pylori (N=183)

Nhiễm HP có thể ung thư

Điều trị tất cả người

nhiễm

3,73 0,002 1,5-10

Nhiễm HP nên ăn

riêng

3 0,007 1,2-7,4

Nhiễm HP phải nội

soi

13,4 <0,001 4,8-37,6

Những phụ huynh nhận được thông tin về

HP từ nhân viên y tế thì có số chênh OR đồng

ý “nên điều trị tất cả những người nhiễm” cao

hơn 2,4 lần (p<0,05) Không có mối liên quan

có ý nghĩa thống kê giữa quan niệm nhiễm H

pylori có thể dẫn đến ung thư và nguồn tiếp

cận thông tin về H pylori từ nhân viên y tế với

p>0,05 (bảng 4)

Có đến 49/220 bệnh nhân xuất hiện tác

dụng phụ trong quá trình điều trị: tăng đau

bụng 13/220 (5,9%); nôn ói 2/220 (0,9%); tiêu

chảy 18/220 (8,2%); ban dị ứng 2/220 (0,9%);

cảm giác mệt mỏi 11/220 (5%); khó ngủ 1/220

(0,5%); khó tiêu sau ăn 3/220 (1,4%); chảy máu

cam 1/220 (0,5%); tiểu đỏ 1/220 (0,5%); xuất

huyết dưới da 1/220 (0,5%); đau đầu 1/220 (0,5%); táo bón 1/220 (0,5%) (bảng 5)

Tỷ lệ bỏ tái khám là 13/220 bệnh nhân Lý do chính khiến người nhà không đưa trẻ đến tái khám

là vì trẻ đã hoàn toàn hết triệu chứng (bảng 6) Trong nhóm không xuất hiện tác dụng phụ khi dùng thuốc, xác xuất để bệnh nhân dùng PPI sau 5 tuần thì có mức độ cải thiện lâm sàng cao hơn bệnh nhân dùng PPI 2 tuần là 30% Xét trong nhóm bệnh nhân không xuất hiện tác dụng phụ, không có sự khác biệt về mức độ cải thiện lâm sàng ở bệnh nhân dùng các loại PPI khác nhau với các mốc thời gian đánh giá sau 2 tuần và 5 tuần (các giá trị p>0,05) (bảng 7)

Bảng 4 Nguồn tiếp cận thông tin H pylori và thái độ với điều trị (N=183)

Nhận được thông tin HP từ NVYT

Điều trị tất cả người

nhiễm

2,4 0,005 1,2 - 4,6

Nhiễm HP có thể ung

thư

1,27 0,56 0,52-3,21

Bảng 5 Khó khăn gặp phải trong quá trình điều trị (N=220)

Không phù hợp giờ giấc sinh hoạt: bữa ăn, đi học, ngủ, … 14 6,4

Bảng 6 Hành vi của bệnh nhân và gia đình trong quá trình điều trị (N=220)

Uống thuốc đúng

Trang 7

Quá trình sử dụng thuốc N %

Cách thức uống

thuốc

Phụ huynh là chính (đôi khi BN tự uống thuốc) 127 57,7 Chỉ phụ huynh (không để BN tự uống thuốc) 87 39,6 Chỉ bệnh nhân (không hỗ trợ từ người lớn) 6 2,7

Trẻ có đi học trong thời gian tiệt trừ H pylori 180/220 81,8

Tiệt trừ H pylori trong thời gian trẻ được nghỉ hè 54/220 24,5

Bảng 7 Mức độ cải thiện lâm sàng sau điều trịtrong nhóm không gặp tác dụng phụ(N=171)

< 0,001

Chú thích: * Mann Whitney; E = Esomeprazole; O = Omeprazole; R = Rabeprazole

Bảng 8 Logistic đa biến kết quả điều trị H pylori và các yếu tố tác động (N=199)

Logistic regression Log likelihood = -126.659

Number of obs = 199 LR chi2(12) = 21,42 Prob > chi2 = 0.0001 Pseudo R2 = 0.0780

Nhận xét: Sau khi kiểm soát các yếu tố gây

nhiễu: Bệnh nhân được nghỉ hè trong 2 tuần

dùng thuốc tiệt trừ H pylori thì có số chênh

OR kết quả điều trị tiệt trừ H pylori thành

công cao hơn gấp 4,37 lần so với trẻ không

nghỉ hè trong 2 tuần dùng thuốc tiệt trừ Bệnh

nhân có mức độ nhiễm H pylori trên mẫu sinh

thiết niêm mạc dạ dày tăng thêm 1+ thì số

chênh OR kết quả điều trị tiệt trừ H pylori

thành công sẽ giảm đi 30% (1 - OR = 0,3) Bệnh

nhân được kê toa có Omeprazole thì có số

chênh OR kết quả điều trị tiệt trừ H pylori

thành công cao hơn 2,18 lần so với trẻ không

được kê toa có Omeprazole

BÀN LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Trong thời gian thực hiện, 220 phụ huynh

thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu Tuổi trung bình của

bệnh nhân và phụ huynh lần lượt là 7,9  2,8 tuổi

và 37,8  5,6 tuổi Bệnh nhân nhỏ nhất là 3 tuổi,

lớn nhất là 15 tuổi Nhóm từ 6 đến 10 tuổi chiếm

tỷ lệ cao nhất 57,7% tương ứng với lứa tuổi học cấp 1 Độ tuổi trung bình bệnh nhân ở hai nhóm giới tính nam và nữ cũng không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu cắt ngang năm

2016 tại khu vực Miền Tây Việt Nam của Nguyễn Thị Việt Hà cũng kết luận không có sự

khác biệt trong tỷ lệ phơi nhiễm với H pylori

giữa hai giới tính nam và nữ(10) Các đối tượng được thu thập từ 21 tỉnh phía Nam Việt Nam, bao gồm thành phố Hồ Chí Minh 76/220 (34,5%) và các tỉnh khác 144/220 (65,5%) Kết quả này khác biệt so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phúc Thịnh tại bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2014: TP Hồ Chí Minh 56,6%

và các tỉnh thành khác là 43,4%(5).Sự khác biệt này có thể do các cơ sở y tế tư nhân cập nhật và

mở rộng khả năng nội soi tiêu hóa trên trẻ em Các cơ sở này thu hút lượng bệnh đáng kể tại chỗ và những bệnh nhân không sử dụng bảo hiểm y tế Trong nghiên cứu này, có đến hơn 70% bệnh nhân là nội soi dịch vụ (nhập viện nội soi và xuất viện trong cùng ngày) Từ đó thấy

Trang 8

được nhu cầu được khám và điều trị nhanh

chóng của người dân hiện nay là rất cao

Tình trạng kháng Clarithromycin trong

nghiên cứu này cao hơn tỷ lệ đã được báo cáo của

tác giả Nguyễn Phúc Thịnh trong nghiên cứu thực

hiện tại bệnh viện Nhi Đồng 1 vào năm 2014 là

87,5% và cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu của

tác giả Nguyễn Thị Út tại bệnh viện Nhi Trung

Ương vào năm 2016 là 56,6%(5,6) Mặc dù tỷ lệ

kháng với Tetracyclin còn thấp 1,3% Trong

nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân

tại TP Hồ Chí Minh nhiễm chủng H pylori kháng

với Amoxicillin cao hơn bệnh nhân đến từ các

tỉnh khác Với tình trạng kháng Clarithromycin

rất cao, đặc biệt là kháng với kháng sinh chủ lực là

Amoxicillin khiến cho khả năng tiệt trừ H pylori

gặp nhiều khó khăn hơn Tình trạng nhiễm H

pylori kháng kháng sinh và đa kháng kháng sinh

rất cao báo động nguy cơ cạn kiệt nguồn kháng

sinh có thể điều trị H pylori hiệu quả

Kiến thức - thái độ của phụ huynh về nhiễm HP

Nghiên cứu này cho thấy phụ huynh có

con bị viêm dạ dày tá tràng có kiến thức chưa

đúng đắn về hậu quả của nhiễm H pylori Đa

số phụ huynh có niềm tin rằng nhiễm H pylori

có thể gây ung thư Từ kiến thức sai lầm này

dẫn đến mong muốn được “tìm và diệt” H

pylori ngay Có đến 83,2% phụ huynh đã từng

nghe nói đến H pylori Trong số đó, chủ yếu

nhận được thông tin từ nhân viên y tế 44,3%

Nhân viên y tế qua việc tham vấn bệnh sẽ

cung cấp thông tin về nhiễm H pylori vì nhiễm

H pylori là một nguyên nhân quan trọng gây

viêm dạ dày mạn và loét tá tràng Do đó, nhân

viên y tế là một nguồn cung cấp thông tin

quan trọng Tuy nhiên, đôi khi bệnh nhân

không thể gặp được bác sĩ chuyên khoa Tiêu

Hóa để được tham vấn Từ thực tế trên, chúng

tôi nhận thấy cần có các khóa tập huấn, đào

tạo, cung cấp thông tin về những cập nhật mới

trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý dạ dày tá

tràng có nhiễm H pylori ở trẻ em

Nhân viên y tế khi thực hiện tham vấn cần nêu rõ rằng hiện nay vẫn chưa có bằng chứng

chắc chắn về mối liên hệ giữa nhiễm H pylori

và các bệnh lý ung thư đường tiêu hóa ở trẻ

em Ngay cả với ung thư đường tiêu hóa ở

người lớn thì nhiễm H pylori vẫn không phải

là yếu tố có vai trò chính trong bệnh sinh Những nghiên cứu mới hiện nay cũng chỉ

dừng lại ở mức khuyến cáo nên sàng lọc H

pylori trên những đối tượng nguy cơ cao (10)

Thái độ tiêu cực trong phòng ngừa lây lan H

pylori của phụ huynh xuất phát từ niềm tin sai

lầm rằng nhiễm H pylori có thể dẫn đến gây

ung thư Đây là điểm quan trọng để xây dựng các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe trong cộng đồng Quan niệm sai lầm này

có thể sẽ dẫn tới hành vi kỳ thị đối với những

trẻ em có nhiễm H pylori Hành vi “tìm và

diệt” có thể tác động xấu đến tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ cũng như gây lãng phí nguồn tài chính của xã hội 94,6% phụ huynh chọn đáp án “nội soi là xét nghiệm quan trọng nhất để chẩn đoán VLDDTT có

nhiễm H pylori” Tuy vậy, nội soi là phương

pháp xét nghiệm xâm lấn và có nguy cơ tai biến nhất định cần cân nhắc chỉ định trước khi thực hiện nhất là ở trẻ em dưới 5 tuổi với khả năng tái nhiễm là rất cao Tác giả Nguyễn Thị Việt Hà báo cáo một nghiên cứu năm 2010 cho kết quả tỷ lệ tái nhiễm sau 1 năm của trẻ 3-4 tuổi là 55,4% (95%CI 28-83); trẻ 5-6 tuổi là 40,7% (95% CI 21-61)(7)

Hành vi của bệnh nhân và gia đình trong quá trình điều trị

Với các trẻ lớn, việc nuốt viên thuốc khá đơn giản Trẻ gặp trở ngại khi thời gian uống thuốc trong ngày trùng với thời gian đến trường của bệnh nhân và cách sử dụng thuốc phức tạp 81,8% trẻ trong nghiên cứu này vẫn còn đang trong thời gian đi học khi điều trị

tiệt trừ H pylori 55,9% bệnh nhân phải mang

theo thuốc đến trường để uống 25,9% phải dậy rất sớm để uống thuốc trước khi đi học Một số trường hợp xin nghỉ học trong thời

Trang 9

gian 2 tuần để đảm bảo có thể uống đủ thuốc

Tỷ lệ bỏ tái khám là 13/220 bệnh nhân Lý do

chính khiến người nhà không đưa trẻ đến tái

khám là vì trẻ đã hoàn toàn hết triệu chứng

Từ đó thấy được tầm quan trọng của việc

tham vấn cho bệnh nhân và gia đình khi quyết

định điều trị Bác sĩ cần tỉ mỉ và kiên nhẫn để

giải thích cho người nhà hiểu cách thức sử

dụng thuốc cũng như tầm quan trọng của việc

tái khám đầy đủ

Nghiên cứu này cho thấy với phác đồ 3

thuốc (uống trước và sau ăn x 2 cữ/ngày), tỷ lệ

tuân thủ điều trị là rất cao: 92,3% bệnh nhân

uống đúng ≥ 80%toa Với những phác đồ phải

chia hơn 2 cữ trong ngày có thể sẽ gây khó

khăn hơn cho bệnh nhân và gia đình nếu toa

được kê trong thời gian trẻ còn trong năm học

Bác sĩ cần cân nhắc việc chờ đợi một khoảng

thời gian thích hợp để kê toa điều trị tiệt trừ

H pylori với những phác đồ phải chia nhiều

hơn 2 cữ thuốc trong ngày Khó khăn là sẽ

không có sự hợp tác của thân nhân Những

phụ huynh tin rằng nhiễm H pylori gây ung

thư sẽ lo lắng khi bác sĩ khuyên chờ đợi Vấn

đề này cần có thêm nhiều nghiên cứu về khả

năng tuân thủ của bệnh nhân khi sử dụng

phác đồ 4 thuốc cũng như tác động lên tâm lý

và cuộc sống của trẻ

Kết quả của quá trình điều trị

Kết quả về mặt lâm sàng

Trong nhóm bệnh nhân có đi học: 35,5%

hết triệu chứng hoàn toàn, 57,8% giảm các

triệu chứng, 5% không thuyên giảm, 1,7% biểu

hiện nặng hơn.Trong nhóm không đi học

trong thời gian uống thuốc do xin nghỉ học

hoặc được nghỉ hè: 75% hoàn toàn hết triệu

chứng, 22,5% giảm các triệu chứng, 2,5% biểu

hiện nặng hơn.Xác suất để một bệnh nhân

không đi học trong thời gian uống thuốc sau

khi điều trị thấy triệu chứng có cải thiện so với

trước khi điều trị cao hơn bệnh nhân có đi học

trong thời gian uống thuốc là 70% Theo kết

quả của nghiên cứu này, điều trị tiệt trừ trong

thời gian bệnh nhân không đi học cho kết quả

về mặt lâm sàng có lợi hơn Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ cải thiện lâm sàng giữa 2 nhóm nam và nữ Độ tuổi trung bình của bệnh nhân giữa các mức độ cải thiện lâm sàng khác nhau không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Trong nhóm không xuất hiện tác dụng phụ khi dùng thuốc, xác xuất để bệnh nhân dùng PPI sau 5 tuần thì có mức độ cải thiện lâm sàng cao hơn bệnh nhân dùng PPI 2 tuần là 30% Trong nhóm có xuất hiện tác dụng phụ khi dùng thuốc, không có

sự khác biệt trong tỷ lệ của các mức độ cải thiện triệu chứng ở nhóm dùng PPI 5 tuần hay

2 tuần Xét trong nhóm bệnh nhân không xuất hiện tác dụng phụ, không có sự khác biệt về mức độ cải thiện lâm sàng ở bệnh nhân dùng các loại PPI khác nhau với các mốc thời gian đánh giá sau 2 tuần và 5 tuần (các giá trị p>0,05) Hiện nay, Rabeprazole đã được FDA cho phép sử dụng ở trẻ em với chỉ định cũng rất giới hạn nhằm kiểm soát pH dạ dày ở trẻ

em có gen CYP2C19 quy định tính trạng chuyển hóa nhanh PPI Hiệu quả của Rabeprazole so với loại PPI được dùng rộng rãi hiện nay là Esomeprazole trên ứng dụng lâm sàng còn cần nhiều nghiên cứu để làm sáng tỏ

Kết quả về mặt cận lâm sàng

Xét nghiệm H pylori sau điều trị trong nhóm

có điều trị theo kháng sinh đồ: âm tính 60,6%; dương tính 39,4% và nhóm không điều trị theo kháng sinh đồ: âm tính 50,4%; dương tính 49,6% Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả của tác giả Nguyễn Phúc Thịnh tại bệnh viện Nhi Đồng 1 là thành công 49%; thất bại 51% với điều trị lần đầu(9) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Út tại bệnh viện Nhi Trung Ương, tỷ lệ điều trị thành công là 53,1% đối với nhóm điều trị phác đồ 3 thuốc theo kháng sinh đồ và 77,3% đối với nhóm điều trị phác đồ 4 thuốc(6) Tác giả Nguyễn Thị Út đề xuất thay thế phác đồ 3 thuốc bằng phác đồ 4 thuốc nhằm nâng cao tỷ lệ thành công cho điều trị tiệt

Trang 10

trừ H pylori lần đầu ở trẻ em Nghiên cứu của tác

giả Graham năm 1992 kết luận tỷ lệ tiệt trừ H

pylori thành công với phác đồ 3 thuốc đạt 96% ở

bệnh nhân dùng đúng ≥ 60% thuốc theo quy

định và đạt 69% ở những bệnh nhân tuân thủ

kém hơn(4) Nghiên cứu của tác giả Wermeille

năm 1998 cho kết quả tiêu cực hơn tỷ lệ tiệt trừ

thành công là 72% ở những bệnh nhân tuân thủ

> 60% toa thuốc và chỉ đạt 20% ở bệnh nhân tuân

thủ ít hơn(10) 95% bệnh nhân tuân thủ đúng và

đủ về thời gian uống cũng như số lượng thuốc ≥

60% toa quy định Tuy nhiên, tỷ lệ điều trị tiệt

trừ H pylori thành công chỉ đạt 60,6% với hướng

dẫn của kháng sinh đồ Một lần nữa cho thấy

phác đồ 3 thuốc hiện nay có thể đã không còn

đạt được khả năng tiệt trừ H pylori lần đầu ở trẻ

em > 70% như nhiều báo cáo của những năm

trước đây

Dùng phương trình hồi quy đa biến

Logistic loại bỏ các yếu tố không thực sự có tác

động lên kết quả H pylori sau điều trị Cuối

cùng thu được 3 biến có tác động đến kết cục

điều trị tiệt trừ H pylori

Bệnh nhân được nghỉ hè trong 2 tuần dùng

thuốc tiệt trừ H pylori thì có số chênh OR kết quả

xét nghiệm H pylori sau điều trị âm tính cao hơn

gấp 4,37 lần so với trẻ không nghỉ hè trong 2

tuần dùng thuốc tiệt trừ H pylori Giả thuyết cho

trường hợp này có thể là quá trình được nghỉ hè

thì làm giảm tần suất tiếp xúc với môi trường bất

lợi, giúp quá trình tiệt trừ H pylori cho kết quả

tốt hơn Bệnh nhân có mức độ nhiễm H pylori

trên mẫu sinh thiết niêm mạc dạ dày tăng thêm

1+ thì số chênh OR kết quả điều trị thành công sẽ

giảm đi 30% Theo kết quả nghiên cứu này, mức

độ nhiễm H pylori trên mẫu sinh thiết niêm mạc

dạ dày có tác động bất lợi lên kết quả tiệt trừ

Bệnh nhân kê toa Omeprazole thì có số chênh

OR kết quả xét nghiệm H pylori sau điều trị âm

tính cao hơn 2,18 lần so với trẻ không dùng

Omeprazole Omeprazole không phải là PPI tối

ưu trong kiểm soát pH dạ dày do chịu tác động

từ khả năng chuyển hóa PPI của gen CYP2C19

nhưng tác động lên quá trình điều trị H pylori

còn cần phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa để làm rõ

KẾT LUẬN

Cần xây dựng các chương trình can thiệp để

nâng cao nhận thức của cộng đồng về H pylori

Tỷ lệ thất bại với phác đồ 3 thuốc (trong lần tiệt

trừ H pylori đầu tiên) của nghiên cứu này rất cao

ngay cả khi sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tốt, có kháng sinh đồ và PCR gen CYP2C19 Vấn

đề điều trị tiệt trừ H pylori vẫn rất cần có thêm

nhiều nghiên cứu hơn nữa Ở thời điểm hiện tại, bác sĩ lâm sàng cần rất thận trọng trong chỉ định

xét nghiệm tìm H pylori và chỉ định nội soi cũng

như quyết định điều trị tiệt trừ nhất là ở trẻ nhỏ hơn 5 tuổi Cần tư vấn cho bệnh nhân những khó khăn gặp phải trong quá trịnh điều trị, khả năng tiệt trừ thành công cũng như nguy cơ tái nhiễm trong tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aziz RK., Khalifa MM (2015), “Contaminated water as a

source of Helicobacter pylori infection: A review” Journal

of advanced research; 6(4): pp 539–547

2 Chen SY, (2005), “Epidemiological study of Helicobacter

pylori infection and its risk factors in Shanghai”, Zhonghua

Yi Xue Za Zhi; 14(35): pp 3363- 3370

3 Do-Youn Oh (2009), “Public Awareness of Gastric Cancer Risk Factors and Disease Screening in a High Risk Region:

A Population-Based Study”, CancerResTreat; 41(2): pp 59–

66

4 Graham D (1992), ”Factors influencing the eradication of Helicobacter pylori with triple therapy”,

Gastroenterology;102(2): pp 493-499

5 Nguyễn Phúc Thịnh (2014), “Loét dạ dày tá tràng do Helicobacter pylori ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng 1 TP

Hồ Chí Minh từ 6/2013 đến 1/2014”, luận văn Thạc sĩ Y học,

Đại Học Y Dược, tr.45

6 Nguyễn Thị Út (2016), “Đặc điểm dịch tễ - lâm sàng và kết quả của một số phác đồ điều trị viêm loét dạ dày, tá tràng của Helicobacter pylori kháng kháng sinh tại bệnh

viện Nhi Trung Ương”, Luận văn Tiến sĩ, đại học Y Hà Nội

- Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương, tr.38

7 Nguyễn Thị Việt Hà, Nguyễn Gia Khánh (2010), “Đánh giá tình trạng nhiễm Helicobacter pyloritrong một năm

sau điều trị tại bệnh viện Nhi Trung Ương”, Tạp chí Y Học

TP Hồ Chí Minh, tr 48-52

8 Rafeey M (2007), “Primary resistance in Helicobacter

pylori isolated in children from Iran”, JInfectChemother,

13(5): pp 291-5

Ngày đăng: 15/01/2020, 17:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w