Xác định tần suất chung của bệnh thận không do đái tháo đường. Xác định nguyên nhân và tỷ lệ của từng nguyên nhân trong nhóm bệnh thận không do đái tháo đường. Xác định các yếu tố liên quan và lập phương trình đa biến chẩn đoán phân biệt bệnh thận không do đái tháo đường và bệnh thận đái tháo đường.
Trang 1KHẢO SÁT TỶ LỆ VÀ NGUYÊN NHÂN BỆNH THẬN KHÔNG DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRÊN BỆNH NHÂN ĐƯỢC SINH THIẾT THẬN
Nguyễn Xuân Thắng*, Phạm Văn Bùi**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Có khoảng 1/3 bệnh nhân ĐTĐ tip 2 có tiểu đạm không phải do bệnh thận đái tháo đường
Bệnh thận không do đái tháo đường có thể đáp ứng điều trị đặc hiệu, lui bệnh và có tiên lượng tốt hơn bệnh thận đái tháo đường Sinh thiết thận sẽ hỗ trợ giúp chẩn đoán phân biệt bệnh thận đái tháo đường và bệnh thận không
do đái tháo đường
Mục tiêu: Xác định tần suất chung của bệnh thận không do đái tháo đường Xác định nguyên nhân và tỷ lệ
của từng nguyên nhân trong nhóm bệnh thận không do đái tháo đường Xác định các yếu tố liên quan và lập phương trình đa biến chẩn đoán phân biệt bệnh thận không do đái tháo đường và bệnh thận đái tháo đường
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu Mô tả hàng loạt ca
Kết quả: Tỷ lệ bệnh thận không do đái tháo đường là 41,7%, bệnh thận không do đái tháo đường phối hợp
bệnh thận đái tháo đường là 8,3%, bệnh thận đái tháo đường chiếm 50% Trong nhóm bệnh thận không do đái tháo đường, sang thương xơ chai cầu thận khu trú từng vùng có 5 trường hợp (27,7%), viêm thận Lupus 4 trường hợp (22,2%), bệnh thận IgA 3 trường hợp (16,6%), bệnh thận màng 2 trường hợp (11,1%), các sang thương khác như viêm cầu thận tăng sinh gian mạch, bệnh cầu thận tối thiểu, viêm cầu thận tăng sinh màng, viêm cầu thận tăng sinh nội mạch ít gặp hơn Phương trình đa biến chẩn đoán phân biệt bệnh thận đái tháo đường và bệnh thận không do đái tháo đường là P = 2,52 (Nếu nữ) + 2,86 (Nếu tiểu máu vi thể) – 0,05 * tuổi bệnh (tháng) – 1,36 Nếu P > 0 chẩn đoán bệnh thận không do đái tháo đường, P < 0 chẩn đoán bệnh thận đái tháo đường độ nhay 83% và độ đặc hiệu 83%
Kết luận: bệnh thận không do đái tháo đường có trong 50% trường hợp bệnh nhân ĐTĐ tip 2 được sinh
thiết thận Những sang thương thường gặp nhât là sang thương xơ chai cầu thận khu trú từng vùng, viêm thận Lupus, bệnh thận IgA và bệnh thận màng Những yếu tố liên quan có ý nghĩa bệnh thận không do đái tháo đường bao gồm: Giới tính nữ, không có bệnh võng mạc đái tháo đường (BVMĐTĐ), tuổi bệnh ngắn, tiểu máu vi thể, tăng LDL cholesterol, có những dấu hiệu gợi ý bệnh hệ thống và có trên 2 yếu tố gợi ý theo ADA 2014
Từ khóa: Sinh thiết thận, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thận không do đái tháo đường
ABSTRACT
STUDY ABOUT PROPOTIONS AND CAUSES OF NON DIABEITC KIDNEY DISEASE
IN KIDNEY BIOPSY
Nguyen Xuan Thang, Pham Van Bùi
*Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 6 - 2016: 36 - 42
Introduction: About 1/3 diabetes with proteinuria is not diabetic kidney disease (DKD) The diagnosis of
diabetic kidney disease is almost based on clinical grounds Non diabetic kidney disease (NDKD) can respond to specific treatment and have better outcome However, factors clinically associated with NDKD in-patient with type 2 diabetes remain unclear Percutaneous renal biopsy is helpful for definitive diagnostic
Objective: Base on renal biopsy result, to evaluate the prevalence of NDKD in patients with type 2 diabetes
* Khoa Nội Tiết Thận - Bệnh viện Nhân Dân Gia Định ** Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
Trang 2and to present the prevalence of the different lesions of NDKD To find out the specific and the sensitive of clinical features contributing NDKD diagnostic To set up the multiple logistic regression to differential diagnostic DKD and NDKD
Method: Retrospectively analyzed from 35 patients with type 2 diabetes that had undergone a renal biopsy
between 2008 and 2015 at Gia Dinh People Hospital, HoChiMinh City, Viet Nam
Results: Renal biopsy showed that 18 patients (50%) were DKD, 15 patients (8.8%) were co-existing DKD
and NDKD and 3 patients (41.2%) were NDKD The spectrum of pathological lesions comprised: Focal segmental glomerulosclerosis (FSGS) 27.7%, lupus nephritis (22.2%), IgA nephropathy (16.6%), membranous glomerulophathy (11.1%), the others are more rare (minimal change disease, membranous proliferative glomerulonephritis, pericapilarproliferative glomerulonephritis, endocapilarproliferative glomerulonephritis, 5.6% for each) The multiple logistic regression to differential diagnostic DKD and NDKD: P = 2.52 (if woman) + 2.86 (if microscopic hematuria) – 0.05 * duration (month) – 1.36 (P > 0: NDKD; P < 0: DKD)
Conclusion: We identify that sex, short duration of type 2 diabetes, the absence of diabetic retinopathy,
microscopic haematuria, at least 2 NDKD diagnostic factors following ADA 2014, autoimmunopathy diagnosis factors may help to distinguish NDKD from DKD in patients with diabetes These could assist clinicians in making a definitive diagnostic of NDKD and lead to treatment that is more effective
Key words: Renal Biopsy, DKD, NDKD
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoảng một phần ba bệnh nhân đái tháo
đường (ĐTĐ) tip 2 có tiểu đạm không phải do
bệnh thận đái tháo đường (6,9) Bệnh thận đái tháo
đường diễn tiến từ từ đến bệnh thận mạn giai
đoạn cuối (BTMGĐC) là một đặc trưng của và
rất khó thay đổi tiến trình bệnh Trong khi đó có
những trường hợp bệnh thận không do đái tháo
đường có thể đáp ứng với điều trị đặc hiệu và lui
bệnh Hình ảnh giải phẫu bệnh của thận sẽ giúp
chẩn đoán xác định bệnh thận không do đái tháo
đường Tuy vậy, sinh thiết thận là một cận lâm
sàng có xâm lấn, không phải là một xét nghiệm
thường quy để có thể thực hiện rộng rãi Đã có
rất nhiều những nghiên cứu được tiến hành ở
nhiều nước trên thế giới về bệnh thận không do
đái tháo đường trên bệnh nhân ĐTĐ tip 2 Tuy
nhiên nói chung, tần suất bệnh dao động nhiều
qua nhiều nghiên cứu và vẫn chưa có sự thống
nhất Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện
nhằm xác định các nguyên nhân và thống kê tần
suất của các nguyên nhân bệnh thận không do
đái tháo đường trên bệnh nhân ĐTĐ tip 2 được
sinh thiết thận để chúng ta có thể xem xét và có
chẩn đoán chính xác hơn và sớm hơn bản chất
tổn thương nhằm giúp bệnh nhân có cơ hội được điều trị kịp thời, tránh diễn tiến thành BTMGĐC
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tần suất chung của bệnh thận không do đái tháo đường dựa trên kết quả giải phẫu bệnh
Xác định nguyên nhân và tần suất của từng nguyên nhân trong nhóm bệnh thận không do đái tháo đường dựa trên kết quả giải phẫu bệnh Xác định độ nhạy và độ chuyên trong chẩn đoán bệnh thận không do đái tháo đường của dấu hiệu bệnh võng mạc đái tháo đường (BVMĐTĐ)
Xác định độ nhạy và độ chuyên trong chẩn đoán bệnh thận không do đái tháo đường của các yếu tố gợi ý chẩn đoán bệnh thận không
do đái tháo đường (theo khuyến cáo của ADA 2014)
Xác định các yếu tố liên quan và lập phương trình đa biến chẩn đoán phân biệt bệnh thận không do đái tháo đường và bệnh thận đái tháo đường
Trang 3ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân ĐTĐ tip 2 được sinh thiết
thận tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định từ năm
2008 đến năm 2015
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu Mô tả hàng loạt ca
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Tỷ lệ bệnh thận không do đái tháo đường
(BTKDĐTĐ)
Trong 36 trường hợp: 18 trường hợp bệnh
thận đái tháo đường (50%), 15 trường hợp bệnh
thận không do đái tháo đường (41,7%) và 3
trường hợp là kết hợp bệnh thận đái tháo đường
và bệnh thận không do đái tháo đường (8,3%)
Vì cỡ mẫu nghiên cứu không lớn và biến cố
chúng tôi muốn chú ý là bệnh thận không do đái
tháo đường nên trong phần thống kê chúng tôi
nhập nhóm bệnh kết hợp bệnh thận không do
đái tháo đường với bệnh thận đái tháo đường
vào chung nhóm bệnh thận không do đái tháo
đường
Tỷ lệ bệnh thận không do đái tháo đường
trong dân số bệnh nhân ĐTĐ dao động rất nhiều
qua nhiều nghiên cứu ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới, được thống kê trong khoảng 15,7 – 82,9%(2), tỷ lệ này thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố: chủng tộc, vị trí địa lý và những chỉ định sinh thiết tại bệnh viện Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhân Dân 115 năm 2012 của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh Mai và cộng sự cho thấy bệnh thận đái tháo đường có tỷ lệ bệnh thận đái tháo đường cao hơn (17,1% trường hợp là bệnh thận không do đái tháo đường và 82,9% trường hợp
là bệnh thận đái tháo đường)(5) Trong khi đó, một số nghiên cứu cho kết quả tỷ lệ bệnh thận không do đái tháo đường Đ khá cao Nghiên cứu của Zhulo L và cộng sự tại Trung Quốc năm
2013 trên 244 ca cho kết quả bệnh thận không do đái tháo đường 84%, bệnh thận không do đái tháo đường trên nền bệnh thận đái tháo đường
là 7,8%, bệnh thận đái tháo đường 8,2% Nhiều tác giả giải thích có sự khác biệt là do sai lầm chọn mẫu Một nghiên cứu đa trung tâm về sinh thiết thận tại Ý trên 393 bệnh nhân ĐTĐ tip 2 đã đưa ra nhận xét lý giải về sự khác nhau trong các kết quả nghiên cứu là do từng trung tâm khác nhau có sự khắt khe trong chỉ định sinh thiết thận khác nhau
Bảng.1: Tỷ lệ bệnh thận không do đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, phối hợp bệnh thận không do đái
tháo đường và bệnh thận đái tháo đường trong những nghiên cứu gần đây trong y văn
Tác giả Quốc gia Năm Cỡ mẫu BTĐTĐ (%) BTKDĐTĐ (%) Phối hợp (%)
Trang 4Tác giả Quốc gia Năm Cỡ mẫu BTĐTĐ (%) BTKDĐTĐ (%) Phối hợp (%)
Các sang thương trên kết quả giải phẫu
bệnh:
Tỷ lệ những loại sang thương giữa các
nghiên cứu không thống nhất nhau
Trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy
bệnh nhân có sang thương thận là xơ hóa cầu
thận khu trú chiếm tỷ lệ cao nhất (5 trường
hợp, 27,7%), chiếm ứu thế thứ hai là sang
thương viêm thận lupus (4 trường hợp,
22,2%), sau đó là bệnh thận IgA (16,6%), bệnh
thận màng (11,1%), những sang thương khác ít
gặp hơn (bệnh cầu thận tối thiểu, viêm vầu
thận tăng sinh màng, viêm cầu thận tăng sinh
nội mạc mao mạch, mỗi loại 5,6%) Kết quả
này giống một số nghiên cứu trong y văn Tuy
nhiên đa số các tác giả thấy bệnh thận IgA
thường gặp nhất, một số tác giả khác lại thấy
bệnh thận màng chiếm tỷ lệ cao hơn Sự khác
biệt về tỷ lệ của các sang thương tìm thấy qua
kết quả sinh thiết cũng chịu ảnh hưởng của
vấn đề chọn bệnh đưa vào nghiên cứu Những
điều này có lẽ góp phần giải thích lý do tỷ lệ
bệnh IgA không cao trong nghiên cứu của
chúng tôi cũng như một vài nghiên cứu khác
Biểu đồ 1: Tỷ lệ các sang thương mô học trong nhóm
BTKDĐTĐ
Đặc điểm dân số nghiên cứu:
Tỷ lệ giới nữ nói chung cao hơn (69,4%), riêng trong nhóm bệnh thận không do đái tháo đường (88,9%) là rất cao so với tỷ lệ nam trong nhóm (11,1%), và cao hơn tỷ lệ nữ trong nhóm bệnh thận đái tháo đường (50%), p = 0,011
Bệnh nhân trẻ nhất là 28 tuổi và bệnh nhân lớn tuổi nhất là 75 tuổi Đa số bênh nhân trong lứa tuổi từ 50-60, chiếm 41,7% Tuổi trung bình của bệnh nhân là 50.9 ± 2,1tháng, của nhóm bệnh thận đái tháo đường là 52,61 ± 2,7 tháng, cao hơn
so với nhóm bệnh thận không do đái tháo đường
là 49,2 ± 1,5 tháng Tuổi bệnh dài nhất là 7 năm,
tỷ lệ bệnh nhân có tuổi bệnh trên 5 năm là 38,9% Tuổi bệnh trung bình của nhóm BTKDĐTĐ là 29,2 ± 5,3 tháng thấp hơn so với tuổi bệnh của nhóm bệnh thận đái tháo đường là 49,3 ± 9,3 tháng, p = 0,014
Trong các nghiên cứu trong y văn, đa số các tác giả cũng đồng ý là tuổi bệnh trong nhóm bệnh thận không do đái tháo đường thấp hơn có
ý nghĩa so với nhóm bệnh thận đái tháo đường
và một lý do có thể góp phần giải thích tiên lượng tốt hơn của nhóm bệnh thận không do đái tháo đường là tuổi bệnh ĐTĐ của nhóm tương đối ngắn hơn so với nhóm bệnh thận đái tháo đường (7)
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng của 2 nhóm
Đặc điểm BTKDĐTĐ
(n=18)
BTĐTĐ (n=18)
Chung (n=36) P
Tuổi bệnh
Trang 5Theo kết quả phân tích gộp của Liang, tuổi
bệnh của nhóm bệnh thận không do đái tháo
đường ngắn hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh
thận đái tháo đường Tuy nhiên định nghĩa tuổi bệnh có khác nhau trong các nghiên cứu(3)
Bảng 3: Các chỉ số sinh hóa của các nhóm
Chỉ số BTKDĐTĐ (n = 18) BTĐTĐ (n = 18) Chung (n = 36) P
Bảng 4: Tỷ lệ bệnh nhân có tiểu máu vi thể, tăng
huyết áp và BVMĐTĐ trong nhóm BTKDĐTĐ và
nhóm BTĐTĐ
Triệu chứng BTKDĐTĐ
(n=18)
BTĐTĐ (n=18)
Chung (n=36) P
Tiểu máu
vi thể
Không 5 (27,8%) 13 (72.2%) 18 (50,0%)
0,008
Có 13 (72,2%) 5 (27.8%) 18 (50,0%)
Tăng
huyết áp
Không 6 (33,3%) 5 (27.8%) 11 (30,6%)
0,737
Có 12 (66,7%) 13 (72.2%) 25 (694%)
0,001
Nhóm BTKDĐTĐ có tỷ lệ bệnh nhân có tiểu
máu vi thể là 72,2% cao hơn so với nhóm BTĐTĐ
có tỷ lệ này là 27,8%, p = 0,008 Dấu hiệu tiểu
máu vi thể trong nghiên cứu của chúng tôi có độ
nhạy 72,2%, độ chuyên 72,2%, giá trị tiên đoán
dương 72,2% trong chẩn đoán bệnh thận không
do đái tháo đường Theo phân tích gộp của
Liang, tiểu máu vi thể đi kèm với bệnh thận
không do đái tháo đường nhiều hơn bệnh thận
đái tháo đường (OR = 2,05, p = 0,004) Tuy nhiên,
tác giả cũng nhân xét nhiều nghiên cứu có
những định nghĩa khác nhau về tiểu máu(3) Hai
nhóm có tỷ lệ bệnh nhân có tăng huyết áp tương
đương Nhóm bệnh thận không do đái tháo
đường có tỷ lệ BVMĐTĐ (22,2%) thấp hơn nhiều
so với nhóm bệnh thận đái tháo đường (77,8%),
p < 0,001 BVMĐTĐ trong nghiên cứu của chúng
tôi có độ nhạy 77,8%, độ chuyên 77,8% và giá trị
tiên đoán dương 77,8% trong chẩn đoán bệnh
thận không do đái tháo đường Kết quả của
chúng tôi phù hợp với đa số các báo cáo trong y
văn Phân tích gộp của Liang thấy bệnh nhân có BVMĐTĐ thì ít có khuynh hướng chẩn đoán bệnh thận không do đái tháo đường hơn bệnh thận đái tháo đường (OR 0,15, p< 0,00001 trên dân số chung và dân số Chân Á Vì thế , sự có mặt của BVMĐTĐ dường như là một dấu hiệu rất có ích cho việc xác định là bệnh thận đái tháo đường, trong khi đó không có BVMĐTĐ có giá trị tiên đoán BTKDĐTĐ Mặc dù tỷ lệ BVMĐTĐ cao hơn có ý nghĩa ở nhóm bệnh thận đái tháo đường so với nhóm bệnh thận không do đái tháo đường, 23,6% bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường lại không có BVMĐTĐ Ngược lại, không
có bằng chứng bệnh thận đái tháo đường ở 17,6% bệnh nhân có BVMĐTĐ Tóm lại, không
có BVMĐTĐ thì tiên đoán là bệnh thận không
do đái tháo đường nhưng không loại trừ được chẩn đoán BTĐTĐ(3) Những dấu hiệu gợi ý bệnh
hệ thống là bệnh cầu thận nguyên phát như là xét nghiệm miễn miễn dịch ANA, anti ds DNA, anti Sm, anti nucleotide, C3, C4 Nhóm bệnh thận không do đái tháo đường có 22,2 % bệnh nhân có các dấu hiệu bệnh hệ thống, nhóm bệnh thận đái tháo đường hoàn toàn không có bệnh nhân nào có dấu hiệu này, p = 0,045 Chúng tôi nhận thấy khi có yếu tố gợi ý bệnh hệ thống thì khả năng nhiều là bệnh thận không do đái tháo đường, tuy nhiên cũng không thể loại trừ bệnh thận đái tháo đường phối hợp chung bệnh thận không do đái tháo đường Chúng tôi không tìm thấy dữ liệu về các phân tích này trong các
Trang 6nghiên cứu trước đây trong y văn
Bệnh nhân càng có nhiều yếu tố gợi ý chẩn
đoán bệnh thận không do đái tháo đường (theo
ADA 2014)(1): thì khả năng càng nhiều là bệnh
thận không do đái tháo đường Khi số các yếu tố
này lớn hơn 2,5 (có nghĩa là từ 3 yếu tố trở lên)
thì các yếu tố này có độ nhạy là 0,78 và độ đặc
hiệu là 0,78 trong chẩn đoán bệnh thận không do
đái tháo đường với diện tích dưới đường cong
ROC là 0,83
Bảng 5: Tỷ lệ bệnh nhân có các yếu tố gợi ý
BTKDĐTĐ theo ADA 2014
Số các yếu tố gợi ý
BTKDĐTĐ
BTKDĐTĐ (n=18)
BTĐTĐ (n=18)
Chung (n=36) P
0,017
-Qua các phân tích đơn biến, chúng tôi nhận
thấy các biến số có liên quan có ý nghĩa thống kê
với bệnh thận không do đái tháo đường gồm:
Giới, tuổi bệnh, bệnh võng mạc ĐTĐ, tiểu máu
vi thể, LDL cholesterol, số lượng những dấu hiệu
gợi ý bệnh thận không do đái tháo đường (theo
ADA 2014) và những dấu hiệu gợi ý chẩn đoán
bệnh hệ thống
Chúng tôi xây dựng mô hình tiên đoán đa
biến bệnh thận không do đái tháo đường với các
yếu tố giới tính, tuổi bệnh và triệu chứng tiểu
máu vi thể Trong đó giới tính nữ và tiểu máu vi
thể có liên quan thuận với bệnh thận không do
đái tháo đường, ngược lại thời gian mắc bệnh
ĐTĐ càng dài thì bệnh nhân càng ít có khả năng
mắc bệnh thận không do đái tháo đường
Phương trình tiên đoán
P = 2,52 (Nếu nữ) + 2,86 (Nếu tiểu máu vi
thể) – 0,05 * tuổi bệnh (tháng) – 1,36
Nếu P > 0 là bệnh nhân có bệnh thận không
do đái tháo đường; Nếu P < 0 là bệnh nhân bệnh
thận đái tháo đường
Vẽ đường cong ROC cho thấy diện tích dưới
đường cong là 0,90 Trên đường cong ROC chọn
ngưỡng 0,4315 sẽ có điểm tối ưu của độ đặc hiệu
và độ nhạy cảm là 0,833 trong chẩn đoán bệnh thận không do đái tháo đường
Nhiều nghiên cứu khác cũng đưa ra phương trình đa biến để chẩn đoán Zhou J có cỡ mẫu lớn hơn nên đã đưa ra phương trình chẩn đoán
có nhiều biến số hơn
PDN = exp (-13,5922 + 0,0371 Dm + 0,0395
Bp + 0,0324 Gh – 4,4552 Hu + 2,9613 Dr)/[1 + exp (-13,5922 + 0,0371 Dm + 0,0395 Bp + 0,3224 Gh - 4,4552 Hu + 2.9613 Dr)], tác giả đã chứng minh phương trình này có độ nhạy 90%, độ chuyên biệt 92% khi P ≥ 0,5 là bệnh thận đái tháo đường;
P < 0,5 là bệnh thận không do đái tháo đường (8)
Độ đặc hiệu
1.0 0.8 0.6 0.4 0.2 0.0
Biểu đồ 1: Đường cong ROC biểu diễn độ nhạy và
độ đặc hiệu của phương trình đa biến chẩn đoán phân biệt bệnh thận không do đái tháo đường và bệnh thận đái tháo đường
Năm 2014, nghiên cứu của Liu MY đưa ra phương trình chẩn đoán là PDN = exp (0,846 + 0,022 Dm + 0,033 Bp + 2,050 Gh – 2,664
Hu – 0,078 Hb + 2,942Dr)/[1 + exp (0,846 + 0,022
Dm + 0,033 Bp + 2.050 Gh – 2,664 Hu-0,078
Hb + 2.942 Dr)] Độ chính xác 90,9%(4) (với Dm là tuổi bệnh (tháng), Bp là huyết áp tâm thu (mmHg), Gh (HbA1C %), Hu là có tiểu máu hay không (0 là không, 1 là có), Dr là có BVMĐTĐ không (0 là không, 1 là có)
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu chúng tôi đi đến kết luận:
- Bệnh thận không do đái tháo đường chiếm một tỷ lệ khá cao trong dân số bệnh nhân ĐTĐ tip 2 trong nghiên cứu Trong 36 trường hợp sinh thiết có 50% bệnh nhân có bệnh thận đái tháo đường, 41,2% bệnh nhân là
Trang 7bệnh thận không do đái tháo đường và 7,8%
phối hợp bệnh thận đái tháo đường và bệnh
thận không do đái tháo đường
- Trong nhóm bệnh thận không do đái tháo
đường, số bệnh nhân có sang thương thận là xơ
hóa cầu thận khu trú từng vùng chiếm tỷ lệ cao
nhất (27,7%), sau đó là viêm thận lupus (22,2%),
bệnh thận IgA (16,6%), bệnh thận màng (11,1%),
những sang thương khác ít gặp hơn là bệnh cầu
thận tối thiểu, viêm vầu thận tăng sinh màng,
viêm cầu thận tăng sinh nội mạc mao mạch (mỗi
loại 5,6%)
- Nếu là bệnh nhân nữ, không có BVMĐTĐ,
tuổi bệnh ngắn, có tiểu máu vi thể, tăng LDL
cholesterol, có những dấu hiệu gợi ý bệnh hệ
thống và có trên 2 yếu tố gợi ý là BTKDĐTĐ thì
khả năng là bệnh nhân có bệnh thận không do
đái tháo đường
- Phương trình đa biến có độ đặc hiệu 0,833
và độ nhạy là 0,833
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 American Diabetes Association (2014), "Prevention and
management of diabetes complications", Diabetes Care 37, tr
14
2 David B et al (2013), "Diabtetic nephropathy: Is it time yet for
routin kidney biopsy?", World J Diabetes 4, tr 245 - 255
3 Liang S et al (2013), "Identifying parameters to distinguish non-diabetic renal diseases from diabetic nephropathy in
patients with type 2 diabetes mellitus: a meta-analysis", PLoS
One 8
4 Liu MY et al (2014), "Validation of a differential diagnostic model of diabetic nephropathy and non-diabetic renal diseases
and the establishment of a new diagnostic model", J Diabetes 6,
tr 519-526
5 Nguyễn Thúy Quỳnh Mai et al (2012), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương mô bệnh học của bệnh thận ở bệnh nhân đái tháo đường tip 2 có hội chứng thận hư",
Y học Thành phố Hồ Chí Minh 16, tr 151-155
6 Sonia Yaqub et al (2012), "Non Diabetes Renal Disease in
patient with type 2 diabetes mellitus", Saudi J Kidney Dis
Transplanl 23, tr 1000 - 1007
7 Wong TY et al (2002), "Renal outcome in type 2 diabeteic patients with or without coexisting nondiabetic
nephropathies", Diabetes Care 25, tr 900-905
8 Zhou J et al (2008), "A differential diagnostic model of diabetic
nephropathy and non-diabetic renal diseases", Nephrol Dial
Transplant 23, tr 1940 - 1945
9 Zhuo L et al (2013), "Prevalence of diabetic nephropathy complicating non-diabetic renal disease among Chinese
patients with type 2 diabetes mellitus", Eur J Med Res 18, tr 4
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 14/09/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/11/2016