1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sinh tổng hợp mới (De Novo) liên tục và chuyển hoá nhanh thành bilirubin của haem là cần thiết đối với cơ chế bảo vệ tế bào

10 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 512,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Haem đóng vai trò một thành phần cấu tạo của nhiều protein tham gia vào quá trình vận chuyển oxy, chuỗi hô hấp và chuyển hoá thuốc. Tuy vậy, quá trình dị hoá của haem ở tế bào động vật vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Haem giáng hoá thành sắt, carbon monoxit (CO) và biliverdin, chất sau đó được chuyển hoá thành bilirubin.

Trang 1

SINH TỔNG HỢP MỚI (DE NOVO) LIÊN TỤC

VÀ CHUYỂN HOÁ NHANH THÀNH BILIRUBIN CỦA HAEM

LÀ CẦN THIẾT ĐỐI VỚI CƠ CHẾ BẢO VỆ TẾ BÀO

Trần Tiến Tài*

TÓM TẮT

Mở đầu: Haem đóng vai trò một thành phần cấu tạo của nhiều protein tham gia vào quá trình vận chuyển

oxy, chuỗi hô hấp và chuyển hoá thuốc Tuy vậy, quá trình dị hoá của haem ở tế bào động vật vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ Haem giáng hoá thành sắt, carbon monoxit (CO) và biliverdin, chất sau đó được chuyển hoá thành bilirubin Do việc định lượng bilirubin tương đối phức tạp, dù có quan trọng về mặt lâm sàng lâm sàng,quá trình sản xuất và vận chuyển sản phẩm này còn nhiều điều chưa được làm rõ

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu:Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng UnaG, một loại protein

huỳnh quang gắn bilirubin được tìm thấy gần đây, vào việc khảo sát bilirubin trên nhiều dòng tế bào người

Kết quả:Chúng tôi tìm thấy một lượng bilirubin đáng kể được tạo ra ở nhiều dòng tế bào không phải huyết

cầu Những kết quả thu được cho thấy có sự tổng hợp haem ở mức cơ sở và sự chuyển hoá tiếp tục thành bilirubin Đáng chú ý, nhiều biến đổi quan trọng được ghi nhận với bilirubin khi tế bào ở trạng thái tress

Kết luận: Do tổn thương tế bào khi stress bị thúc đẩy bởi sự phong toả chuyển hoá haem nhưng lại được cải

thiện bởi việc bổ sung biliverdin và bilirubin, có khả năng sự tổng hợp mới haem và chuyển hoá thành bilirubin theo sau đó đóng vai trò không thể thiếu trong bảo vệ tế bào khỏi sự tổn thương

Từ khoá: bilirubin, haem, bảo vệ tế bào

ABSTRACT

CONTINUOUS DE NOVO BIOSYNTHESIS OF HAEM AND ITS RAPID TURNOVER TO BILIRUBIN ARE NECESSARY FOR CYTOPROTECTION AGAINST CELL DAMAGE

Tran Tien Tai * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 42 - 51

Background: It is well known that haem serves as the prosthetic group of various haemoproteins that

function in oxygen transport, respiratory chain, and drug metabolism However, much less is known about the functions of the catabolites of haem in mammalian cells Haem is enzymatically degraded to iron, carbon monoxide (CO), and biliverdin, which is then converted to bilirubin Owing to difficulties in measuring bilirubin, however, the generation and transport of this product remain unclear despite its clinical importance

Objectives-Method: We used UnaG, the recently identified bilirubin-binding fluorescent protein, to

analyses bilirubin production in a variety of human cell lines

Results:We detected a significant amount of bilirubin with many non-blood cell types, which was sensitive

to inhibitors of haem metabolism These results suggest that there is a basal level of haem synthesis and its conversion into bilirubin Remarkably, substantial changes were observed in the bilirubin generation when cells were exposed to stress insults

Conclusion: Since the stress-induced cell damage was exacerbated by the pharmacological blockade of haem

metabolism but was ameliorated by the addition of biliverdin and bilirubin, it is likely that the de novo synthesis of haem and subsequent conversion to bilirubin play indispensable cytoprotective roles against cell damage

* Bộ môn Sinh lý – Sinh lý bệnh – Miễn dịch học, ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

Key worlds: bilirubin, haem, against cell damage

MỞ ĐẦU

Haem cần 8 men trong quá trình sinh tổng

hợp và 3 men cho sự giáng hoá nó Ba bước khởi

đầu và kết thúc của tổng hợp hợp haem diễn ra

trong ty thể Trongphản ứng đầu tiên,

5-aminolevulenic acid (ALA) synthase xúc tác sự

ngưng kết glycine và succinyl-CoA tạo thành

ALA(36,30) Ferrochelatase là men tổng hợp cuối

cùng, xúc tác cho việc gắn sắt vào

protoporphyrin IX (PPIX) để tạo thành haem(29,5)

Haem tạo thành được

vận chuyển ra khỏi ty thể và sử dụng để tạo

nên các protein hoàn chỉnh Chuỗi chuyển hoá

haem được điều hoà tại một vài bước và còn

chịu sự điều khiển của nhịp sinh học, các

hormones và stress oxi hoá(8,15,14) Tuy vậy, sự liên

kết giữa haem và các con đường chuyển hoá

khác vẫn còn ít được biết đến

Bilirubin là sản phẩm cuối cùng của sự giáng

hoá haem Nó được tạo ra từ phản ứng với haem

oxygenase (HO), có tác dụng giáng hoá haem

thành biliverdin, sắt và carbon monoxide

(CO)(3,1) Cuối cùng, biliverdin reductase trong tế

bào chất tạo ra bilirubin, chất được đào thải sau

khi liên hợp với glucoronate trong gan HO (gồm

HO-1 và HO-1) đóng vai trò là một chất điều hoà

có tác dụng duy trì nồng độ haem nội bào Sắt

tạo bởi HO được tái sử dụng vào các protein có

chứa sắt(26,10,25) Bilirubin có đặc tính chống oxy

hoá(24,35) Dạng liên hợp của nó không tan trong

nước, gắn vào albumin và được chuyển vào tế

bào gan thông qua nhiều hệ thống vận

chuyển(24,35) Sau khi glucuronin hoá bởi các men

gan, bilirubin liên hợp được tiết vào mật Sự gián

đoạn trong vận chuyển gan mật sẽ dẫn đến triệu

chứng vàng da trong nhiều bệnh lý của gan(35,7)

Mặc dù bilirubin trong mật bắt nguồn chủ yếu từ

hemoglobin của tế bào hồng cầu lão hoá qua con

đường chuyển hoá gan(7), sự sản xuất và vận

chuyển bilirubin ở mô ngoại vi chưa được nhắc

đến.Bên cạnh đó, CO có thể liên quan đến sự bảo

vệ tế bào khỏi những tổn thương oxy hoá thông

qua chất cảm ứng với stress HO-1(34,13) Vì vậy, sự cảm ứng HO-1 sinh lý có khả năngbảo toàn mô trước các stress oxy hoá, góp phần vào sự điều

hoà các đáp ứng viêm in vivo, và hoạt động như

một cơ chế tự vệ của mô(34,13,19) Tuy nhiên, cơ chế chính xác của phản ứng HO-1 đối với chức năng bảo vệ này vẫn còn chưa rõ

Gần đây,protein huỳnh quang tìm thấy trong lươn UnaG được phát hiện gắn với bilirubin tự

do với ái lực cao(18) Việc định lượng bilirubin trong mô và huyết thanh trở thành một ứng dụng hữu ích của UnaG Chúng tôi khảo sát sự tạo thành bilirubin ở tế bào người bằng UnaG và tìm thấy tất cả các dòng tế bào được khảo sát liên tục sản xuất và phóng thích bilirubin, thông qua sinh tổng hợp haem Thêm vào đó, tế bào duy trì dòng chuyển hoá haem, sản xuất và phóng thích sản phẩm đầu cuối bilirubin Hoạt động trao đổi chất liên tục này của haem cần thiết cho sự bảo

vệ tế bào khỏi tress và duy trì cân bằng nội môi của chúng

PHƯƠNG PHÁP Xây dựng plasmid biểu hiện UnaG

Để xây dựng vector vi khuẩn biểu hiện mang UnaG, pcDNA3-flag-UnaG(18) được cắt với các men BamHI và EcoRI, và đoạn chèn được phân lập gắn vào các điểm BamHI và EcoRI của pET32a(+) Tiếp theo, pET-UnaG được chuyển vào BL21 UnaG được cảm ứng với 0.3mM isopropyl thiogalactopyranoside (IPTG) và tinh sạch bằng hạt ion nickel

Nuôi cấy tế bào

Tế bào ung thư biểu mô cổ tử cung HeLa, ung thư gan HepG2, ung thư biểu mô da A431, ung thư vú MCF7, ung thư gan Alexander (PLC/PRF/5) và phôi thận HEK293T được nuôi trong môi trường Eagle’s điều chỉnh theo Dulbecco (DMEM) bổ sung 7% FCS, penicillin (100 đơn vị/ml) và streptomycin (100 ug/ml) Tế bào ung thư ruột DLD-1 và ung thư máu K562 được nuôi bằng RPMI1640 chứa 7% FCS và kháng sinh HEK293T được chuyển

Trang 3

pcDNA3-flag UnaG bằng Lipofectamine 2000 (Invitrogen)

và ủ 16 giờ Để tạo ra tế bào chuyển gen ổn định

HepG2 và HeLa, pcDNA3-flag UnaG(18) (10ug)

được chuyển với calcium phosphate(31) G148 ở

nồng độ đích 300 ug/ml được cho vào môi

trường nuôi để chọn lọc Sau 5 ngày, những

dòng tế bào kháng G418 được chuyển nuôi vào

đĩa 24 giếng với môi trường chứa G418 300

ug/ml Từng dòng được phân lập và đánh giá

biểu hiện UnaG bằng kính hiển vi huỳnh quang

4 dòng biểu hiện UnaG được thu nhận, trộn lẫn

để tránh biến thể dòng và duy trì với DMEM

chứa 7% FCS và kháng sinh Với tế bào chứng,

HepG2 được chuyển vector pcDNA3.1 và phân

lập tế bào kháng G418 Haem trong tế bào được

đánh giá bằng chỉ thị màu sử dụng bộ khảo sát

haem

Khảo sát huỳnh quang của bilirubin

Tế bào được nuôi với môi trường tổng hợp

không bilirubin VP-SFM chứa BSA 2 mg/ml

Biểu hiện của UnaG trong tế bào sống được

quan sát bằng kính hiển vi huỳnh quang Tiếp

theo tế bào bị phá màng bằng siêu âm, lượng

bilirubin gắn vào UnaG được đánh giá bằng

huỳnh quang và đo với quang phổ kế, sử dụng

bước sóng kích thích 480 nm và bước sóng phát

xạ được dò trong khoảng 500 đến 550 nm(18) Để

đo lượng bilirubin trong môi trường, môi trường

được ủ với UnaG tái tổ hợp mang his-tag (2ug)

trong 1 giờ ở 25oC Sau đó UnaG sẽ bị bắt giữ bởi

hạt Ni2+ Sau khi rửa với TBS, UnaG được hoà

với TBS chứa 300 uM imidazole và đo huỳnh

quang

Vết miễn dịch

Dịch tế bào HEK293T được làm mẫu chạy

SDS-PAGE và điện di trên màng poly(vinylidene

difluoride) (PVDF)(25,31)

3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium bromide(MTT) assay Tế

bào được xử lý với các chất tác động trong 24h

và trộn với MTT (500 ug/ml) trong 1 giờ MTT

formazan tạo thành được hoà với isopropanol

Đo hấp thu tại bước sóng 590 nm được đo với

máy đọc quang 96 giếng Thí nghiệm được tiến hành với 4-6 lần lặp

Thống kê

Các kết quả được thể hiện ở dạng trung bình±SD và phân tích bằng Student’s t-test không ghép cặp Các phân tích thống kê được ghi nhận khác biệt tại mức p<0.05 sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010(25,31)

KẾT QUẢ Bilirubin được tổng hợp trong tế bào và phóng thích ra môi trường

UnaG được phát hiện gắn vào bilirubin tự

do và phát huỳnh quang(18) Nhằm đánh giá sự sản xuất bilirubin ở tế bào người, đầu tiên chúng tôi đo nồng độ bilirubin trong tế bào được nuôi cấy bằng UnaG tái tổ hợp Do huyết thanh nhau

bê (FCS) có chứa bilirubin (7-10 pmol/ml), chúng tôi sử dụng môi trường tổng hợp không bilirubin VP-SFM thay cho DMEM có chứa FCS

để đánh giá lượng bilirubin Nồng dộ bilirubin trong môi trường nuôi tế bào HEK 293T, HeLa

và HepG2 tăng tuyến tính đến 5 giờ (Hình 1a) Bilirubin sản xuất bởi tế bào DLD-1, Alexander, A431 và MCF7 tương tự với HeLa Một lượng nhỏ bilirubin được phóng thích theo thời gian từ

tế bào ung thư máu K562 Xử lý tế bào K562 với haeminđưa đến sự gia tăng bilirubin được sản xuất (Hình 1b) Vết miễn dịch cho thấy một số men, bao hồm HO-1, HO-2, biliverdin reductase

A (BVRA) và B (BVRB), là những chất có liên quan đến sự tạo thành bilirubin từ haem, hiện diện phổ biến trong những dòng tế bào này, ngoại trừ HO-1 ở K562 (Hình 1c) Những kết quả trên cho thấy tất cả các dòng tế bào được khảo sát sản xuất bilirubin một cách liên tục Khi

tế bào HEK293T được xử lý với ALA, haemin hoặc biliverdin, bilirubin môi trường gia tăng rõ rệt (Hình 2a) Ngược lại, bilirubin không được tìm thấy trong môi trường nuôi tế bào được xử

lý với succinyl acetone (SA), chất ức chế đặc hiệu của ALA dehydratase Khi tế bào tiếp xúc với protoporphrin thiếc (Sn-PP), chất ức chế HO, hoặc protoporphyrin N-methyl (N-MePP), chất

Trang 4

ức chế ferrochelatase, bilirubin môi trường giảm

(Hình 2b) Protoporphyrin kẽm (Zn-PP) triệt

tiêu hoàn toàn sự tạo thành bilirubin Chúng tôi

cũng khảo sát lượng haem nội bào ở tế bào HEK

Như trong hình 2c, haem tăng nhẹ bởi ALA hoặc

sắt citrate trong khi giảm với SA Tiếp theo,

chúng tôi đánh giá sự tạo thành bilirubin với tế

bào HepG2 và HeLa biểu hiển ổn định UnaG

Các tế bàonày phát huỳnh quang trong môi

trường không bilirubin (Hình 2d) Độ mạnh

huỳnh quang trong tế bào và môi trường tăng

khi xử lý với ALA, haemin và bilirubin (Hình

2e) trong khi SA làm giảm cường độ Mức UnaG

trong tế bào HepG2 biểu hiện UnaG không đổi

trong các điều kiện trên (Hình 2f) Tiếp đó

chúng tôi so sánh sự tạo thành bilirubin trong

môi trường khi có hoặc không có sự hiện hiện

của SA Thí nghiệm này giảm lượng bilirubin nội

bào trong môi trường, ngay cả khi có đưa

haemin hoặc bilirubin (Hình 3a,b), cho thấy

bilirubin được tổng hợpmới có khuynh hướng

gắn với UnaG

HO-1 cảm ứng bởi sodium arsenite, cadmium

chloride và diethyl malate (DEM) không làm tăng sự

hình thành bilirubin Mặc dù sự cảm ứng HO-1

bởi các chất kích ứng haem làm tăng sắt nội

bào(36,37), chất kích ứng khác haem vẫn chưa được

biết rõ có ảnh hưởng thế nào đến sự hình thành

Khi cho HEK293T tiếp xúc với sodium arsenite,

cadmium chloride, và DEM, lượng HO-1 tăng

(Hình 4a) Việc xử lý tế bào HEK với những chất

tác động này làm giảm lẫn tăng nhẹ sự hình

thành bilirubin, cho thấy sự tạo thành bilirubin

không tăng rõ rệt điều kiện stress(Hình 4b).Tế

bào HepG2 biểu hiện UnaG trong tất cả các thử

ngiệm cũng không biểu hiện một sự thay đổi rõ

ràng nào trong sự hình thành bilirubin nội và

ngoại bào, ngoại trừ sự tăng nhẹ trong trường

hợp cadmium (Hình 4c) Hơn nữa, xử lý tế bào

HepG2 với SA làm giảm bilirubin môi trường kể

cả với sự hiện diện của chất kích ứng (Hình 4d) Những kết quả trên cho thấy sự chuyển hoá hoặc giáng hoá của haem ở những protein chứa haem không thể được đẩy nhanh trong điều kiện stress

Vai trò bảo vệ tế bào của biliverdin và bilirubin trong phản ứng HO

Nhằm đánh giá vai trò sinh lý của sự sản xuất liên tục haem và chuyển hoá nhanh thành bilirubin tiếp đó, tế bào được cho tiếp xúc với những tác nhân gây tổn thương như menadion, DEM(39,38) Phép đo MTT được thực hiện để lượng giá tổn thương tế bào Khi tế bào HEK 293T được xử lý kết hợp với DEM và SA, tế bào chết tăng khi so sánh với nhóm chỉ với DEM (Hình 5a) Việc ngăn chặn tổng hợp haem đưa đến sự nhạy cảm với tổn thương oxy hoá Thêm haemin 10 uM vào tế bào xử lý với DEM và SA dẫn tới sự hồi phục của tế bào Nống độ cao hơn của haemin (20-50 uM) lại kích ứng độc tế bào Tiếp đó, chúng tôi ủ tế bào xử lý DEM và SA với sản phẩm phản ứng của HO Sự chết tế bào giảm trong so sánh với nhóm được xử lý không có

tricorbonyldichlororuthenium (II) dimer (CORM2) hình thành từ CO không giảm thiểu tổn thương tế bào Bilirubin thêm vào ở nồng độ thấp (0,1 uM) chống lại sự chết tế bào do cảm ứng DEM và SA Tổn thương tế bào do menadione và SA cũng giảm nhờ biliverdin và bilirubin nhung không do CORM Xử lý tế bào với DEM với sự hiện diện của Zn-PP làm tế bào chết, và sự bổ sung haemin làm tăng nhẹ số lượng tế bào sống Sự tổn thương tế bào bởi DEM và Zn-PP không hồi phục bởi CORM2, nhưng sự hồi phục lại được ghi nhận với với biliverdin Những kết quả trên gợi ý rằng sự sản xuất biliverdin và bilirubin do phản ứng HO trong tế bào có vai trò bảo vệ

Trang 5

Hình 1 Sự tạo thành và phóng thích bilirubin ở tế bào người (a) Sự phóng thích bilirubin từ tế bào ra môi trường theo thời gian (b) Sự tạo thành bilirubin ở tế bào K562 (c) Phân tích vết miễn dịch các protein liên quan

đến sự tạo thành bilirubin

Hình 2.Những thay đổi trong sản xuất bilirubin và lượng haem nội bào khi xử lý với chất ức chế sinh

*p<0,005, **p<0,01 so với nhóm chứng (b) Hiệu ứng của các chất ức chế (c) Thành phần haem (n=4 cho từng nhóm), *p<0,01 (d) Hình ảnh hiển vi Thanh chuẩn: 20uM (e) Bilirubin nội và ngoại bào (n=4 cho từng nhóm)

*p<0,01, **p<0,05 so với nhóm chứng (f) Phân tích vết miễn dịch của UnaG

Trang 6

Hình 3 Hiệu ứng của SA, haemin, hoặc bilirubin trên sự sản xuất bilirubin ở tế bào HepG2 biểu hiện UnaG (a) Hình ảnh hiển vi.(b) Lượng bilirubin nội và ngoại bào (n=3 cho từng nhóm), *p<0.05

Hình 4 Sự tạo thành bilirubin ở tế bào HEK293T và HepG2 được xử lý arsenite, cadminium và DEM

(a) Phân tích vết miễn dịch (b) Bilirubin trong môi trường (n=4 cho từng nhóm), *p<0,01 (c) Bilirunbin trong tế bào HepG2 biểu hiện UnaG và tiếp xúc với các chất gây stress *p<0,01 (d) Bilirubin trong tế bào HepG2 xử lý với

SA (n=4 cho từng nhóm)

Trang 7

Hình 5.Sự gia tăng các tổn thương oxy hóa bằng sự ức chế chuyển hóa haem và sự hòi phục nhờ biliverin và

bilirubin (a) Sự gia tăng tổn thương tế bào với SA và sự hồi phục nhờ biliverdin và bilirubin (n=6 cho từng nhóm) *p<0.01,

**p<0.05 so với xử lý với DEM và SA (b) Hiệu ứng của ZN-PP, biliversin và bilirubin đối với tổn thương oxy hóa (n=5 cho từng nhóm) *p<0.01

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, đầu tiên chúng tôi

cho thấy nhiều dòng tế bào liên tục sản xuất và

giáng hoá haem Bilirubin cuối cùng được tạo ra

và phóng thích từ tế bào vào môi trường Để loại

bỏ các dòng bilirubin khác vào môi trường,

chúng tôi sử dụng môi trường không bilirubin,

và phát hiện ra tất cả các tế bào được khảo sát

liên tục sản xuất bilirubin Tất cả các tế bào

nghiên cứu biểu hiện các men tham gia dị hoá

haem (Hình 1c) Tế bào ung thư máu K563 chỉ

tạo ra khoảng 1/10 lượng bilirubin sản xuất bởi tế

bào HEK293T và HepG2 K563 không biểu hiện

HO-1, nhưng HO-2 giáng hoá haem tạo thành

biliverdin, chất được biến đổi thành bilirubin bởi

BVR Vì vậy, ngay cả hồng cầu, những tế bào sử

dụng haem với số lượng lớn để tổng hợp

hemoglobin, sản suất bilirubin qua con đường

giáng hoá haem Kumagai và cộng sự(18) đã báo

cáo rằng bilirubin hiện diện rộng rãi trong não

của phôi chuột (E16.5) và tế bào HeLa xác định

bằng huỳnh quang UnaG Một nghiên cứu trước đây(20) sử dụng thí nghiệm đánh dấu xung với ALA hoặc sắt đồng vị phóng xạ, cho thấy có sự giáng hoá nhanh của haem mới tổng hợp trong gan chuột và tế bào gan được phân tách Từ những phát hiện này, chúng tôi kết luận rằng tế bào động vật liên tục tổng hợp bilirubin từ bước khởi đầu là tổng hợp haem thông qua con đường chuyển hoá haem

Cho tế bào tiếp xúc với nhứng chất kích ứng stress khác haem, bao gồm asenite, cadminium

và DEM, đưa đến sự cảm ứng HO-1, nhưng chỉ những thay đổi nhỏ trong sản xuất bilirubin (Hình 4 b,c) Hơn nữa, thử nghiệm với SA dẫn tới việc dừng hoàn toàn sự sản xuất bilirubin trong điều kiện tress bởi arsenite, cadminium và DEM Quan sát này cho thấy rằng sự cảm ứng của HO-1 không phải luôn đi đôi với sự giáng hoá của các cấu thành haem nhằm bảo vệ tế bào khỏi các stress oxy hoá Quan sát tương tự được ghi nhận bởi Shetefel và cộng sự(33), cụ thể, chất

Trang 8

cảm ứng khác haem là arsenite kích ứng sự biểu

hiện của HO-1 ở đại thực bào chuột RAW264.7

nhưng không làm thay đổi sự chuyển hoá sắt

của tế bào Những tác giả này cũng phát hiện

rằng tế bào biểu hiện ổn định HO-1 được bảo vệ

khỏi stress oxy hoá, nhưng sự tổng hợp ferritin

không tăng Một nghiên cứu in vivo(2) cho thấy

mức bilirubin nước tiểu ở chuột được tiêm

arsenite từ vừa đến mạnh theo sau sự cảm ứng

của HO-1 gan Bilirubin nước tiểu nhanh chóng

trở về mức cơ bản, mặc dù HO-1 gan tiếp túc

biểu hiện ở mức cao Vì vậy, cảm ứng của HO-1

không liênquan đến sự giáng hoá của haem

trong điều kiên stress, nhưng những quá trình

khác có thể xảy ra để đáp ứng lại stress tế bào

Trái lại, HO-1 tăng được cho rằng dẫn đến sự gia

tăng giáng hoá của haem nội bào và thay đổi

tình trạng sắt nội bào theo sau(17) Những sự kiện

này có thể liên quan đến sự bảo vệ tế bào chống

lại stress oxy hoá Thực tế, việc biểu hiện HO-1

được ghi nhận làm thay đổi sự phân phối sắt nội

bào, đưa đến hiệu ứng bảo vệ tế bào chống lại

hydrogen peroxide(19) Trên cơ sở những quan sát

này, sự cảm ứng HO-1 không phải lúc nào cũng

có sự tương quan với sự giáng hoá của haem và

chuyển hoá sắt Tuy nhiên, sự điều hoà haem và

chuyển hoá sắt là chuyên biệt theo tế bào Xem

xét sự biểu hiện ở khía cạnh xúc tác, HO-1 và

HO-2 bất hoạt vẫn dẫn đến hiệu ứng bảo vệ tế

bào chống lại stress oxy hoá(16,12), HO thuần có

thể bảo vệ tế bào hiệu quả; nói cách khác, chức

năng bảo vệ tế bào của HO có thể tách biệt với

mức độ giáng hoá của haem bằng phản ứng HO

Nhiều nghiên cứu(3,26,6) cho thấy hiệu ứng bảo

vệ tế bào của phản ứng HO hoặc sản phẩm của

nó CO, biliverdin và bilirubin Chúng tôi tìm

thấy haem được tổng hợp liên tục, giáng hoá và

cuối cùng chuyển hoá thành bilirubin Thêm vào

đó, tế bào liên tục sản xuất CO, biliverdin và

bilirubin ở một mức cơ bản (Hình 2,3) Vì vậy,

để đánh giá đặc tính sinh lý của sự chuyển hoá

liên tục heam, tế vào được cho tiếp xúc với

những tác nhân oxi hoá DEM và menadione Sự

tổn thương tế bào tăng với xử lý bằng SA, chỉ ra

rằng tổng hợp haem là cần thiết cho sự bảo vệ chống lại những tổn thương oxy hoá Việc bổ sung 10uM haemin phần nào hồi phục tế bào, cho thấy rằng dòng heam là cần thiết cho việc bảo vệ chống lại tổn thương oxy hoá Ngược lai, haemin đưa từ ngoài vào với lượng dư lại gây ra

sự tổn thương Vì vậy, haem là một phân tử 2 mặt; ở nồng độ sinh lý, nó thực hiện những vai trò cần thiết, trong khi lượng dư thừa của hem dẫn đến stress oxy hoá hoặc tổn thương tế vào Với sự hiện diện của Zn-PP, một chất ức chế cạnh tranh của phản ứng HO, tế bào trở nên nhạy cảm với tổn thương, gợi ý rằng các sản phẩm của phản ứng HO có thể là những chất bảo vệ chống lại sự phá huỷ

Cuối cùng, biliverdin và bilirubin, nhưng không phải CO, làm giảm nhẹ các tổn thương tế bào Bilirubin ở nồng độ thấp (100 nM) có hiệu quả trong việc phòng ngừa phá huỷ tế bào nhưng không có tác dụng ở nồng độ cao hơn

(1-10 uM) Trong môi trường nuôi cấy chứa (1-10% FCS, nồng độ bilirubin tương đương 1nM, mức không đủ phòng ngừa stress oxy hoá Tuy nhiên, xem xét một nghiên cứu khác(28)cho thấy nồng đọ 1-20 uM bilirubin cảm ứng HO-1 thông qua hoạt hoá yếu tố phiên mã đáp ứng stress Nrf2, việc dùng bilirubin ở nồng độ cao hơn có thể gây stress tế bào Dựa trên những phát hiện của chúng tôi, bilirubin trong tế bào được xử lý với

SA không hoàn toàn bổ sung bởi bilirubin từ

ngoài, có khả năng bilirubin tạo mới(de novo)

trong tế bào hiệu quả hơn trong việc phòng ngừa các tổn thương tế bào Vì vậy, có thể sự chuyển hoá biliverdin thành bilirubin bởi BVR đóng vai trò quan trọng trong việc tự vệ tế bào Về mặt này, BVR điều hoà bởi biliverdin trở thành một yếu tố phiên mã là một chất đièu hoà quan trọng trong các đáp ứng miễn dịch bẩm sinh đo sự tác động hoặc chấn thương(22,40)

Khoảng 80% bilirubin hình thành mỗi ngày bắt nguồn từ sự giáng hoá của haemoglobin trong hồng cầu(21) 20% còn lại từ sự tạo hồng cầu không hiệu quả ở tuỷ xương và sự giáng hoá của các protein hem khác Các nghiên cứu trên

Trang 9

chuyển hoá bilirubin chủ yếu được tiến hành với

gan người và động vật(35,7) Dữ liệu trong nghiên

cứu này cung cấp bằng chứng rằng bilirubin ở tế

bào ngoại vi được sản xuất trực tiếp thông qua

con đương haem và không phải luôn từ những

protein haem Những nghiên cứu trước đó(32,11)

cho thấy ALA đồng vị phóng xạ được tiêm vào

chuột, bilirubin đồng vị xuất hiện trong mật

trong vòng 15 phút Bilirubin này có thể bắt

nguồn từ sự chuyển hoá nhanh nguồn từ bào

tương tế bào gan giáng hoá mà không liên quan

đến các protein haem Những kết quả hiện tại

cho thấy haem mới tổng hợp liên tục được

chuyển hoá thành bilirubin Bilirubin được xuất

ra ngoại bào, gắn vào albumin, và được vận

chuyển đến gan thông qua hệ tuần hoàn Về mặt

này, bệnh nhân thiếu máu tán huyết chịu tình

trạng tăng bilirubin máu do sự gia tăng bilirubin

tự do trong huyết thanh, có thể do sự sản xuất

quá mức bilirubin(24,7) Sự sụt giảm thanh thải

bilirubin bởi tế bào gan có thể gây ra sự tích tụ

bilirubin tự do, nhưng điều này rất hiếm(23,9)

Những khiếm khuyết của các protein vận

chuyển bilirubin cần được làm rõ để giải thích

các bệnh nghiêm trọng Gan bình thường biểu

hiện một số lượng lớn các protein vận chuyển,

bao gồm các ion dương hữu cơ, những chất có

thể loại bỏ một lượng lớn bilirubin trong hệ tuần

hoàn và liên hợp với glucuronate

KẾT LUẬN

Do tổn thương tế bào khi stress bị thúc đẩy

bởi sự phong toả chuyển hoá haem nhưng lại

được cải thiện bởi việc bổ sung biliverdin và

bilirubin, có khả năng sự tổng hợp mới haem và

chuyển hoá thành bilirubin theo sau đó đóng vai

trò không thể thiếu trong bảo vệ tế bào khỏi sự

tổn thương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alam J, et al (2004) Regulation of heme oxygenase-1 gene

transcription: recent advances and highlights from the

International Conference (Uppsala, 2003) on Heme

Oxygenase Antioxid Redox Signal 6(5): 924-33

2 Arthur DM, et al (2012) Urinary excretion of bilirubin

oxidative metabolites in arsenite-treated mice J Toxicol Sci

37(3): 655-61

3 Baranano DE and Snyder SH (2001) Neural roles for heme

oxygenase: contrasts to nitric oxide synthase Proc Natl Acad

Sci U S A 98(20): 10996-1002

4 Chiabrando D, et al (2012) The mitochondrial heme exporter

FLVCR1b mediates erythroid differentiation J Clin Invest

122(12): 4569-79

5 Crooks DR, et al (2010) Posttranslational stability of the heme biosynthetic enzyme ferrochelatase is dependent on iron availability and intact iron-sulfur cluster assembly machinery

Blood 115(4): 860-9

6 Dolinay T, Choi AM, and Ryter SW (2012) Heme Oxygenase-1/CO as protective mediators in cigarette smoke- induced lung

cell injury and chronic obstructive pulmonary disease Curr

Pharm Biotechnol 13(6): 769-76

7 Erlinger S, Arias IM, and Dhumeaux D (2014) Inherited disorders of bilirubin transport and conjugation: new insights

Gastroenterology 146(7): 1625-38

8 Feng D and Lazar MA (2012) Clocks, metabolism, and the

epigenome Mol Cell 47(2): 158-67

9 Gentile S, Persico M, and Tiribelli C (1990) Abnormal hepatic uptake of low doses of sulfobromophthalein in Gilbert's syndrome: the role of reduced affinity of the plasma

membrane carrier of organic anions Hepatology 12(2): 213-7

10 Gozzelino R, Jeney V, and Soares MP (2010) Mechanisms of

cell protection by heme oxygenase-1 Annu Rev Pharmacol

Toxicol 50: 323-54

11 Grandchamp B, et al (1981) Formation and disposition of newly synthesized heme in adult rat hepatocytes in primary

culture J Biol Chem 256(22): 11677-83

12 Hori R, et al (2002) Gene transfection of H25A mutant heme oxygenase-1 protects cells against hydroperoxide-induced

cytotoxicity J Biol Chem 277(12): 10712-8

13 Hull TD, Agarwal A, and George JF (2014) The mononuclear phagocyte system in homeostasis and disease: a role for heme

oxygenase-1 Antioxid Redox Signal 20(11): 1770-88

14 Igarashi K and Watanabe-Matsui M (2014) Wearing red for signaling: the heme-bach axis in heme metabolism, oxidative

stress response and iron immunology Tohoku J Exp Med

232(4): 229-53

15 Itoh R, et al (2013) Imaging of heme/hemeproteins in nucleus

of the living cells expressing heme-binding nuclear receptors

FEBS Lett 587(14): 2131-6

16 Kim YS and Dore S (2005) Catalytically inactive heme

oxygenase-2 mutant is cytoprotective Free Radic Biol Med

39(4): 558-64

17 Kovtunovych G, et al (2010) Dysfunction of the heme recycling system in heme oxygenase 1-deficient mice: effects

on macrophage viability and tissue iron distribution Blood

116(26): 6054-62

18 Kumagai A, et al (2013) A bilirubin-inducible fluorescent

protein from eel muscle Cell 153(7): 1602-11

19 Lanceta L, et al (2013) Haem oxygenase-1 overexpression

alters intracellular iron distribution Biochem J 449(1): 189-94

20 Lodola A and Jones OT (1978) Evidence for a rapidly turned

over pool of haem in isolated hepatocytes FEBS Lett 90(2):

250-4

21 London IM, et al (1950) On the origin of bile pigment in

normal man J Biol Chem 184(1): 351-8

Trang 10

22 Maines MD (2007) Biliverdin reductase: PKC interaction at

the cross-talk of MAPK and PI3K signaling pathways

Antioxid Redox Signal 9(12): 2187-95

23 Martin JF, et al (1976) Abnormal hepatic transport of

indocyanine green in Gilbert's syndrome Gastroenterology

70(3): 385-91

24 McDonagh AF, Palma LA, and Lightner DA (1980) Blue light

and bilirubin excretion Science 208(4440): 145-51

25 Ohgari Y et al (2011) Roles of porphyrin and iron

metabolisms in the delta-aminolevulinic acid (ALA)-induced

accumulation of protoporphyrin and photodamage of tumor

cells Photochem Photobiol 87(5): 1138-45

26 Origassa CS and Camara NO (2013) Cytoprotective role of

heme oxygenase-1 and heme degradation derived end

products in liver injury World J Hepatol 5(10): 541-9

27 Paul S et al (1997) ATP-dependent uptake of natural product

cytotoxic drugs by membrane vesicles establishes MRP as a

broad specificity transporter Proc Natl Acad Sci U S A 94(26):

14976

28 Qaisiya M, et al (2014) Bilirubin mediated oxidative stress

involves antioxidant response activation via Nrf2 pathway

Cell Signal 26(3): 512-20

29 Sakaino M et al (2009) Dual mitochondrial localization and

different roles of the reversible reaction of mammalian

ferrochelatase FEBS J 276(19): 5559-70

30 Sassa S (1990) Regulation of the genes for heme pathway

enzymes in erythroid and in non-erythroid cells Int J Cell

Cloning 8(1): 10-26

31 Sawamoto M et al (2013) The p53-dependent expression of

frataxin controls 5-aminolevulinic acid-induced accumulation

of protoporphyrin IX and photo-damage in cancerous cells

Photochem Photobiol 89(1): 163-72

32 Schwartz S et al (1971) Erythropoietic defects in

protoporphyria: a study of factors involved in labelling of

porphyrins and bile pigments from ALA- 3 H and glycine- 14

C J Lab Clin Med 78(3): 411-34

33 Sheftel AD, Kim SF and Ponka P (2007) Non-heme induction

of heme oxygenase-1 does not alter cellular iron metabolism J

Biol Chem 282(14): 10480-6

34 Simon T, Anegon I and Blancou P (2011) Heme oxygenase and carbon monoxide as an immunotherapeutic approach in

transplantation and cancer Immunotherapy 3(4 Suppl): 15-8

35 Sticova E and Jirsa M (2013) New insights in bilirubin

metabolism and their clinical implications World J

Gastroenterol 19(38): 6398-407

36 Taketani S (2005) Aquisition, mobilization and utilization of cellular iron and heme: endless findings and growing

evidence of tight regulation Tohoku J Exp Med 205(4):

297-318

37 Taketani S et al (1989) The human 32-kDa stress protein induced by exposure to arsenite and cadmium ions is heme

oxygenase FEBS Lett 245(1-2): 173-6

38 Taketani S et al (1990) Induction in mouse peritoneal macrophages of 34 kDa stress protein and heme oxygenase by

sulfhydryl-reactive agents J Biochem 108(1): 28-32

39 Wang X et al (2008) Cytoprotection of human endothelial cells from menadione cytotoxicity by caffeic acid phenethyl

ester: the role of heme oxygenase-1 Eur J Pharmacol 591(1-3):

28-35

40 Wegiel B et al (2011) Biliverdin inhibits Toll-like receptor-4 (TLR4) expression through nitric oxide-dependent nuclear

translocation of biliverdin reductase Proc Natl Acad Sci U S A

108(46): 18849-54

Ngày nhận bài báo: 03/08/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/08/2016 Ngày bài báo được đăng: 05/10/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 16:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w