1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xoắn mạc nối lớn ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

5 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 270,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: Nhằm nêu kết quả bước đầu trong chẩn đoán và xử trí xoắn một phần mạc nối lớn nguyên phát. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu các trường hợp đau bụng cấp do xoắn một phần mạc nối lớn nguyên phát được điều trị tại khoa Ngoại Tổng Hợp, bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 6/2012 đến 12/2017.

Trang 1

XOẮNMẠC NỐI LỚN Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Lê Sĩ Phong*, Trần Thanh Trí*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhằm nêu kết quả bước đầu trong chẩn đoán và xử trí xoắn một phần mạc nối lớn nguyên phát Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu các trường hợp đau bụng cấp do xoắn một phần mạc nối lớn nguyên

phát được điều trị tại khoa Ngoại Tổng Hợp, bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 6/2012 đến 12/2017

Kết quả: Có 38 bệnh nhân bao gồm 21 nam và 17 nữ, tuổi trung bình 6,82 ± 1,95 tuổi (từ 3,5 đến 11,5 tuổi) Biểu hiện lâm sàng gồm: đau hố chậu (P) trong 30 trường hợp (78,9%), đề kháng thành bụng trong 38 trường hợp (100%) Về cận lâm sàng, 100% các trường hợp có bạch cầu máu tăng > 11000/mm 3 Siêu âm bụng ghi nhận mạc nối bất thường trong 15 trường hợp (39,5%) Tất cả bệnh nhân tiền sử bệnh không ghi nhận gì bất thường Tất cả đều được mổ nội soi và chẩn đoán xác định khi mổ Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 3,4 ngày Không biến chứng và không có trường hợp nào tử vong

Kết luận: Xoắn một phần mạc nối lớn nguyên phát là nguyên nhân hiếm gặp của đau bụng cấp và thường

chẩn đoán lầm với viêm ruột thừa Bệnh thường được chẩn đoán lúc mổ và điều trị là cắt bỏ phần mạc nối lớn bị xoắn Kết quả đều tốt

Từ khóa: Xoắn mạc nối lớn, đau bụng cấp

ABSTRACT

PRIMARY OMETAL TORSION IN CHILDREN

Le Si Phong, Tran Thanh Tri

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 134- 138

Objectives: We report our initial results in diagnosis and treatment of acute abdomen pain caused by

torsion of the segmental greater omentum

Methods: Having retrospectively studied of torsion segmental of the greater omentum treated at the second

Children hospital, General Surgery Department from June 2012 to December 2017

Results: There were 38 patients including 21 males and 17 females, mean age 6,82 ± 1,95 (3.5 to 11) years;

Clinical manifestations were included: right lower quadrant pain in 30 cases (78.9%), abdominal tenderness in 38 cases (100%) In all cases, WBC above 11000/mm 3 Abdominal ultrasound noted omental unnormal in 15 cases (39.5%) All patients were underwent laparoscopic surgery The median hospital stay was 3, 4 days, and the patient recovered uneventfully

Conclusions: Primary segmental torsion of the greater omentum is a rare cause of acute abdominal pain

Pain is the most frequent symptom, and the condition resembles acute appendicitis It is often established during

laparoscopy operation and is treated by the removal of the affected omentum segment The result is good when

correct treatment is applied, even when delayed

Key words: Primary torsion of the greater omentum, acute abdominal pain

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xoắn một phần mạc nối lớn là một bệnh

hiếm gặp Xoắn hoại tử mạc nối lớn xảy ra khi

mạc nối lớn bị xoắn quanh trục của nó, dẫn đến

sự khiếm khuyết về tính thấm và tổn hại về mạch máu Điều đó có thể dẫn đến sự hủy hoại

* Bệnh viện Nhi Đồng 2

Trang 2

thay đổi từ phù nề đơn thuần đến thiếu máu và

hoại tử của mạc nối

Xoắn mạc nối lớn có biểu hiện lâm sàng

giống như viêm ruột thừa, viêm túi mật cấp, cơn

đau quặn thận, hoặc viêm túi thừa, tùy thuộc

vào vị trí của nó Eitel báo cáo trường hợp đầu

tiên của xoắn hoại tử mạc nối lớn năm

1899(2,7,14,16) Mặc dù được mô tả hơn 100 năm

trước đây, chẩn đoán xoắn hoại tử mạc nối lớn

vẫn còn là một thử thách

Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm nêu kinh nghiệm bước đầu trong

chẩn đoán và xử trí xoắn một phần mạc nối lớn

nguyên phát

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu hồi cứu tất cả những trường hợp

đau bụng cấp do xoắn một phần mạc nối lớn

được phẫu thuật tại khoa Ngoại Tổng Hợp bệnh

viện Nhi Đồng 2 từ 6/2012 đến 12/2013

Các dữ kiện thu thập bao gồm: tuổi, giới,

tình trạng dinh dưỡng, thời gian đau bụng, công

thức bạch cầu, siêu âm bụng, chẩn đoán trước

sau mổ, xử trí, tai biến biến chứng

Các số liệu được phân tích thống kê dựa vào

phần mềm SPSS 16

Phương pháp nghiên cứu

Hồi cứu mô tả hàng loạt ca

KẾT QUẢ

Có 21 nam và 17 nữ (1,2:1), trung bình tuổi:

6,5 tuổi, tỉ lệ béo phì 52,6%

Triệu chứng lâm sàng

Bảng 1 Thời gian đau bụng

Số bệnh nhân (n=38) Tỉ lệ %

Thời gian đau bụng trung bình là ngày, ngắn

nhất là 1 ngày, lâu nhất là 4 ngày Tất cả bệnh

nhân nhập viện vì đau bụng

Bảng 2 Vị trí đau

Vị trí đau Số bệnh nhân (n=38) Tỉ lệ %

Đa số bệnh nhi đau vùng bụng phải

Bảng 3 Đặc điểm lâm sàng

Số bệnh nhân (n=38) Tỉ lệ %

Tất cả bệnh nhi đều có đề kháng thành bụng tại thời điểm nhập viện

Bảng 4 Đặc điểm cận lâm sàng

Số bệnh nhân (n = 38)

Tỉ lệ %

Bạch cầu 11000 – 15000 30 78,9

Siêu âm bụng

Không bất thường 9 23,7 Mạc nối lớn viêm dày,

phù nề

Ghi nhận cấu trúc ruột thừa viêm

Tất cả bệnh nhi có công thức máu với bạch cầu trên 11.000/mm3 và chủ yếu đa nhân

Hơn một nửa số bệnh có bất thường khi siêu

âm bụng là mạc nối viêm dày, phù nề (39,5%)và

có dịch ổ bụng (13,2%)

Bảng 5 Chẩn đoán trước mổ

Số bệnh nhân (n=38) Tỉ lệ %

Tất cả các trường hợp đều được chẩn đoán là viêm ruột thừa trước khi được phẫu thuật

Bảng 6 Đặc điểm mạc nối lớn xoắn và điều trị

Số bệnh nhân (n = 38)

Tỉ lệ %

Dịch ổ bụng Dịch hồng 16 42,1

Không ghi nhận 5 13,2

Vị trí mạc nối lớn xoắn

Dưới gan phải 31 81,6

Phương pháp mổ

PTNS cắt mạc nối lớn 23 60,5 PTNS cắt mạc nối lớn

+ cắt ruột thừa 15 39,5

Trang 3

Tất cả các truờng hợp đều được phẫu thuật

cặt mạc nối lớn qua ngả nội soi và không có tai

biến khi mổ và biến chứng sau mổ

Kết quả giải phẫu bệnh 5 trường hợp, tất cả

là mạc nối lớn xuất huyết sau xoắn Thời gian

nằm viện sau mổ trung bình 3,4 ngày, ngắn nhất

là 2 ngày, lâu nhất là 5 ngày

BÀN LUẬN

Xoắn hoại tử mạc nối lớn là nguyên nhân

hiếm gặp của đau bụng cấp, thường xảy ra ở tuổi

trung niên và hiếm khi ảnh hưởng tới trẻ em

Trong một số báo cáo, lứa tuổi thường gặp ở trẻ

em từ 9-16 tuổi(4), lớn hơn tuổi trung bình của

bệnh nhi trong nghiên cứu của chúng tôi là 6,5

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ số mắc bệnh

nam: nữ là 1.2:1 tương tự báo cáo của nhiều tác

giả

Xoắn hoại tử mạc nối lớn có thể nguyên phát

hoặc thứ phát Xoắn mạc nối lớn thứ phát

thường gặp hơn nguyên phát(7,14) Yếu tố thuận

lợi của xoắn mạc nối thứ phát là: tiền căn phẫu

thuật trước đó, chấn thương, sự viêm dính, nang

hoặc khối u trong bụng, hoặc thoát vị(2,14) Trong

khi đó, sinh bệnh học của xoắn hoại tử mạc nối

lớn nguyên phát vẫn còn chưa được rõ ràng Tuy

nhiên, một số yếu tố có liên quan như: hình thái

bất thường của mạc nối như mạc nối phì đại với

cuống hẹp, mạc nối đôi; tĩnh mạch mạc nối giãn

trong khi động mạch bình thường; hoặc áp lực ổ

bụng tăng cao do vận động quá mức, thay đổi tư

thế đột ngột, ho và sau đó co thể dẫn đến thay

đổi vị trí mạc nối lớn(2,4,16) Trong nghiên cứu của

chúng tôi, bệnh nhân không có tiền căn phẫu

thuật trước đó, và ghi nhận tỉ lệ bệnh nhân béo

phì 52,6%, có thể là 1 yếu tố thuận lợi của xoắn

mạc nối lớn nguyên phát

Về lâm sàng, đau bụng là triệu chứng nổi

bật, và vị trí đau phụ thuộc vào vị trí mạc nối

xoắn Trong hầu hết các báo cáo, vị trí đau

thường nằm ở hố chậu phải, và thường đau âm ỉ,

liên tục Bệnh nhân có thể kèm theo chán ăn,

buồn nôn, nôn nhưng ít gặp(15,7) Thăm khám lâm

sàng bệnh nhân có ấn đau, đề kháng bụng phải,

có thể sờ được một khối(14) kèm sốt và tăng nhẹ bạch cầu máu(15,7) Triệu chứng lâm sàng thường không rầm rộ

Xoắn hoại tử mạc nối lớn thường có biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân nhập viện từ 2-4 ngày sau khi đau bụng (68,5%), vị trí đau hầu như khu trú hố chậu phải (78,9%) tương tự nhiều báo cáo khác Triệu chứng đi kèm sốt (23,7%), ói (18,4%), bạch cầu tăng nhẹ

Cũng như nhiều báo cáo khác(5,8,10,17), tất cả bệnh nhân điều được mổ với chẩn đoán viêm ruột thừa (100%), phương pháp mổ nội soi ổ bụng Tại thời diểm phẫu thuật, ruột thừa trên đại thể bình thường, ghi nhận dịch ổ bụng (86,8%), và mạc nối lớn xoắn hoại tử được thấy

rõ trong mổ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân thường được chỉ định siêu âm bụng Kết quả siêu âm bụng cũng không đặc hiệu, ghi nhận dịch ổ bụng (13,2%) và mạc nối viêm dày, phù

nề vùng bụng phải (39,5%) Tuy nhiên, trong nhiều báo cáo, nêu lên vai trò của siêu âm bụng

và CT-Scanner bụng trong chẩn đoán bệnh xoắn mạc nối lớn, từ đó có hướng điều trị thích hợp cho bệnh nhân

Trên siêu âm có hình ảnh khối hình ovan và thường dính vào thành bụng trước(4) Trong nghiên cứu của chúng tôi có ghi nhận bất thường mạc nối viêm dày, phù nề (39,5%) Tuy nhiên, vấn đề phẫu thuật vẫn được đặt ra do chúng tôi vẫn dựa trên thăm khám lâm sàng và vẫn không loại trừ khả năng viêm ruột thừa CT- scan bụng được nhiều tác giả đưa ra nhiều hơn trong việc giúp chẩn đoán bệnh(1,2,12,13,14) CT thì nhạy trong chẩn đoán nhiều trường hợp bụng cấp, bao gồm cả xoắn mạc nối lớn Trên CT, dấu (vascular pedicle sign) và dấu

“xoáy nước” (whirl) là hai dấu hiệu nhạy nhất cho chẩn đoán Dấu hiệu “cuống mạch” (vascular pedicle sign) gồm một điểm tăng âm ở trung tâm mạch máu mạch treo được bao quanh bởi nhiều nhánh mach máu mac treo nhỏ xoắn

Trang 4

vào nhau Dấu “xoáy nước” tương ứng với hình

ảnh một khối mỡ mơ hồ đồng tâm tuyến tính và

sự xoắn các mạch máu trong mạc nối lớn, xoáy

xung quanh dây mạch máu trung tâm Mạc nối

lớn xoắn thường nằm ở phía trước của phần

bụng giữa hoặc dưới(4) Tuy nhiên, dấu hiệu xoáy

nước trên CT cũng có thể được tìm thấy trên các

trường hợp khác bao gồm u mỡ (lipoma),

liposarcoma, viêm bờm mỡ (epiploic

appendagitis), và loạn dưỡng mỡ mạc treo

(mesenteric lipodystrophy)(14) Và mặc dù CT có

sự mô tả tốt giúp ích trong chẩn đoán, điều quan

trọng nhất vẫn là việc kết hợp nó vào chẩn đoán

lâm sàng giúp ích trong chẩn đoán bệnh

Một dấu hiệu quan trọng khác là việc ghi

nhận có huyết thanh (serosanguinous) và ruột

thừa bình thường khi phẫu thuật, trong trường

hợp như vậy chúng ta thường phải thám sát toàn

bộ ổ bụng Chúng tôi chỉ ghi nhận 33 (86,8%)

dịch trong ổ bụng trong khi phẫu thuật

Trong điều trị, có hai chiến lược điều trị

xoắn mạc nối lớn: điều trị bảo tồn nội khoa và

can thiệp phẫu thuật bằng nội soi ổ bụng

Điều trị nội chỉ bao gồm việc dùng thuốc giảm

đau có kèm kháng sinh hoặc không, và việc

này không có nguy cơ biến chứng(1,11,12) Nhiều

tác giả ủng hộ việc đó là phương thức tiếp cận

ban đầu cho tất cả bệnh nhân, nội soi ổ bụng

vẫn được chọn lựa cho những trường hợp

triệu chứng vẫn không thuyên giảm hoặc xấu

hơn(6,14) Ngược lại, nhiều tác giả ủng hộ can

thiệp bằng phẫu thuật nôi soi ổ bụng là

phương thức tiếp cận chính cho xoắn mạc nối

lớn cả trong chẩn đoán và điều trị(3,5,15,17,16)

Thêm đó, CT (có vai trò quan trọng trong chẩn

đoán bệnh) cũng không thể được thực hiện

thường quy trong tất cả trường hợp đau bụng

cấp, do đó “điều trị bảo tồn” không dùng

thuốc không phải lúc nào cũng tiếp cận được

Khi có chỉ định phẫu thuật thì nội soi ổ bụng

được ủng hộ vì có thể thuận lợi thám sát toàn bộ

ổ bụng, giúp ích nhiều trong việc chẩn đoán xác

định và điều trị Nó có ưu điểm ít biến chứng,

rút ngắn thời gian hồi phục của bệnh nhân và

thẩm mĩ cao Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất

cả bệnh nhân điều được phẫu thuật bằng nội soi Trong trường hợp chẩn đoán được xác định khi nội soi: một số tác giả chủ trương cắt phần mạc nối xoắn(2,9,10,14,16), số khác thực hiện cả hai phẫu thuật: cắt mạc nối xoắn và cắt ruột thừa(15,7,8,17) Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết bệnh nhân đươc thực hiện cả hai phẫu thuật, tùy thuộc đánh giá trong mổ của phẫu thuật viên Tất cả đều ghi nhận mạc nối xoắn đơn thuần kèm theo ruột thừa sung huyết hoặc không, không phát hiện bất thường khác đi kèm Hầu như bệnh nhân hồi phục hoàn toàn sau mổ

và không có biến chứng

Cho đến nay vẫn chưa có phác đồ chuẩn trong điều trị xoắn mạc nối lớn, vì vậy hầu hết các trường hợp điều được điều trị phẫu thuật Chúng tôi ủng hộ việc tiếp cận bằng nội soi ổ bụng trong hầu hết các trường hợp đau bụng cấp

KẾT LUẬN

Xoắn hoại tử mạc nối lớn là nguyên nhân hiếm gặp của đau bụng cấp, và thường chẩn đoán lầm với viêm ruột thừa Sinh bệnh học của xoắn mạc nối lớn nguyên phát vẫn chưa được xác định Ở trẻ em, xoắn mạc nối lớn là nguyên phát, cơ địa bệnh nhân béo phì là yếu

tố thuận lợi

Triệu chứng thường không đặc hiệu với đau bụng là lý do thường gặp nhất đưa bệnh nhân đến khám bệnh Chẩn đoán trước mổ khó khăn và thường chỉ được xác định trong khi phẫu thuật

Nội soi ổ bụng vẫn được chọn là phương pháp đầu tiên cho chẩn đoán và điều trị xoắn mạc nối lớn và viêm ruột thừa Phương pháp

là cắt bỏ phần mạc nối xoắn hoại tử Bệnh nhân thường hồi phục hoàn toàn với tỉ lệ biến chứng thấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abadir JS, Cohen AJ, Wilson SE (2004), Accurate diagnosis of infarction of omentum and appendices epiploicae by computed

tomography Am Surg, 70(10): pp 854-7

2 Ceribelli C, Manto O, Chiaretti M, Negro P, Tuscano D, (2011) Primary omental torsion (POT): a review of literature and case

Trang 5

report World J Emerg Surg, 6: pp 6

3 Chan KW, Chow CS, Tam YH, Lee KH (2007) Laparoscopy: an

excellent tool in the management of primary omental torsion in

children J Laparoendosc Adv Surg Tech A, 17(6): pp 821-4

4 Chen CD, Chen XM, Wu SC (2012), A Child with the Rare

Diagnosis of Acute Appendicitis and Omental Torsion HK J

Paediatr, 17: pp 254-257

5 Costi R, Cecchini S., Randone B, Violi V, Roncoroni L, Sarli L

(2008), Laparoscopic diagnosis and treatment of primary torsion

of the greater omentum Surg Laparosc Endosc Percutan Tech,

18(1): pp 102-5

6 Itenberg E, Mariadason J, Khersonsky J, Wallack M, (2010)

Modern management of omental torsion and omental infarction:

a surgeon's perspective J Surg Educ, 67(1): pp 44-7

7 Jeganathan R, Epanomeritakis E, Diamond T (2002), Primary

torsion of the omentum The Ulster Medical Journal, 71(1): pp

76-77

8 Kurguzov OP (2005) On omentum torsion Khirurgiia (Mosk),

(7): pp 46-9

9 López-Colombo A, Montiel-Jarquín A, García-Carrasco M, Nava

A, Arcega-Domínguez A, Martínez-Fernández R,

Suárez-Cuayahuitl I (2010)., Torsion of the omentum A rare cause of

acute abdomen Rev Med Inst Mex Seguro Soc, 48(5): pp 549-52

10 Mallick MS, Al-Bassam AA (2006), Primary omental torsion in

children The pre-disposing factors and role of laparoscopy in

diagnosis and treatment Saudi Med J 27(2): pp 194-7

11 Miguel Perelló J1, Aguayo Albasini JL, Soria Aledo V, Aguilar

Jiménez J, Flores Pastor B, Candel Arenas MF, Girela Baena E

(2002), Omental torsion: imaging techniques can prevent

unnecessary surgical interventions Gastroenterol Hepatol, 25(8):

pp 493-6

12 Modaghegh MH, Jafarzadeh R (2011), Primary omental torsion

in an old woman: imaging techniques can prevent unnecessary

surgical interventions Case Rep Med, 541324

13 Moore PJ., Nash GF (2007)., A simple case of appendicitis? An

increasingly recognised pitfall The Royal College of Surgeons of

England 89, pp.228-229

14 Peirce C, Martin ST, Hyland JM (2011), The use of minimally invasive surgery in the management of idiopathic omental

torsion Int J Surg Case Rep, 2(6): pp 125–127

15 Reyhan E, Çetinkünar S, Irkörücü O (2012), A Rare Cause of Lower Right Quadrant Pain in Adults: Torsion-Related Omental

Infarct European Journal of Surgical Sciences, 3(3): pp 208-210

16 Tsail YM, Yul JC, Chan DC, and Chen CJ (2011), Omental Torsion Mimicking Acute Appendicitis: A Diagnostic Pitfall of

Acute Abdomen J Med Sci 31(3): pp 129-131

17 Vázquez BJ, Thomas R, Pfluke J, Doski J, Cofer B, Robertson F, Kidd J (2010), Clinical presentation and treatment considerations

in children with acute omental torsion: a retrospective review

Am Surg, 76(4): pp 385-8

Ngày đăng: 15/01/2020, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w