Sa trực tràng kiểu túi là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng tống phân tắc nghẽn. Sa trực tràng kiểu túi là bệnh lý lành tính xảy ra hầu như ở phụ nữ đặc biệt là phụ nữ sanh đẻ nhiều qua ngả âm đạo.
Trang 1KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA PHẪU THUẬT STARR VÀ PHỤC HỒI BẢN NÂNG TRONG ĐIỀU TRỊ SA TRỰC TRÀNG KIỂU TÚI
Nguyễn Trung Tín*, Trần Đình Cường**, Dương Phước Hưng*, Nguyễn Văn Hậu*, Lê Châu Hoàng Quốc Chương*,
Võ Thị Mỹ Ngọc*, Nguyễn Hoàng Duy*, Nguyễn Thị Thùy Anh*, Phạm Thúy Trinh***
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Sa trực tràng kiểu túi là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng tống phân tắc nghẽn Sa trực tràng kiểu túi là bệnh lý lành tính xảy ra hầu như ở phụ nữ đặc biệt là phụ nữ sanh đẻ nhiều qua ngả âm đạo
Mục tiêu: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Kết quả bước đầu của phẫu thuật STARR và phục hồi bản nâng trong điều trị sa trực tràng kiểu túi” với các mục tiêu xác định hiệu quả bước đầu và tính an toàn của phẫu thuật STARR
Kết quả: Trong khoảng thời gian từ tháng 8-2011 đến tháng 12-2012, tại bệnh viện Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh có 35 bệnh nhân nữ đã được điều trị bệnh lý sa trực tràng kiểu túi bằng phẫu thuật STARR có hoặc không có kèm theo khâu bản nâng (KBN) để điều trị sa sàn chậu phối hợp Tuổi trung bình của bệnh nhân là 44,4 ± 12,0 (26 đến 76) Thời gian bị táo bón trước điều trị trung bình là 6,4 ± 6,3 năm Tỷ lệ hết đại tiện khó 77,1% Tỷ lệ đau nhiều ngày đầu sau mổ là và bí tiểu sau mổ là 14,3%
Kết luận: Phẫu thuật STARR trong điều trị sa trực tràng kiểu túi có hay không có khâu phục hồi bản nâng là một phẫu thuật tương đối hiệu quả và an toàn
Từ khóa: Táo bón – Sa trực tràng kiểu túi – Hội chứng tắc nghẽn đường ra – Phẫu thuật STARR
ABSTRACTS
PRIMARY RESULTS OF STARR PROCEDURE AND LEVATORPLASTY FOR TREATMENT OF
RECTOCELE
Nguyen Trung Tin, Tran Dinh Cuong, Duong Phuoc Hung, Le Chau Hoang Quoc Chuong,
Vo Thi My Ngoc, Nguyen Hoang Duy, Nguyen Thi Thuy Anh, Pham Thuy Trinh
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 – supplement of No 1 – 2016: 203 - 208
Backgrounds: Rectocele is the most common cause of obstructed defecation syndrome Almost patients are female especially multiparty
Objective: To determine the primary results and the safety of STARR and levatoplasty for treatment of rectocele
Methodology: The clinical interventional study with self-control group was designed for this series Results: 35 female patients were performed the stapled transanal rectal resection for treatment of constipation due to rectocele with or without levatoplasty from August 2011 to December 2012 The mean age of patients was 44.4 ± 12.0 year-old and duration of constipation was 6.4 ± 6.3 years The success rate of
* Bộ môn Ngoại, khoa Y, Đại học Y Dược TP HCM
** Bệnh viện Đa khoa Khu vực Bình Long Bình Phước
*** Khoa Ngoại 1, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM
Tác giả liên lạc: PGS TS BS Nguyễn Trung Tín ĐT: 0934666697 Email: bsnguyentrungtin@gmail.com
Trang 2procedure was 77.1% The severe acute proctalgia of first post-operative day was 20% and urinary retention was 14.3% of patients
Conclusion: The stapled transanal rectal resection with or without levatoplasty was the relatively effective and safety procedure
Key words: Constipation – Rectocele – Obstructed Defecation Syndrome – STARR procedure
ĐẶT VẤN ĐỀ
Táo bón là triệu chứng thường gặp trong dân
số nói chung và trong thực hành y khoa, táo bón
chiếm 2-34% trong dân số(7) Táo bón gặp ở nữ
nhiều hơn nam giới từ 2,2 đến 3 lần và hầu hết
các nghiên cứu cho thấy triệu chứng gia tăng sau
65 tuổi(4,11) Trong khảo sát ở 10.018 người của
Stewart và cộng sự(12) táo bón chiếm 14,7% trong
đó 4,6% là táo bón chức năng, 2,1% hội chứng
ruột kích thích, 4,6% hội chứng tống phân tắc
nghẽn và 3,4% là kết hợp giữa hội chứng tống
phân tắc nghẽn và hội chứng ruột kích thích Sa
trực tràng kiểu túi là một trong những nguyên
nhân gây ra hội chứng tống phân tắc nghẽn Sa
trực tràng kiểu túi là bệnh lý lành tính xảy ra hầu
như ở phụ nữ đặc biệt là phụ nữ sanh đẻ nhiều
qua ngả âm đạo(8,2)
Năm 2004, Bác sĩ Antonio Longo công bố
phương pháp phẫu thuật STARR (Stapled
Transanal Rectal Resection) trong điều trị hội
chứng tống phân tắc nghẽn do bệnh lý sa trực
tràng kiểu túi và lồng trực tràng hậu môn(5)
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Kết quả bước
đầu của phẫu thuật STARR và phục hồi bản
nâng trong điều trị sa trực tràng kiểu túi” tại
bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí
Minh với các mục tiêu xác định hiệu quả bước
đầu và tính an toàn của phẫu thuật STARR
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tất cả bệnh nhân nữ trên 18 tuổi điều trị sa
trực tràng kiểu túi bằng phẫu thuật STARR,
được chọn vào nhóm nghiên cứu với các tiêu
chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ
dưới đây:
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Chẩn đoán lâm sàng phát hiện túi sa trực
tràng có triệu chứng (táo bón, đại tiện cảm
giác không hết phân, cảm giác bị tắc nghẽn ở vùng hậu môn trực tràng, khi đại tiện bệnh nhân thường dùng tay nâng đáy chậu hoặc ấn vào thành sau âm đạo để đại tiện dễ hơn và hết phân, ngoài ra còn có các triệu chứng khác như cảm giác căng ở trực tràng, đau lưng, giao hợp đau)
Chẩn đoán có sa trực tràng kiểu túi có kích thước túi sa độ II, độ III theo Yang và cộng sự(14,9)
trên hình ảnh chụp X quang trực tràng hoạt động hoặc chụp cộng hưởng từ động trực tràng
Tiêu chuẩn loại trừ
Túi sa trực tràng thấp,
Sa trực tràng toàn thành,
Sa ruột non trong thì nghỉ, Nhiễm trùng đáy chậu,
Rò trực tràng âm đạo,
Rò hậu môn,
Áp xe quanh hậu môn, Són hơi hoặc són phân, Hẹp hậu môn không đưa được dụng cụ nong hậu môn có đường kính 33 mm,
Bệnh nhân đã được phẫu thuật đặt mảnh ghép trực tràng,
Bệnh nhân mắc bệnh ung thư hoăc có u vùng chậu,
Bệnh nhân thiếu máu Hct < 25%, Bệnh nhân có rối loạn đông máu
Phương pháp tiến hành Gây tê tủy sống hoặc gây mê toàn thân Nằm ngửa tư thế phụ khoa
Kỹ thuật mổ STARR Bước 1: Bộc lộ túi sa trực tràng
Bước 2: Cắt túi sa thành trước trực tràng bằng máy khâu bấm
Trang 3Bước 3: Cắt túi sa thành sau trực tràng bằng
máy khâu bấm
Bước 4: Kết thúc phẫu thuật và khâu tăng
cường toàn bộ đường khâu bấm bằng các mũi
chữ U vicryl 00
Kỹ thuật mổ khâu bản nâng
Chỉ định khi có sa sàn chậu độ II, III kèm
theo (theo phân độ Barbaric)
Thì 1: rạch da theo rãnh giữa hai mông,
đường mổ dài 4 cm bắt đầu sau rìa hậu môn 1
cm cho đến xương cụt, không cắt cơ thắt
Thì 2: bộc lộ và cắt ngang dây chằng hậu
môn cụt
Thì 3: bộc lộ cơ nâng hậu môn, cơ nâng có
thể còn nguyên và sa nhão hay toác rộng, tránh
làm tổn thương trực tràng
Thì 4: khâu bản nâng bằng chỉ Vicryl 0, từ
trên mỏm xương cụt 1 cm cho đến cơ thắt hậu
môn, kiểm soát bằng đầu ngón tay đặt trong ống
hậu môn trực tràng
Thì 5: khâu vết mổ từng lớp, khâu dây chằng
hậu môn cụt, mở dưới da và da
Chăm sóc và theo dõi sau mổ
Theo dõi các biến chứng sớm gồm: chảy
máu, bí tiểu, đau, nhiễm trùng vết mổ 7 ngày
đầu sau mổ
Kháng sinh điều trị đường tĩnh mạch
Cefotaxim 1 gram x 2 lần / ngày, Metronidazol
0,5 gram x 2 lần / ngày trong 2 ngày
Nhịn ăn đường miệng 2 ngày đầu sau mổ
(nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch), ngày thứ 3 sau
mổ bệnh nhân được xuất viện, ăn trở lại thức ăn
lỏng và đặc dần ở những ngày sau đó
Theo dõi sau xuất viện: Vào tháng thứ 1,
tháng thứ 3 sau mổ khi bệnh nhân đến tái khám,
nếu bệnh nhân không đến tái khám thì thăm hỏi
qua điện thoại hoặc thư
KẾT QUẢ
Trong khoảng thời gian từ tháng 8-2011 đến
tháng 12-2012, tại bệnh viện Đại Học Y Dược
Thành Phố Hồ Chí Minh có 35 bệnh nhân nữ đã
được điều trị bệnh lý sa trực tràng kiểu túi bằng phẫu thuật STARR có hoặc không có kèm theo khâu bản nâng (KBN) để điều trị sa sàn chậu phối hợp Chỉ có 80% (28/35) bệnh nhân đồng ý chụp cộng hưởng từ trực tràng hoạt động sau
mổ khi chúng tôi mời tái khám để đánh giá kết quả, 14,3% (5/35) bệnh nhân trả lời phỏng vấn qua điện thoại, 5,7% (2/35) bệnh nhân không liên lạc được
Đặc điểm bệnh nhân Tuổi trung bình của bệnh nhân là 44,4 + 12,0 (26 đến 76) Thời gian bị táo bón trước điều trị trung bình là 6,4 ± 6,3 năm, thấp nhất
là 1 năm và cao nhất là 35 năm Số lần sanh trung bình là 2,6 ± 1,7, thấp nhất là chưa sanh lần nào chiếm 11,4% (4/35) Đa số bệnh nhân đều sanh thường là 74,3% (26/35), sanh mổ chiếm tỉ lệ thấp là 2,9% (1/35)
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước
mổ
Triệu chứng trước mổ
Trước mổ tất cả bệnh nhân đều có triệu chứng đại tiện khó, ít hơn là các triệu chứng căng hậu môn trực tràng chiếm 54,3% (19/35)
và giao hợp đau là 37,1% (13/35), triệu chứng đau lưng và khối phồng ở âm đạo ít gặp, mỗi triệu chứng chỉ chiếm 17,1% (6/35)
Chẩn đoán sa trực tràng kiểu túi theo Yang trước mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng
từ trực tràng hoạt động
Kích thước túi sa trực tràng trước mổ
Trung bình là 3,2 ± 0,5 cm, nhỏ nhất là 2,2
và lớn nhất là 4,7 cm (n = 35) Cổ túi sa trước
mổ trung bình là 3,1 ± 0,6 cm (n = 12), dao động từ 2,2 đến 4,1 cm
Chẩn đoán sa tạng chậu kèm theo trước
mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ trực tràng hoạt động
Trang 4Bảng 1 Phân bố bệnh nhân theo chẩn đoán sa tạng chậu
trước mổ
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng sau
mổ
Điểm và triệu chứng theo thang điểm 5 tiêu
chí sau mổ
Bảng 2 Điểm triệu chứng theo thang điểm 5 tiêu chí
trước và sau mổ
bình trước mổ
Điểm trung
Đại tiện không hết
phân
Dùng thuốc nhuận
trường / thụt tháo
Dùng tay ấn âm đạo /
đáy chậu
Chẩn đoán sa trực tràng kiểu túi theo Yang
sau mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ
trực tràng hoạt động
Sau mổ túi sa trực tràng có kích thước trung
bình là 1,3 ± 1,0 cm (28 bệnh nhân), lớn nhất là
2,9 cm Cổ túi sa trực tràng sau mổ trung bình là
1,2 ± 1,6 cm (17 bệnh nhân), cổ túi sa trực tràng
lớn nhất là 4,7 cm
Chẩn đoán sa sàn chậu vá lồng trực tràng
kèm theo sau mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng
hưởng từ trực tràng hoạt động
Sa sàn chậu chậu sau mổ còn 57,1% (16/28),
lồng trực tràng hậu môn (0%) Trong nhóm
STARR: sa sàn chậu là 58,8% (10/17) Trong
nhóm STARR + khâu bản nâng: sa sàn chậu là
54,5% (6/11)
Bảng 3 Phân bố bệnh nhân theo chẩn đoán sa tạng chậu
sau mổ
Sa tạng chậu kèm theo sau mổ (n=28) Tần suất %
Cải thiện sau mổ so với trước mổ chung là:
sa sàn chậu giảm 33,3% (p = 0,35), lồng trực tràng hậu môn giảm 100% (p = 0,00)
Cải thiện sau mổ so với trước mổ trong nhóm STARR là: sa sàn chậu giảm 32,1% (p = 0,85), lồng trực tràng hậu môn giảm 100% (p = 0,03)
Trong nhóm STARR + khâu bản nâng sa tạng chậu sau mổ cải thiện so với trước mổ là:
sa sàn chậu giảm 45,5% (p = 0,2), lồng trực tràng hậu môn giảm 100,0% (0,03)
Kết quả phẫu thuật
Thời gian thực hiện phẫu thuật
Thời gian phẫu thuật trung bình chung là 61,5 ± 16,3 (40 đến 95) phút Thời gian trung bình phẫu thuật STARR là 53,3 ± 1,2 (40 đến 80) phút
và STARR + khâu bản nâng là 73,9 ± 1,3 (55 đến 95) phút (P=0,000)
Đau và biến chứng sau mổ
Đau
Chung cho cả 2 nhóm phẫu thuật, đau ngày
1 cao nhất là đau vừa 48,6% (17/35), từ ngày 2 đến ngày 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 68,6% (24/35) đến 78,1% (25/32)
Trong nhóm phẫu thuật STARR, đau ngày 1 cao nhất là đau vừa chiếm 47,6% (10/21), từ ngày
2 đến ngày 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 71,4% (15/21) đến 84,2% (16/19) Trong nhóm phẫu thuật STARR + khâu bản nâng, đau ngày 1 cao nhất là đau vừa chiếm 50,0% (7/14), từ ngày 2 đến ngày 3 đa số bệnh nhân đau ít từ 64,3% (9/14) đến 69,2% (9/13)
Tỉ lệ các biến chứng
Bí tiểu sau mổ chung là 14,3% (5/35), trong nhóm STARR là 9,5% (2/21) và trong nhóm STARR + khâu bản nâng là 21,4% (3/14) Không có biến chứng chảy máu sau mổ, nhiễm trùng vết mổ, hẹp hậu môn trực tràng
và rò âm đạo trực tràng
Trang 5BÀN LUẬN
Kết quả phẫu thuật
Cải thiện triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng đại tiện khó và căng hậu môn
trực tràng giảm có ý nghĩa thống kê, đây là 2
triệu chứng ảnh hưởng nhiều đến công việc
của bệnh nhân và cũng là triệu chứng bệnh
nhân thường than phiền khi đến khám bệnh
Các triệu chứng còn lại tuy giảm nhiều nhưng
không có ý nghĩa thống kê, triệu chứng đau
lưng giảm ít vì sau mổ bệnh nhân đau lưng
còn do đau tại vị trí chọc kim gây tê tủy sống
lúc mổ Mặc dù có số p > 0,05 nhưng triệu
chứng khối phồng ở âm đạo và giao hợp đau
giảm rất nhiều so với trước mổ cũng gợi ý cho
chúng ta nên quan tâm đến triệu chứng này
khi bệnh nhân tái khám
Điểm và các triệu chứng theo thang điểm 5
tiêu chí
Điểm 5 tiêu chí sau mổ trung bình là 3,8 ±
3,9 (0 đến 12), giảm trung bình 6,5 ± 4,7 Điểm
các triệu chứng sau mổ trong nghiên cứu này
gồm rặn nhiều, đại tiện không hết phân, dùng
tay ấn âm đạo / đáy chậu đều cao hơn so với
trong nghiên cứu của Hasan H.M (2012)(3)
Bảng 4 Điểm trung bình sau mổ các triệu chứng theo
thang điểm 5 tiêu chí
bình
Hasan H.M (2012)
12 tháng
Dùng thuốc nhuận trường
/ thụt tháo
Dùng tay ấn âm đạo / đáy
chậu
Nhóm có điểm < 7 (khỏi bệnh) là 78,8%
(26/33) tăng 69,7%, nhóm từ 7 đến 9 điểm
(giảm bệnh) chiếm 6,1% (2/33) giảm 27,2%,
nhóm > 9 điểm chiếm 15,1% (5/33) giảm 42,5%
Bảng 5 Tỉ lệ cải thiện triệu chứng sau mổ theo thang điểm 5 tiêu chí
P < 0,05
Phẫu thuật STARR là phương pháp điều trị mới nhiều triển vọng trong điều trị hội chứng tống phân tắc nghẽn (obstructed defecation syndrome-ODS) Nghiên cứu Van Geluwe B và
cs (2014) nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của phẫu thuật STARR trong điều trị ODS(13) Có 26 báo cáo được trình bày với thời gian theo dõi trung vị 12 tháng (3-42 tháng) Tổng cộng dữ liệu 1.298 bệnh nhân được bao gồm trong nghiên cứu
và phân tích Có 6 hệ thống tính điểm khác nhau được sử dụng và 43 lượng giá hiệu quả của STARR được phân tích Tất cả nghiên cứu đều cho thấy cải thiện đáng kể trong ODS với mức hiệu quả được chuẩn hóa kết hợp là 3,8 (3,2-4,5,
độ tin cậy 95%)(13) Leardi S và cs(6) cho rằng phẫu thuật STARR cũng được đề nghị là phương pháp phẫu thuật để điều trị lồng trực tràng và sa trực tràng kiểu túi
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả bệnh nhân có lồng trực tràng đều được điều trị khỏi với phẫu thuật STARR
Chẩn đoán theo Yang sau mổ dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ trực tràng hoạt động Trong nghiên cứu của Renzi A và cộng sự (2005)(10), kích thước túi sa trực tràng sau mổ là 1,5 ± 0,7 cm
So với tác giả trên, trong nghiên cứu này có kích thước túi sa trực tràng sau mổ nhỏ hơn không đáng kể
Phân độ chẩn đoán theo Yang(14,9) sau mổ trong nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ khỏi bệnh (không có túi sa trực tràng) là 35,7% (10/28) (p = 0,00), giảm bệnh (Yang độ I) là 39,3% (11/28) (p = 0,00)
Trang 6Theo Boccasanta P (2004)(1) khỏi bệnh trong
nhóm phẫu thuật STARR và STARR + khâu bản
nâng là 44% và 36%, giảm bệnh là 44% và 40%
So với nghiên cứu của Boccasanta P (2004)(1),
nghiên cứu này có tỉ lệ khỏi bệnh và giảm bệnh
thấp hơn không nhiều
Đau và các biến chứng sau mổ
Trong nghiên cứu này chỉ có 2 loại biến
chứng sau mổ là đau và bí tiểu, các biến chứng
chảy máu sau mổ, nhiễm trùng vết mổ, rò âm
đạo trực tràng, hẹp hậu môn trực tràng không
xảy ra
Đau sau mổ có trong toàn bộ bệnh nhân, bí
tiểu sau mổ chung là 14,3% (5/35), trong nhóm
STARR là 9,5% (2/21) và trong nhóm STARR +
khâu bản nâng là 21,4% (3/14)
Theo Boccasanta P (2004)(1), biến chứng sớm
sau mổ trong nhóm STARR và nhóm STARR
khâu bản nâng lần lượt là bí tiểu (8%, 8%), chảy
máu (4%, 0%), chậm lành vết thương đáy chậu
(0%, 40%) Biến chứng muộn trong 2 nhóm gồm
hẹp hậu môn trực tràng (4%, 4%)
Bí tiểu sau mổ chung là 14,3% (5/35), trong
nhóm STARR là 9,5% (2/21) và trong nhóm
STARR + khâu bản nâng là 21,4% (3/14) Không
có biến chứng chảy máu sau mổ, nhiễm trùng
vết mổ, hẹp hậu môn trực tràng và rò âm đạo
trực tràng
Trong nghiên cứu của Boccasanta P (2004)(1),
biến chứng bí tiểu theo dõi 7 ngày sau mổ trong
mỗi nhóm STARR và STARR + khâu bản nâng
đều có 8% bệnh nhân có biến chứng này Theo
Hasan H.M, Hasan H.M (2012)(3) biến chứng bí
tiểu sau mổ trong 7 ngày đầu là 5%
KẾT LUẬN
Phẫu thuật STARR trong điều trị sa trực
tràng kiểu 2 túi là một phẫu thuật tương đối an
toàn giúp làm hết đại tiện khó 77,1% Tỷ lệ đau
nhiều ngày đầu sau mổ là 20% và bí tiểu sau mổ
là 14,3
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Boccasanta P., Venturi M., Salamina G., et al (2004) New trends in the surgical treatment of outlet obstruction: clinical and functional results of two novel transanal stapled techniques from a randomised controlled trial Int J Colorectal Dis, Jul, 19(4), pp 359-369
2 Harford F.J, Brubaker L (2007) Pelvic Floor Disorders The ASCRS Textbook of Colon and Rectal Surgery,
687-692 Springer
3 Hasan H.M, Hasan H.M (2012) Stapled transanal rectal resection for the surgical treatment of obstructed defecation syndrome associated with rectocele and rectal intussusception ISRN Surgery Volume 2012, Article ID
652345, 6 pages, doi:10.5402/2012/652345
4 Higgins P.D, Johanson J.F (2004) Epidemiology of constipation in North America: a systematic review Am J Gastroenterol., 99(4): 750-759
5 Kiran RP, Remzi HF (2008) How stapled resection can treat rectal prolapse The STARR procedure is gaining favor for the treatment of internal prolapse and rectocele, june, 64(6)
6 Leardi S, De Santis G, Lancione L, Sista F, Schietroma M, Pietroletti R (2014) Quality of life after treatment of rectal intussusception or rectocele by means of STARR Ann Ital Chir 85(4): 347-51
7 Marcio J, Jorge N (2006) Initial Evaluation of Constipation Constipation Etiology, Evaluation and Management, 2 Edition, pp 35-48 Springer-Verlag, London
8 Nguyễn Đình Hối, Dương Phước Hưng, Nguyễn Văn Hậu và cộng sự (2005) Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị chứng táo bón do sa trực tràng kiểu túi Y học TP Hồ Chí Minh, tập 9, (1): 10-16
9 Nguyễn Trung Vinh (2011) Phẫu thuật đặt mảnh ghép qua ngả âm đạo trong điều trị sa tạng chậu nữ Hội nghị khoa học sàn chậu học Thành Phố Hồ Chí Minh, lần 5, tr 23-30
10 Renzi A, Izzo D, Di Sarno G, et al (2005) Stapled transanal rectal resection to treat obstructed defecation caused by rectal intussusception and rectocele Int J Coloretal Dis, 21(7): 661-667
11 Sonnenberg A., Koch T.R (1989) Epidemiology of constipation
in the United States Dis Colon Rectum, 32: 1-8
12 Stewart W.F, Liberman, Sandler R.S, et al (1999) Epidemiology of constipation (EPOC) Study in the United States: relation of clinical subtypes to socioeconomic features Am J Gastroenterol, 94: 3530-3539
13 Van Geluwe B, Stuto A, Da Pozzo F, et al (2014) Relief of obstructed defecation syndrome after stapled transanal rectal resection (STARR): a meta-analysis Acta Chir Belg, 114(3): 189-97
14 Võ Tấn Đức, Nguyễn Thị Thùy Linh (2011) Chụp cộng hưởng từ vùng sàn chậu hay chụp cộng hưởng từ học tống phân Hội nghị khoa học sàn chậu học Thành Phố Hồ Chí Minh, lần 5, tr 1-12
Ngày nhận bài báo: 20/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2015