1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự khác nhau về biểu hiện lâm sàng giữa nam và nữ trong bệnh cơ tim phì đại

7 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 337,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ảnh hưởng của giới tính lên biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại (BCTPĐ) chưa được hiểu biết rõ ràng. Bài viết tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự khác nhau về biểu hiện lâm sàng giữa nam và nữ trong BCTPĐ.

Trang 1

SỰ KHÁC NHAU VỀ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG GIỮA NAM VÀ NỮ

TRONG BỆNH CƠ TIM PHÌ ĐẠI

Trần Vũ Minh Thư*, Phạm Nguyễn Vinh* , ** , ***

TÓM TẮT

Mục tiêu: Sự ảnh hưởng của giới tính lên biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại (BCTPĐ)

chưa được hiểu biết rõ ràng Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự khác nhau về biểu hiện lâm sàng giữa nam và nữ trong BCTPĐ

Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả và phân tích

Phương pháp và kết quả: 104 bệnh nhân BCTPĐ từ Bệnh viện tim Tâm Đức và Viện Tim Thành phố Hố

Chí Minh (Tp HCM), thời gian từ tháng 12/2015 đến 11/2017, được đưa vào nghiên cứu Nam chiếm ưu thế với 66 bệnh nhân (63,5%) Bệnh nhân nữ được chẩn đoán trễ hơn và có triệu chứng lâm sàng nhiều hơn bệnh nhân nam (53 ± 17,3 năm so với 45,9 ± 14,2 năm; p = 0,03); đau ngực khi gắng sức (40,1% so với 65,8%; p = 0,02) Các yếu tố nguy cơ đột tử chiếm tỷ lệ cao hơn ở bệnh nhân nữ so với bệnh nhân nam bao gồm nhịp nhanh thất không kéo dài (18,4% so với 4,6%; p = 0,04) và phình mỏm thất trái (13,2% so với 1,5%, p = 0,02)

Kết luận: Biểu hiện lâm sàng của BCTPĐ khác nhau giữa hai giới Bệnh nhân nữ được chẩn đoán bệnh trễ

hơn, có nhiều triệu chứng lâm sàng và nhiều yếu tố nguy cơ đột tử hơn bệnh nhân nam

Từ khóa: Giới tính, biểu hiện lâm sàng, bệnh cơ tim phì đại

ABSTRACT

GENDER – RELATED DIFFERENCES IN THE CLINICAL PRESENTATION

OF HYPERTROPHIC CARDIOMYOPATHY

Tran Vu Minh Thu, Pham Nguyen Vinh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 22 - No 6- 2018: 124 – 130

Objectives: The impacts of gender on clinical features in hypertrophic cardiomyopathy (HCM) have been

unknown Hence, we investigated gender-ralated differences in the clinical presentation of HCM

Design: cross – sectional study

Methods and Results: Databases from Tam Duc Heart Hospital and Hochiminh City Heart Institute

comprising 104 HCM patients between 12/2015 to 11/2017 In the sample, there were 66 men (63.5%) Female patients were older and more symptomatic than male patients (53 ± 17.3 năm vs 45.9 ± 14.2 năm; p = 0.03); chest pain (40.1% vs 65.8%; p = 0.02) Female patients had significantly more frequent risks of sudden death than male patients including nonsustained ventricular tachycadia (18.4% vs 4.6%; p = 0.04) and left ventricular apical aneurysm (13.2% vs 1.5%, p = 0.02)

Conclusions: The manifestations of HCM patients differed between men and women Women with HCM

were older, more symptomatic, and had more frequent risk factors of sudden death than men

Key words: gender, clinical presentation, hypertrophic cardiomyopathy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh cơ tim phì đại (BCTPĐ) là bệnh tim di

truyền có biểu hiện lâm sàng rất thay đổi, từ

không triệu chứng đến triệu chứng nặng như khó thở, đau ngực, ngất(15) Sự đa dạng trong biểu hiện lâm sàng của BCTPĐ làm việc chẩn đoán bệnh trở nên khó khăn Nhiều yếu tố đã

*Bệnh viện tim Tâm Đức, **Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh,

Trang 2

được chứng minh qua nhiều nghiên cứu có liên

quan đến chẩn đoán và phân tầng nguy cơ

BCTPĐ(13,14) Giới tính được cho là một trong

những yếu tố nêu trên(18) Theo kết quả nghiên

cứu của Olivotto và cộng sự trên 969 bệnh nhân

BCPĐ, nữ có tuổi chẩn đoán cao hơn, suy tim và

tử vong nhiều hơn nam(18) Tuy nhiên, vẫn có rất

ít thông tin về sự ảnh hưởng của giới tính lên sự

biểu hiện lâm sàng của BCTPĐ Vì vậy, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự khác

nhau về biểu hiện lâm sàng giữa nam và nữ

trong BCTPĐ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả và phân tích

Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân đến khám tại khoa khám

ngoại trú Bệnh viện tim Tâm Đức và Viện Tim

Tp.HCM từ tháng 12/2015 đến 11/2017 thỏa mãn

các điều kiện sau:

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân được chẩn đoán BCTPĐ có tuổi ≥

16 với bề dày tối đa thành thất trái ≥ 15mm,

không có các bệnh gây nghẽn đường ra thất trái

khác (hẹp dưới van động mạch chủ, hẹp van

động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ, u trong

tim gây nghẽn đường ra thất trái)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân tăng huyết áp có tỷ lệ bề dày tối

đa thành thất trái/bề dày thành sau thất trái < 1,3

Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

Những bệnh nhân được chọn vào nghiên

cứu được giải thích và đồng ý ký vào “Phiếu

thông tin nghiên cứu và giấy chấp thuận tham

gia nghiên cứu” Nghiên cứu đã được sự chấp

thuận của hội đồng y đức Đại học y dược thành

phố Hồ Chí Minh

Kỹ thuật chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện

Các bước tiến hành nghiên cứu

Thăm khám và ghi nhận dữ liệu vào bệnh án

nghiên cứu

Siêu âm tim qua thành ngực được đánh giá bởi 2 bác sĩ tim mạch khác nhau; siêu âm thứ nhất được siêu âm bởi bất kỳ bác sĩ nào, siêu âm thứ hai được thực hiện bởi bác sĩ có kinh nghiệm siêu âm trên 5 năm Siêu âm tim được thực hiện trên máy siêu âm Philips HD7, XE11 với đầu dò siêu âm qua thành ngực S2-4

Định nghĩa biến số

Dựa vào siêu âm tim, hình thái học của thất

được chia thành các nhóm sau: Nhóm 1: Phì đại

thất trái không đồng tâm, phì đại chủ yếu vách liên thất Nhóm 2: Vách liên thất dạng sigmoid, thường gặp ở người lớn tuổi, phì đại phần đáy vách liên thất Nhóm 3: phì đại đồng tâm Nhóm 4: phì đại mỏm Nhóm 5: phì đại thành tim không thuộc 4 nhóm trên(1)

Chúng tôi đo đường kính thất trái, bề dày vách liên thất và thành sau thất trái, đường kính nhĩ trái cuối tâm trương theo phương pháp M-mode và 2D ở mặt cắt cạnh ức trục dọc và mặt cắt cạnh ức trục ngang(7) Đo phân xuất tống

máu thất trái với phương pháp M-mode ở mặt cắt cạnh ức trục dọc, theo phương pháp đĩa ở mặt cắt bốn buồng và hai buồng từ mỏm nếu có rối loạn vận động vùng(7)

Chênh áp tối đa qua đường thoát thất trái:

Được đo lúc nghỉ với Doppler xung hay Doppler liên tục ở mặt cắt ba buồng hay năm buồng từ mỏm Chênh áp = 4V2, V là vận tốc tối đa qua buồng tống thất trái(10)

Nghẽn đường thoát thất trái: Chênh áp tối

đa qua buồng tống thất trái ≥ 30 mmHg(2) Mức độ hở van hai lá được đánh giá ở mặt cắt 4 buồng theo khuyến cáo của Hội siêu âm tim Hoa Kỳ(21)

Thể tích nhĩ trái được đo vào thì tâm thu ngay trước khi van hai lá mở, dùng phương pháp hai mặt cắt chiều dài – diện tích(7)

Vận tốc tối đa dòng máu qua van ba lá thì tâm thu được đo với Doppler liên tục ở mặt cắt 4 buồng từ mỏm(9)

Chúng tôi đo vận tốc tối đa tâm trương sớm của cơ tim ở vị trí bên của vòng van hai lá (E’

Trang 3

bên) và tỷ lệ vận tốc tâm trương sớm (E/E’) với

siêu âm Doppler mô(9)

Rối loạn chức năng tâm trương thất trái:

Phân độ rối loạn chức năng tâm trương theo

khuyến cáo của Hội siêu âm tim Hoa Kỳ và

Hội hình ảnh học tim mạch Châu Âu(9)

Những biến số được khuyên để đánh giá chức

năng tâm trương cho bệnh nhân có BCTPĐ

bao gồm tỷ lệ E/E’ trung bình (> 14), chỉ số thể

tích nhĩ trái (> 34 ml/m2) và vận tốc tối đa dòng

phụt hở van 3 lá đo bằng Doppler liên tục (>

2,8 m/s) Nếu có > 50% trong số các biến số trên

đáp ứng các giá trị cắt, áp lực nhĩ trái tăng là

rối loạn chức năng tâm trương độ 2 Nếu <

50% các biến số trên đáp ứng các giá trị cắt, áp

lực nhĩ trái bình thường là rối loạn chức năng

tâm trương độ 1 Những bệnh nhân bệnh tiến

triển có rối loạn chức năng tâm trương độ 3

với các đặc điểm tỷ lệ E/A dòng 2 lá > 2,5

Nguy cơ đột tử 5 - năm cao: Điểm số nguy

cơ đột tử 5 – năm được tính theo mô hình

được đề nghị trong hướng dẫn của Hội tim

Châu Âu 2014 ≥ 6%(7)

Công thức tính nguy cơ đột tử như sau:

Nguy cơ đột tử 5 - năm = 1 – 0,998exp(Prognostic index)

Trong đó Prognostic index = [0,15939858 x bề

dày thành thất trái tối đa (mm)) - [0,00294271 x

bề dày thành thất trái tối đa 2 (mm2)] + [0,0259082

x đường kính nhĩ trái (mm)] + [0,00446131 x

chênh áp tối đa qua đường ra thất trái (mm Hg)]

+ [0,4583082 x tiền căn gia đình có người đột tử]

+ [0,82639195 x nhịp nhanh thất] + [0,71650361 x

ngất không rõ nguyên nhân] - [0,01799934 x tuổi

ở thời điểm đánh giá lâm sàng (năm)]

Nhịp nhanh thất không kéo dài: ≥ 3 ngoại

tâm thu thất liên tục ở tần số > 120 lần/phút và

kéo dài < 30 giây trên điện tâm đồ liên tục ≥ 24

giờ, được nhận biết trên điện tâm đồ liên tục

48 giờ(10)

Đột tử: Tử vong trong vòng 1 giờ kể từ khi

bệnh nhân có triệu chứng, kể cả lúc không ai

chứng kiến lúc ban đêm(10)

Ngất: Ngất không giải thích được nguyên

nhân ở thời điểm chẩn đoán hoặc trước đó(10) Suy tim: Theo phân độ New York Heart Association NYHA I, II, III, IV khi không có nghẽn đường thoát thất trái

Tăng huyết áp: Huyết áp động mạch cánh

tay ≥ 140/90 mmHg ở hai lần khám riêng biệt hoặc bệnh nhân đã được chẩn đoán tăng huyết

áp và đang được điều trị thuốc hạ áp do bác sĩ điều trị kê toa(11)

Bệnh động mạch vành: Hẹp ≥ 50% ít nhất một nhánh động mạch vành quan sát được trên

CT scanner hoặc chụp động mạch vành

Đái tháo đường típ 2: đường huyết đói ≥ 126

mg/dl hoặc HbA1C ≥ 6,5% hoặc bệnh nhân đã được chẩn đoán đái tháo đường típ 2 và đang được điều trị thuốc giảm đường huyết do bác sĩ điều trị kê toa(1)

Xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý với phần mềm Stata 11.1 Chúng tôi dùng phép kiểm T – test để

so sánh các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu Phép kiểm Chi-square, Fisher exact được áp dụng để tìm sự liên quan các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu Mô hình hồi qui logistic được áp dụng nhằm xác định mối liên hệ giữa nguy cơ đột tử 5 năm cao và các yếu tố lâm sàng

và cận lâm sàng Kết quả phép kiểm định với giá trị p < 0,05 và độ tin cậy 95% được xem sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ

Từ tháng 12/2015 đến 11/2017, chúng tôi tuyển chọn được 104 bệnh nhân BCTPĐ, đủ tiêu chuẩn chọn bệnh và thỏa tiêu chí loại trừ, đưa vào nghiên cứu

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm nhân trắc học và lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu được trình bày

trong bảng 1

Trong số 104 bệnh nhân BCTPĐ được đưa vào nghiên cứu, nam giới chiếm đa số trường hợp với 66 bệnh nhân (63,5%) so với nữ với 38 bệnh nhân (36,5%) Tuổi chẩn đoán và tuổi đưa

Trang 4

vào nghiên cứu lần lượt là 48,5 ± 16 và 51,4 ±

15,3 Có gần 2/3 số bệnh nhân (69,2%) được chẩn

đoán BCTPĐ vì có triệu chứng và 1/3 số bệnh

nhân còn lại được chẩn đoán tình cờ khi nghe

âm thổi ở tim hoặc phát hiện bất thường trên

điện tâm đồ trong khám sức khỏe định kỳ và khi

tầm soát gia đình Triệu chứng hiện diện ở 82

bệnh nhân (78,8%) lúc nhận vào nghiên cứu

Rung nhĩ xảy ra ở 11 bệnh nhân (10,7%) Tiền

căn gia đình có người đột tử và tiền căn gia đình

BCTPĐ được tìm thấy lần lượt ở 11 bệnh nhân

(10,6%) và 19 bệnh nhân (18,3%)

Bệnh nhân nữ có tuổi chẩn đoán trung bình

là 53 ± 17,3; cao hơn 8 năm so với bệnh nhân

nam (45,9 ± 14,2; p = 0,03) Bệnh nhân nữ có triệu

chứng đau ngực khi gắng sức nhiều hơn bệnh

nhân nam (40,1% so với 65,8%; p = 0,02) Ngoài

ra, nhịp nhanh thất không kéo dài xảy ra ở bệnh nhân nữ nhiều hơn bệnh nhân nam (18,4% so với 4,6%; p = 0,04)

Chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt giữa hai giới ở tuổi đưa vào nghiên cứu (p = 0,08), tiền căn gia đình, các triệu chứng lâm sàng khác như khó thở, hồi hộp đánh trống ngực, ngất, NYHA, cũng như bệnh lý đi kèm bao gồm tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, nhồi máu não và đái tháo đường típ 2 (p = 0,1 – 1) Tỷ lệ rung nhĩ cũng không khác nhau giữa hai giới (p = 1)

Đặc điểm siêu âm tim

Những chỉ số đánh giá siêu âm tim của các bệnh nhân trong nghiên cứu được thể hiện ở

bảng 2

Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Tất cả BN (n = 104) Nam n = 66 (63,5%) Nữ n = 38 (36,5%) Gía trị P

Tiền căn gia đình

Đột tử, n (%) BCTPĐ, n (%)

Lý do phát hiện bệnh

Có triệu chứng, n (%)

Tầm soát gia đình, n (%)

Tình cờ, n (%) Triệu chứng lâm sàng

Đau ngực khi gắng sức, n (%)

Khó thở khi gắng sức, n (%)

Hồi hộp đánh trống ngực, n (%)

Ngất, n (%) Không triệu chứng, n (%)

NYHA, n (%)

I

II III

IV

Âm thổi tâm thu phần thấp bờ trái

xương ức, n (%)

Phù, n (%) Gan to, n (%) Bệnh đi kèm Tăng huyết áp, n (%)

Đái tháo đường típ 2, n (%)

Nhồi máu não, n (%)

Bệnh động mạch vành (hẹp 50% trở lên), n (%)

Đã đặt máy tạo nhịp, n (%)

Rung nhĩ Nhịp nhanh thất không kéo dài

48,5 ± 16 51,4 ± 15,3 11(10,6) 19(18,3) 72(69,2) 3(2,9) 29(27,9) 52(50) 49(47,1) 35(33,7) 7(6,7) 22(21,2) 55(52,9) 48(46,1) 01(1) 0(0) 33(31,7) 1(1) 0(0) 42(40,4) 10(9,6) 8(7,7) 5(4,8) 3(2,9) 11(10,7) 10(9,7)

45,9 ± 14,2 49,4 ± 14,2 7(10,6) 11(16,7) 43(65,2) 3(4,5) 20(30,3) 27(40,9) 27(40,9) 21(31,8) 4(6,1) 16(24,2) 39(59,1) 27(40,9) 0(0) 0(0) 22(33,3) 1(1,5) 0(0) 24(36,4) 5(7,6) 5(7,6) 3(4,6) 1(1,5) 7(10,6) 3(4,6)

53 ± 17,3 56,9 ± 16,6 4(10,5) 8(21,1) 29(76,3) 0(0) 9(23,7) 25(65,8) 22(57,9) 14(36,8) 3(7,9) 6(15,8) 16(42,1) 21(55,3) 1(2,6) 0(0) 11(29) 0(0) 0(0) 18(47,4) 5(13,2) 3(7,9) 2(5,3) 3(7,9) 4(10,5) 7(18,4)

0,03 0,08

1 0,62 0,30 0,30 0,52 0,02 0,10 0,63 0,67

1 0,10 0,20 0,40

0,62

1

0,30 0,40

1

1 0,10

1 0,04

Trung bình ± độ lệch chuẩn

Trang 5

Bảng 2: Đặc điểm siêu âm tim

(n = 104)

Nam n = 66 (63,5%)

Nữ n = 38 (36,5%)

Gía trị P

Bề dày thành tim tối đa, mm Thể của bệnh cơ tim phì đại Thất trái dày không đồng tâm, n (%)

Vách liên thất dạng sigmoid, n (%)

Mỏm, n (%) Phì đại đồng tâm thất trái, n (%)

Khác, n (%) Tắc nghẽn trong tim Tắc nghẽn đường ra thất trái, n (%)

Tắc nghẽn giữa thất trái, n (%)

Tắc nghẽn đường ra thất phải, n (%)

Không rối loạn chức năng tâm trương, n (%)

Rối loạn chức năng tâm trương, n (%)

Độ 1

Độ 2

Độ 3

22,5 ± 4,8 77(74) 02(1,9) 16(15,4) 1(1) 8(7,7) 17(16,4) 02(1,9%) 02(1,9) 37,3 ± 11,4 75,4 ± 35,8 70,3 ± 27,7

09 ± 4

221 ± 47,3 33(31,7) 71(68,3) 54(51,9) 06(5,8) 11(10,6)

22,9 ± 4,9 49(74,3) 1(1,5) 12(18,2) 1(1,5) 3(4,5) 14(21,2) 0(0) 0(0)

37 ± 10,8 76,5 ± 35,9 68,7 ± 25,1 8,9 ± 4,3 217,5 ± 49 24(36,4) 42(36,1) 32(48,5) 4(6,1) 6(9,1)

22,1 ± 4,6 28(73,7) 1(2,6) 4(10,5) 0(0) 5(13,2) 3(7,9) 2(5,2) 2(5,2)

38 ± 12,7 73,7 ± 27,1 75,3 ± 31,9 9,3 ± 3,4 228,6 ± 43,9 9(23,7) 29(76,3) 22(57,9) 2(5,3) 5(13,2)

0,44

1

1 0,40

1 0,10 0,07 0,06 0,06 0,66 0,68 0,31 0,75 0,26 0,20 0,20 0,41

1 0,50

Trung bình ± độ lệch chuẩn

Sự khác nhau giữa hai giới về bề dày tối đa

thành tim, thể bệnh cơ tim phì đại, tắc nghẽn

trong tim, các thông số liên quan đến rối loạn

chức năng tâm trương như chỉ số nhĩ trái, vận

tốc sóng E, sóng A, sóng E’, vận tốc dòng máu

qua van 3 lá không có ý nghĩa thống kê

Yếu tố nguy cơ đột tử

Bảng 3: Yếu tố nguy cơ đột tử

Tất cả

BN (n = 104)

Nam

n = 66 (63,5%)

Nữ

n = 38 (36,5%)

Gía trị

P

Tiền căn gia đình đột tử, n

(%)

Nhịp nhanh thất không kéo

dài

Thất trái dày nặng (≥ 30

mm), n (%)

Ngất, n (%)

Tiền căn ngưng tim

hay nhịp nhanh thất kéo

dài, n (%)

Phình mỏm thất trái, n (%)

Điểm số nguy cơ đột tử 5 –

năm cao (≥ 6%), n(%)

11(10,6) 10(9,7) 09(8,7) 07(6,7) 01(0,9) 06(5,8) 5(4,8)

7(10,6) 3(4,6) 6(9,1) 4(6,1) 1(1,5) 1(1,5) 3(4,5)

4(10,5) 7(18,4) 3(7,9) 3(7,9) 0(0) 5(13,2) 2(5)

1

0,03

1 0,70

1

0,02

1

Theo khuyến cáo của Trường môn tim Hoa

Kỳ(8) và Hội tim Châu Âu(7), các yếu tố nguy cơ

đột tử ở BCTPĐ bao gồm tiền căn gia đình có

người đột tử, nhịp nhanh thất không kéo dài,

thất trái dày nặng (≥ 30 mm), ngất, tiền căn ngưng tim hay nhịp nhanh thất kéo dài, phình mỏm thất trái

Trong nghiên cứu chúng tôi, bệnh nhân nữ

có nhịp nhanh thất không kéo dài nhiều hơn bệnh nhân nam (18,4% so với 4,6%, p = 0,04) Tương tự, phình mỏm thất trái xảy ra ở bệnh nhân nữ nhiều hơn bệnh nhân nam (13,2% so

với 1,5%, p = 0,02) (Bảng 3) Nguy cơ đột tử 5 –

năm cao tương tự giữa hai giới

Mối liên hệ giữa các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng và nguy cơ đột tử cao

Các yếu tố được xét mối liên hệ với nguy cơ đột tử 5 – năm cao (≥ 6%)

Bảng 4: Phân tích hồi quy logistic đơn biến các yếu

tố liên hệ đến nguy cơ đột tử 5 – năm cao

OR thô KTC 95% Gía trị P

Giới Tuổi (mỗi năm) NYHA III-IV Tiền căn gia đình đột tử, n (%) Nhịp nhanh thất không kéo dài

Rung nhĩ

Bề dày thành thất trái (mỗi mm) Phình mỏm thất trái, n (%)

0,9 0,9

6 52,5 7,5 2,8

1 1,3

0,1 – 5,4 0,8 – 0,9 0,2 - 164 5,1 – 536 1,1 – 52,2 0,3 – 28,6 0,8 – 1,2 0,1 – 26,2

0,9

0,04

0,8

0,01 0,04

0,35 0,8 0,5

Chúng tôi nhận thấy giới tính không liên hệ

Trang 6

đến nguy cơ đột tử 5 – năm cao Tuổi có mối liên

hệ có mối liên hệ với nguy cơ đột tử 5 – năm cao

(OR thô = 0,9; KTC (khoảng tin cậy) 95% (0,8 –

0,9); p = 0,04) Tiền căn gia đình có người đột tử

có thể có mối liên hệ với nguy cơ đột tử 5 - năm

cao (OR thô = 52,5; KTC 95% (5,1 – 536); p = 0,01)

Tương tự, nhịp nhanh thất không kéo dài có thể

có mối liên hệ với nguy cơ đột tử 5 - năm cao

(OR = 7,5; KTC 95% (1,1 – 52,2); p = 0,004)

BÀN LUẬN

Bệnh cơ tim phì đại đã được chứng minh là

bệnh lý di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường,

vì thế cơ hội di truyền đột biến gây bệnh cho con

cái nếu một trong hai cha mẹ mắc bệnh là 50%(9)

Do đó, tỷ lệ bệnh nhân nữ và bệnh nhân nam

được mong chờ là như nhau trong bệnh lý này

Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, nam

giới chiếm đa số trường hợp với tỷ lệ nam/nữ =

1,7/1 (63,5% nam và 36,5% nữ) Tỷ lệ này tương

tự với các nghiên cứu khác như Lopes và cộng

sự (cs)(12), Christiaans và cs(4), Sheikh và cs(20) Sự

khác nhau về tỷ lệ biểu hiện bệnh ở nam và nữ

trong BCTPĐ có thể liên quan đến tính thấm di

truyền khác nhau của hai giới Tính thấm di

truyền có thể liên quan đến nội tiết tố nữ giúp

bảo vệ người phụ nữ làm chậm sự biểu hiện

bệnh Điều này được tìm thấy tương tự trong

nghiên cứu của Charron và cs(3) Charron đã tiến

hành điều tra 178 người trong 10 gia đình

BCTPĐ có mang đột biến gene và đưa ra kết

luận tính thấm di truyền ở nam cao hơn nữ (77%

so với 58%, OR điều chỉnh theo tuổi: 3,98, KTC

95%: 1,34 —11,48)(3)

Trong nghiên cứu chúng tôi, bệnh nhân nữ

có tuổi chẩn đoán là 53 ± 17,3, cao hơn 8 năm so

với bệnh nhân nam (45,9 ± 14,2; p = 0,03) Thật

vậy, Dimitrow và cộng sự (13) đã đánh giá 94

bệnh nhân BCTPĐ bao gồm 55 nam và 39 nữ;

kết quả cho thấy bệnh nhân nữ biểu hiện triệu

chứng lâm sàng muộn hơn nam (31,3 ± 11,9 năm

so với 26,7 ± 9,9 năm; p < 0.05) Bên cạnh lí do

liên quan đến sự khác nhau về tính thấm di

truyền hai giới trong BCTPĐ, chúng tôi cho rằng

có thể có sự hiểu biết không đầy đủ về bệnh tim

mạch trong giới nữ dẫn đến việc chậm chẩn đoán bệnh(16) Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng trong các chương trình khám sức khỏe định kỳ nên chỉ định đo điện tâm đồ và siêu âm tim cho tất cả những người được kiểm tra, ngay cả khi người được kiểm tra không triệu chứng Bởi vì, tỷ lệ bệnh nhân không triệu chứng được phát hiện

trong nghiên cứu lên đến 22% (Bảng 1) Ngoài ra,

việc tầm soát gia đình bệnh nhân BCTPĐ rất quan trọng vì qua đó nhiều bệnh nhân BCTPĐ được chẩn đoán ở giai đoạn không triệu chứng Trong nghiên cứu này, triệu chứng đau ngực khi gắng sức, nhịp nhanh thất không kéo dài và phình mỏm thất trái xảy ra ở bệnh nhân nữ

nhiều hơn bệnh nhân nam (Bảng 1 và 3) Chúng

tôi nhận thấy điều tương tự trong nghiên cứu của Olivotto và cs(18) Olivotto và cs đã tiến hành khảo sát 969 bệnh nhân BCTPĐ ở Ý và Hoa Kỳ

và đưa ra kết luận bệnh nhân nữ có nhiều triệu chứng lâm sàng hơn bệnh nhân nam(18) Ngoài

ra, ông quan sát thấy tỷ lệ tắc nghẽn đường ra thất trái ở bệnh nhân nữ cao hơn bệnh nhân nam (37% so với 23%; p = 0,001) Điều này thật khác với nghiên cứu chúng tôi Lí giải sự khác biệt này, chúng tôi cho rằng có thể do cỡ mẫu khác nhau giữa hai nghiên cứu Chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu đề cập đến sự khác nhau giữa hai giới về hai biểu hiện quan trọng trong đánh giá nguy cơ đột tử ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại là nhịp nhanh thất và phình mỏm thất trái Chúng tôi không nhận thấy có sự khác biệt giữa hai giới trong mối liên hệ với nguy cơ đột

tử 5 - năm cao (≥ 6%), mặc dù bệnh nhân nữ có

tỷ lệ nhịp nhanh thất ngắn và phình mỏm thất

trái cao hơn bệnh nhân nam (bảng 4) Olivotto và

cs(18) đã tìm thấy bệnh nhân nữ BCTPĐ có tỷ lệ tử vong do suy tim và đột quỵ do thuyên tắc cao hơn bệnh nhân nam (p < 0,001) Tuy nhiên, nghiên cứu này không đề cập đến nguy cơ đột

tử ở cả hai giới(18)

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu cắt ngang nên khó đưa ra yếu tố tiên lượng liên quan giữa biểu hiện lâm sàng và kết cục (đột tử,

Trang 7

tử vong do suy tim, đột quỵ) ở cả hai giới như

nghiên cứu đoàn hệ

KẾT LUẬN

Ở BCTPĐ, biểu hiện lâm sàng khác nhau

giữa bệnh nhân nữ và bệnh nhân nam được thể

hiện trong nghiên cứu của chúng tôi Bệnh nhân

nữ được chẩn đoán bệnh trễ hơn nam giới, có

nhiều triệu chứng lâm sàng và có nhiều yếu tố

nguy cơ liên quan đến đột tử nhiều hơn nam

giới bao gồm nhịp nhanh thất không kéo dài,

phình mỏm thất trái

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Care in Diabetes Diabetes Care - 2015 The journal of clinical and

applied research and education, 38(1): S5-S87

Echocardiography-guided genetic testing in hypertrophic cardiomyopathy: septal

morphological features predict the presence of myofilament

mutations Mayo Clin Proc; 81:459–67

Penetrance of familial hypertrophic cardiomyopathy Genet

Couns; 8:107–14

risk factors for sudden cardiac death, and cardiac events in a

large nationwide cohort of predictively tested hypertrophic

cardiomyopathy mutation carriers: determining the best

cardiological screening strategy European Heart Journal, 32,

1161–1170

and Outcome of Hypertrophic Cardiomyopathy Associated

With Thin-Filament Gene Mutations J Am Coll Cardiol, 64:

2589–600

differences in age at onset of symptoms in patients with

hypertrophic cardiomyopathy J Cardiovasc Risk; 4:33–5

Guidelines on diagnosis and management of hypertrophic

cardiomyopathy The Task Force for the Diagnosis and

Management of Hypertrophic Cardiomyopathy of the

European Society of Cardiology (ESC) European Heart Journal

doi:10.1093/eurheartj/ehu284

Guideline for the Diagnosis and Treatment of Hypertrophic

Cardiomyopathy JACC, 58(25): e212–60

basis and genotype-phenotype relationships in familial

hypertrophic cardiomyopathy In: Maron BJ, editor Diagnosis

and Management of Hypertrophic Cardiomyopathy Malden,

MA: Blackwell Futura;67– 80

10 Lang RM, Bierig M, Devereux RB et al (2005) Recommendations for chamber quantification: a report from the American Society of Echocardiography’s Guidelines and Standards Committee and the Chamber Quantification Writing Group, developed in conjunction with the European Association of Echocardiography, a branch of the European

Society of Cardiology J Am Soc Echocardiogr, 18: 1440–63

11 Leung AA, Nerenberg K, Daskalopoulou SS (2016) Hypertension Canada’s 2016 Canadian Hypertension

Measurement, Diagnosis, Assessment of Risk, Prevention, and

Treatment of Hypertension Canadian Journal of Cardiology, 32:

569 – 588

12 Lopes LR, Zekavati, A, Syrris P et al (2013) Genetic complexity

in hypertrophic cardiomyopathy revealed by high-throughput

sequencing J Med Genet, 50: 228–239

13 Maron BJ, Olivotto I., Bellone P et al (2002) Clinical profile of

stroke in 900 patients with hypertrophic cardiomyopathy J Am

Coll Cardiol; 39:301–7

14 Maron MS, Olivotto I, Betocchi S et al (2003) Effect of left ventricular outflow tract obstruction on clinical outcome in

hypertrophic cardiomyopathy N Engl J Med; 348:295–303

15 Maron MS, Olivotto I., Zenovich AG et al (2006) Hypertrophic cardiomyopathy is predominantly a disease of left ventricular

outflow tract obstruction Circulation, 114: 216

16 Mosca L, Jones WK, King K.B et al (2000) Awareness, perception, and knowledge of heart disease risk and prevention among women in the United States American Heart Association Women’s Heart Disease and Stroke

Campaign Task Force Arch Fam Med; 9:506 –15

17 Nagueh, S F., Smiseth, O A., Appleton, C P et al (2016) Recommendations for the Evaluation of Left Ventricular Diastolic Function by Echocardiography: An Update from the American Society of Echocardiography and the European

Association of Cardiovascular Imaging J Am Soc Echocardiogr,

29: 277-314

18 Olivotto I., Maron MS, Adabag AS et al (2005) Gender-related differences in the clinical presentation and outcome of

hypertrophic cardiomyopathy J Am Coll Cardiol; 46:480–7

19 O'Mahony C, Jichi F, Pavlou M et al (2014) Hypertrophic Cardiomyopathy Outcomes A novel clinical risk prediction

cardiomyopathy (HCM risk-SCD) Eur Heart J, 35: 2010–2020

20 Sheikh N, Michael Papadakis M, Panoulas VF et al (2016) Comparison of hypertrophic cardiomyopathy in

Afro-Caribbean versus white patients in the UK Heart, 102(22):

1797-1804

21 Zoghbi WA, Enriqu ez-Sarano M, Foster E et al (2003) Recommendations for evaluation of the severity of native valvular regurgitation with two-dimensional and Doppler

echocardiography J Am Soc Echocardiogr, 16: 777–802

Ngày nhận bài báo: 14/08/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 18/08/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/10/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w