Bài viết xác định độ nhạy, độ đặc hiệu khi tiên lượng điều trị thành công TNTC chưa vỡ với nồng độ βhCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1 sau khi tiêm MTX.
Trang 1TIÊN LƯỢNG ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG THAI NGOÀI TỬ CUNG CHƯA VỠ VỚI METHOTREXATE ĐƠN LIỀU BẰNG SỰ GIẢM NỒNG ĐỘ β-hCG
TỪ NGÀY 1 ĐẾN NGÀY 4 TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ
Nguyễn Bá Mỹ Nhi*, Phạm Ngọc Bảo Trân*, Bùi Chí Thương*
TÓM TẮT
Mở đầu: Tại bệnh viện Từ Dũ, trong năm 2014, số trường hợp thai ngoài tử cung (TNTC) được điều trị nội
khoa bằng MTX là 1366/1547 trường hợp chiếm tỉ lệ 88,3% Bệnh nhân vẫn phải nằm viện ít nhất 7 ngày nếu điều trị thành công với liều MTX duy nhất và cho đến thời điểm hiện nay tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá sự thay đổi nồng độ β-hCG vào ngày 1 và ngày 4 để tiên lượng sớm cho việc điều trị TNTC chưa vỡ sau khi tiêm Methotrexate (MTX) đơn liều
Mục tiêu: Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu khi tiên lượng điều trị thành công TNTC chưa vỡ với nồng độ
β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1 sau khi tiêm MTX
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm chẩn đoán, hồi cứu Nghiên cứu được thực
hiện trên 550 trường hợp được chẩn đoán TNTC chưa vỡ được chỉ định điều trị MTX đơn liều tại khoa Nội soi, bệnh viện Từ Dũ từ tháng 6/2014 đến tháng 12/2014
Kết quả: Giá trị tiên đoán dương điều trị thành công khi dựa vào nồng độ β-hCG ngày 7 giảm ≥15%
so với ngày 4 là 90,6% Giá trị tiên đoán dương điều trị thành công khi nồng độ β-hCG giảm vào ngày 4 là 86,5% Giá trị tiên đoán dương điều trị thành công khi dựa vào nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1 là 93,4% Hiệu quả điều trị TNTC chưa vỡ thành công hay thất bại khác biệt có ý nghĩa thống kê khi khảo sát cả 3 nhóm (p<0,001), điều này cho thấy “nồng độ β-hCG ngày 7 giảm ≥15% so với ngày 4” hay
“nồng độ β-hCG ngày 4 giảm so với ngày 1” hay “nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1” đều có giá trị tiên lượng điều trị thành công TNTC Các yếu tố: nhóm cân nặng ≤50 kg, tình trạng không đau bụng sau khi tiêm MTX và không có sự hiện diện dịch túi cùng trên siêu âm có liên quan đến thành công của điều trị TNTC chưa vỡ bằng MTX đơn liều
Kết luận: Dựa theo phác đồ điều trị với MTX đơn liều hiện nay, chúng tôi ghi nhận giá trị tiên đoán dương
dự báo điều trị thành công TNTC chưa vỡ khi dựa vào sự giảm nồng độ β-hCG ≥15% vào ngày 7 so với ngày 4 là 89,7% Giá trị này tương đương giá trị tiên đoán dương khi nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1 (93,4%) (p=0,057), và cao hơn so với giá trị tiên đoán dương khi nồng độ β-hCG ngày 4 giảm so với ngày 1 (86,5%) (p< 0,001) Vì vậy, ta có thể tiên lượng sớm sự thành công của việc điều trị TNTC chưa vỡ khi nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1 với độ nhạy là 74,9% và độ đặc hiệu là 88,6%
Từ khóa: thai ngoài tử cung, Methotrexate
ABSTRACT
USING A DECLINE IN SERUM β-hCG BETWEEN DAYS 1-4 TO PREDICT ECTOPIC PREGNANCY TREATMENT SUCCESS AFTER SINGLE-DOSE METHOTREXATE AT TU DU HOSPITAL
Nguyen Ba My Nhi, Pham Ngoc Bao Tran, Bui Chi Thuong
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 1 - 2017: 35 - 43
Background: At Tu Du hospital, in 2014, 1366/1547 cases of ectopic pregnancy were treated with
methotrexate, equivalent to 88.3% of cases Patients remain hospitalized for at least 7 days In Vietnam, no studies
*Bộ môn Sản, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
Trang 2have proposed a fall in serum hCG between days 0–4 to predict ectopic pregnancy treatment success early after single dose MTX
Objectives: Determine sensitivity, specificity to predict ectopic pregnancy treatment success after
single-dose MTX by a ≥20% fall in serum β-hCG between days 1-4 of treatment
Methods: We conducted a retrospective study of women (n=550) treated with single-dose methotrexate for
ectopic pregnancy at the Department of Endoscopy, Tu Du Hospital from December 2014 to June 2014
Results: In our study, the positive predictive value of the current clinical measure was 90.6% of cases A
falling serum hCG between days 0–4 predicted treatment success in 86.5% of cases and a ≥20% fall in serum hCG between days 0–4 predicted treatment success in 93.4% of cases The factors: ≤50 kg weight, no colic condition after MTX injection and without the presence of the fluid in the cul-de-sac on ultrasound related to the unrated ectopic pregnancy treatment success after single-dose MTX
Conclusion: The current treatment efficacy of single-dose methotrexate for ectopic pregnancy is a ≥15% fall
in serum hCG between days 4–7 of treatment The positive predictive value of this clinical measure was 90.6%
We have found that a ≥20% fallen serum hCG between days 0–4 after single-dose methotrexate treatment of ectopic pregnancy predicts treatment success in 93.4% of cases There was no significant difference in the ability
of these tests to predict medical treatment success (p=0.057) A falling serum hCG between days 0–4 give this measure a positive predictive value of 86.5%, it is different significantly The sensitivity and specificity of a ≥20% fallen serum hCG between days 0–4 to predict treatment success after single-dose methotrexate treatment were 64% and 73% respectively
Keyword: ectopic pregnancy, methotrexate
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai ngoài tử cung (TNTC) xảy ra khi phôi
làm tổ bên ngoài nội mạc tử cung, đây là bệnh
lý phụ khoa thường gặp, gây xuất huyết nội
đe dọa đến tính mạng và ảnh hưởng đến
tương lai sinh sản sau này của bệnh nhân
(BN) Theo thống kê tại bệnh viện Từ Dũ trong
năm 2014, số trường hợp TNTC là 1547 trong
đó có 1366 trường hợp được điều trị nội khoa
bằng MTX chiếm tỉ lệ 88,3%
Hiện nay, MTX là lựa chọn hàng đầu trong
điều trị nội khoa TNTC chưa vỡ do có nhiều lợi
ích cả về tính hiệu quả và tính dung nạp
Theo phương pháp sử dụng MTX đơn liều
để điều trị TNTC chưa vỡ của Stovall, điều trị
thành công khi nồng độ β-hCG ngày 7 giảm ít
nhất 15% so với ngày 4 sau khi tiêm MTX
Một nghiên cứu khác có cỡ mẫu là 126
trường hợp do Agostini và cộng sự báo cáo
năm 2007 cho thấy sự giảm ≥20% nồng độ
β-hCG từ ngày 1 đến ngày 4 sau khi tiêm MTX
đơn liều giúp tiên lượng điều trị TNTC thành
công với giá trị tiên đoán dương là 97% (1) Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2011 của Monika và cộng
sự với cỡ mẫu 206 BN cũng cho kết luận rằng
sự giảm nồng độ β-hCG ≥20% từ ngày 0 đến ngày 4 giúp tiên lượng điều trị thành công với giá trị tiên đoán dương là 94%(4)
Vấn đề tiên lượng sớm sự thành công của việc điều trị TNTC bằng β-hCG vào ngày thứ
4 sau khi tiêm MTX đơn liều có ý nghĩa lâm sàng vô cùng quan trọng, giúp rút ngắn thời gian nằm viện, giảm lo lắng và tiết kiệm chi phí cho BN Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Tiên lượng điều trị thành công thai ngoài tử cung chưa vỡ với Methotrexate đơn liều bằng sự giảm nồng độ β-hCG từ ngày 1 đến ngày 4 tại bệnh viện Từ Dũ”
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính
Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu khi tiên lượng điều trị thành công TNTC chưa vỡ với nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1 sau khi
Trang 3tiêm MTX
Mục tiêu phụ
Xác định tỉ lệ thành công của MTX đơn liều
trong điều trị TNTC chưa vỡ
Xác định mối liên quan giữa các yếu tố kinh
tế xã hội, tiền căn sản phụ khoa, đặc điểm bệnh
lý TNTC của BN và tỉ lệ thành công của MTX
đơn liều trong điều trị TNTC chưa vỡ
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm chẩn đoán, hồi cứu
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu
Những BN được chẩn đoán TNTC chưa vỡ
Dân số nghiên cứu
Những BN được chẩn đoán TNTC chưa vỡ,
có chỉ định điều trị MTX đơn liều tại bệnh viện
Từ Dũ
Dân số chọn mẫu
Những BN được nhập viện tại bệnh viện Từ
Dũ được chẩn đoán TNTC chưa vỡ, được định
lượng β-hCG và được chỉ định điều trị MTX đơn
liều từ tháng 06/2014 đến tháng 12/2014
Cỡ mẫu và qui trình chọn mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Với TP: dương tính thật (true positive) FN: âm tính giả
(false negative) α: xác suất sai lầm loại 1, chọn α = 5%
= 1,96
p se : độ nhạy, qua tham khảo y văn p se = 40% (3)
W: sai số chấp nhận cho ước lượng độ nhạy (chọn khoảng
5%) p dis : tỉ lệ BN TNTC điều trị MTX đơn liều thành công
trong số BN bị TNTC, qua tham khảo y văn p dis =70% (3)
Vậy cỡ mẫu của nghiên cứu là 527
Chúng tôi đánh giá 3 nhóm:
Nhóm có nồng độ β-hCG ngày 7 giảm ≥15%
so với ngày 4
Nhóm có nồng độ β-hCG ngày 4 giảm so với ngày 1
Nhóm có nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20%
so với ngày 1
KẾT QUẢ
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành tại bệnh viện Từ Dũ với cỡ mẫu là 550 trường hợp TNTC chưa vỡ được điều trị Methotrexate Chúng tôi hồi cứu các hồ sơ bênh nhân trong khoảng thời gian từ tháng 6/2014 đến tháng 12/2014 và ghi nhận được các kết quả như sau:
Bảng 1: Đặc điểm kinh tế xã hội
Đăc điểm Tần số (n = 550) Tỉ lệ (%)
Tuổi: trung bình 29,7 ± 6,2
Nghề nghiệp
Cân nặng:
trung bình 50,9 ± 6,7 kg
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 29,7 ± 6,2 tuổi, đa số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 20-40 tuổi chiếm tỉ lệ 90,0%
Hơn 1/2 (58,9%) đối tượng nghiên cứu không
ở thành phố Hồ Chí Minh
Về nghề nghiệp, đa số phụ nữ trong nghiên cứu là công nhân viên và nội trợ chiếm tỉ lệ lần lượt là 28,0% và 27,6%
Cân nặng trung bình của đối tượng nghiên cứu là 50,9 ± 6,7 kg Đa số phụ nữ trong nghiên cứu có cân nặng ≤50 kg, chiếm tỉ lệ 55,5%
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 79,3% phụ nữ chưa đủ con Có 58,4% phụ nữ trong nghiên cứu chưa từng sinh ngả âm đạo và đa
số phụ nữ không có tiền căn mổ lấy thai chiếm
tỉ lệ 79,8%
Trang 4Bảng 2: Đặc điểm về tiền căn sản khoa
Đặc điểm Tần số (n = 550) Tỉ lệ (%)
Số con
Số lần sinh ngả
âm đạo
Số lần mổ lấy thai
Đa số phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt đều
chiếm tỉ lệ 68,5%
Chúng tôi ghi nhận có 13,8% BN đã từng bị
TNTC trước đây, trong đó có 3,8% BN đã từng bị
TNTC 2 lần, có 6,9% phụ nữ đã từng điều trị
TNTC bằng MTX và 8,9% BN có tiền căn phẫu thuật vì TNTC
Đa số phụ nữ trong nghiên cứu không có tiền căn phẫu thuật phụ khoa, chiếm tỉ lệ 92,9% Chúng tôi ghi nhận có 4,2% phụ nữ bị TNTC có tiền căn phẫu thuật vì vô sinh, chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các tiền căn phẫu thuật phụ khoa trước đây
Tại thời điểm nhập viện vì TNTC, chúng tôi ghi nhận có 4,7% phụ nữ bị viêm âm đạo, viêm
cổ tử cung chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các bệnh
lý phụ khoa
Về vấn đề thụ thai lần này, chúng tôi ghi nhận đa số BN có thai tự nhiên chiếm tỉ lệ 98,7%,
có 0,7% phụ nữ được bơm tinh trùng và 0,5% phụ nữ bị TNTC đã được chuyển phôi sau thụ tinh trong ống nghiệm
Bảng 3: Đặc điểm về tiền căn phụ khoa
Tiền căn TNTC
Tiền căn điều trị TNTC
bằng MTX
Tiền căn phẫu thuật vì
TNTC
Tiền căn phẫu thuật
phụ khoa khác
Bệnh lý phụ khoa đang
mắc
Phương pháp thụ thai
Đa số phụ nữ bị TNTC trong nghiên cứu của
chúng tôi đã có gia đình chiếm tỉ lệ 90,4%, phụ
nữ độc thân có quan hệ trong nghiên cứu này
chiếm tỉ lệ nhỏ là 9,6%
Về các BPTT, chúng tôi ghi nhận gần 1/4
(28,5%) BN bị TNTC thất bại với các BPTT, trong
đó giao hợp gián đoạn là BPTT có tỉ lệ cao nhất trong các BPTT được BN áp dụng chiếm 7,3% Chúng tôi nhận thấy gần 1/2 (42,2%) số BN trong nghiên cứu có tiền căn sẩy thai hay nạo
Trang 5phá thai, 21,5% phụ nữ đã từng phá thai nội
khoa và 15,5% phụ nữ có tiền căn phá thai
ngoại khoa
Bảng 4: Đặc điểm về tiền căn kế hoạch hóa gia đình
(n = 550)
Tỉ lệ (%) Tình trạng hôn nhân
Biện pháp tránh thai
Tiền căn sẩy thai, nạo phá thai
Tiền căn phá thai nội khoa
Tiền căn phá thai ngoại khoa
Bảng 5: Đặc điểm lâm sàng đối tượng nghiên cứu
Lý do
đến khám
Ra huyết âm
Số ngày trễ
kinh
Đau bụng
Ra huyết âm
đạo bất
thường
Đa số BN đến khám vì ra huyết âm đạo bất
thường chiếm tỉ lệ 41,6%, có 37,3% phụ nữ đến khám vì đau bụng và có 21,1% BN đến khám vì trễ kinh
Hơn 1/2 (53,2%) BN nhập viện khi đã trễ kinh 1 đến 2 tuần
Có 67,1% BN có triệu chứng đau bụng và có 84,0% BN bị ra huyết âm đạo bất thường
Bảng 6: Đặc điểm siêu âm của đối tượng nghiên cứu
Bề dày nội mạc tử cung
Đường kính lớn nhất của khối TNTC
Dịch cùng
đồ
Kết quả SÂ của BN nhập viện vì TNTC trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận bề dày nội mạc tử cung của BN trung bình là 7,9 ± 3,5 mm,
đa số nội mạc tử cung có bề dày ≤8 mm chiếm 67,8% các trường hợp
Đường kính lớn nhất của khối TNTC trung bình là 21,4 ± 6,2 mm
Đa số BN có dịch ở cùng đồ sau chiếm tỉ lệ 73,8%, bề dày dịch cùng đồ trung bình 16,5 ± 6,7 mm
Kết quả điều trị
Sơ đồ 1: Kết quả điều trị
Trang 6Hình 1: Diễn tiến nồng độ β-hCG các trường hợp điều trị thất bại
Hình 2: Diễn tiến nồng độ β-hCG các trường hợp điều trị thành công
Chúng tôi ghi nhận nồng độ β-hCG vào
ngày 4 so với ngày 1 sau khi tiêm MTX thường
có xu hướng giảm trong các trường hợp điều trị
thành công và tăng trong các trường hợp điều trị
thất bại
Tiên lượng kết quả điều trị
Hiệu quả điều trị TNTC chưa vỡ bằng MTX
đơn liều giữa nhóm có nồng độ β-hCG ngày 7
giảm ≥15% so với ngày 4 và nhóm còn lại khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Trong nghiên cứu có 1 trường hợp nồng độ
β-hCG vào ngày 7 giảm 14,8% so với ngày 4 và
không được chỉ định tiêm MTX liều 2, BN này sau đó được theo dõi và có nồng độ β-hCG về
âm tính mà không cần thêm bất cứ can thiệp điều trị nào
Bảng 7: Tiên lượng kết quả điều trị khi β-hcg ngày 5
giảm ≥15% so với ngày 4
Hiệu quả MTX Thất bại Thành công
β-hCG ngày 7
(*) Kiểm định chi bình phương; NPV: 99,2%, PPV: 90,6%, 2 =377,2, p<0,001, OR=1266,0; KTC 95%: 172,2-9305,1 Sp: 77,2% , Se: 99,7%
Trang 7Bảng 8: Tiên lượng kết quả điều trị khi β-HCG ngày
4 giảm so với ngày 1
Hiệu quả MTX Thất bại Thành công
β-hCG
ngày 4
p<0,001 OR=18,8 KTC 95%:
11,9-29,6
(*) Kiểm định chi bình phương; NPV:74,5%, PPV:
86,5% Sp: 70,3%, Se: 88,8% 2 =198,4 p<0,001;
OR=18,8 KTC 95%: 11,9-29,6
Hiệu quả điều trị TNTC chưa vỡ bằng MTX
đơn liều giữa nhóm có nồng độ β-hCG ngày 4
giảm so với ngày 1 và nhóm có nồng độ β-hCG
ngày 4 tăng so với ngày 1 khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Bảng 9: Tiên lượng kết quả điều trị khi β-hcg ngày 4
giảm ≥20% so với ngày 1
Hiệu quả MTX Thất bại Thành công
β-hCG ngày 4
(*) Kiểm định chi bình phương; NPV:62,2%, PPV: 93,4% Sp: 88,6%, Se: 74,9% 2 =194,2 p<0,001
OR=23,2 KTC95%: 13,8-39,0
Hiệu quả điều trị TNTC chưa vỡ bằng MTX đơn liều giữa nhóm có nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1 và nhóm còn lại khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Bảng 10: Các yếu tố liên quan đến điều trị thành công thai ngoài tử cung chưa vỡ bằng MTX đơn liều
Thất bại(%) Thành công(%)
Nhóm cân nặng (kg)
Đau bụng sau khi tiêm MTX
Nồng độ β-hCG ngày 1 (mIU/ml)
Dịch túi cùng
(*) Hồi quy logistic đa biến
Nhóm cân nặng, tình trạng đau bụng sau khi
tiêm MTX và sự hiện diện dịch túi cùng trên SÂ
có liên quan đến hiệu quả điều trị MTX
BÀN LUẬN
Kết quả điều trị
Tỉ lệ thành công khi điều trị TNTC bằng
MTX đơn liều trong nghiên cứu của chúng tôi
là 68,2% Theo định nghĩa về tiêu chuẩn điều
trị thành công, chúng tôi đánh giá điều trị
thành công khi nồng độ β-hCG giảm đến <25
mIU/ml và không cần phải can thiệp thêm, các
trường hợp BN ngừng điều trị vì tác dụng phụ
của MTX, phải tiêm lặp lại liều MTX hay phẫu
thuật được xếp vào nhóm thất bại điều trị Chúng tôi lựa chọn tiêu chuẩn thành công như vậy vì 2 lý do:
Định nghĩa này cung cấp thông tin rõ ràng
về kết quả nghiên cứu BN có nồng độ β-hCG không giảm ≥15% giữa ngày 4 và ngày 7 sẽ được điều trị không thống nhất, một số BN tiếp tục điều trị nội khoa, sử dụng liều MTX thứ 2 và cũng có một số BN muốn được phẫu thuật vì không muốn tiếp tục theo dõi dù họ có đủ chỉ định để tiếp tục điều trị bằng MTX Vì vậy, chúng tôi áp dụng định nghĩa của mình để thống nhất về kết quả nghiên cứu
Trang 8Định nghĩa này tương tự với các nghiên cứu
của các tác giả Nguyen Q (2010), Monika S
(2011), (2013), Ebru Ç (2012), sẽ dễ dàng trong việc
so sánh với các nghiên cứu khác và thống nhất
trong việc tiên lượng điều trị MTX(2,4,5,6)
Vì vậy, chúng tôi chỉ so sánh tỉ lệ thành công
của MTX đơn liều với các nghiên cứu tương tự
Tỉ lệ thành công khi điều trị MTX đơn liều trong
nghiên cứu của chúng tôi tương tự với tỉ lệ thành
công là 70,9% trong nghiên cứu của Monika S
(2013) (p=0,160)(5), thấp hơn so với tỉ lệ điều trị
thành công trong một nghiên cứu khác của
Monika S (2011) là 76,0% (p<0,001) và nghiên
cứu của Ebru Ç (2012) là 76,3% (p<0,001)(2,4) Sự
khác biệt này có lẽ do nhiều yếu tố Nghiên cứu
của chúng tôi và nghiên cứu của Monika S
(2013) có cỡ mẫu lần lượt là 550 BN và 206 BN,
trong khi đó 2 nghiên cứu của Monika S (2011)
và Ebru Ç (2012) có cỡ mẫu ít hơn lần lượt là 45
BN và 93 BN, cỡ mẫu khác nhau nên tỉ lệ thành
công khi điều trị MTX đơn liều cũng khác nhau
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn có thể tùy
thuộc vào nhiều yếu tố khác như đặc điểm mẫu
nghiên cứu, nồng độ β-hCG trước điều trị, kích
thước khối thai…
Tiên lượng kết quả điều trị
Các nghiên cứu của Nguyen Q (2010),
Monika S (2011), Ebru Ç (2012) cho thấy sự
giảm nồng độ β-hCG vào ngày 4 so với ngày 1
sau khi tiêm MTX có giá trị tiên lượng điều trị
thành công TNTC chưa vỡ với giá trị tiên đoán
dương từ 88-100%(2,4,6) Các nghiên cứu của
Agostini (2007) và Monika S (2013) ghi nhận sự
giảm nồng độ β-hCG ≥20% vào ngày 4 so với
ngày 1 có giá trị tiên đoán dương điều trị thành
công TNTC từ 94-97%(1,5) Vì vậy chúng tôi tiến
hành khảo sát 3 nhóm:
Nhóm có nồng độ β-hCG ngày 7 giảm ≥15%
so với ngày 4
Nhóm có nồng độ β-hCG ngày 4 giảm so với
ngày 1
Nhóm có nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20%
so với ngày 1
Từ đó so sánh các giá trị độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán
âm giữa các nhóm để xác định khả năng tiên lượng sớm thành công điều trị TNTC vào ngày 4 sau khi tiêm MTX Chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:
Hiệu quả điều trị TNTC chưa vỡ thành công hay thất bại khác biệt có ý nghĩa thống kê khi khảo sát cả 3 nhóm (p<0,001), điều này cho thấy
“nồng độ β-hCG ngày 7 giảm ≥15% so với ngày 4” hay “nồng độ β-hCG ngày 4 giảm so với ngày 1” hay “nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1” đều có giá trị tiên lượng điều trị thành công TNTC
Dựa theo phác đồ điều trị với MTX đơn liều hiện nay, chúng tôi ghi nhận giá trị tiên đoán dương dự báo điều trị thành công TNTC chưa
vỡ khi dựa vào sự giảm nồng độ β-hCG ≥15% vào ngày 7 so với ngày 4 là 90,6% Giá trị này tương đương giá trị tiên đoán dương khi nồng
độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với ngày 1 (93,4%) (p=0,057), và cao hơn so với giá trị tiên đoán dương khi nồng độ β-hCG ngày 4 giảm so với ngày 1 (86,5%) (p< 0,001) Vì vậy, ta có thể tiên lượng sớm sự thành công của việc điều trị TNTC chưa vỡ khi nồng độ β-hCG ngày 4 giảm
≥20% so với ngày 1 với độ nhạy là 74,9% và độ đặc hiệu là 88,6% Chúng tôi chọn ngưỡng nghiên cứu là sự giảm nồng độ β-hCG ≥20% vào ngày 4 so với ngày 1 để thuận lợi so sánh với các nghiên cứu trước đây
Việc chờ đợi kết quả điều trị đến ngày 7 sau khi tiêm liều MTX đầu tiên là 1 quá trình đòi hỏi
sự kiên trì của BN và các BS điều trị, tuy nhiên,
sự lo lắng và áp lực tâm lý của BN chính là nguyên nhân thúc đẩy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này tại Việt Nam Nghiên cứu này chỉ xem xét sự giảm nồng độ β-hCG vào ngày 4
so với ngày 1 nên hoàn toàn không ảnh hưởng đến phác đồ điều trị hiện tại
Việc tiên lượng điều trị thành công TNTC bằng sự giảm nồng độ β-hCG ≥20% vào ngày 4
so với ngày 1 có độ nhạy là 74,9% và độ đặc hiệu
Trang 9là 88,6% Giá trị này có thể được chấp nhận đối
với 1 xét nghiệm chẩn đoán Tuy nhiên, chỉ có
54,7% trường hợp TNTC có nồng độ β-hCG
giảm ≥20% vào ngày 4, vì vậy, giá trị của đề tài
cũng còn hạn chế, chỉ có thể tiên lượng được đối
với khoảng 1/2 các trường hợp TNTC điều trị
MTX, các trường hợp còn lại vẫn cần theo dõi
theo phác đồ thông thường
KẾT LUẬN
Qua phân tích 550 BN bị TNTC chưa vỡ và
đủ điều kiện điều trị MTX tại bệnh viện Từ Dũ
từ tháng 6/2014 đến tháng 12/2014, điểm cắt
chúng tôi chọn là sự giảm nồng độ β-hCG ≥20%
vào ngày 4 so với ngày 1, chúng tôi ghi nhận
được các kết quả sau:
Tiên lượng điều trị thành công TNTC chưa
vỡ với nồng độ β-hCG ngày 4 giảm ≥20% so với
ngày 1 sau khi tiêm MTX có độ nhạy là 74,9% và
độ đặc hiệu là 88,6%
Tỉ lệ điều trị thành công TNTC chưa vỡ với
MTX đơn liều là 68,7%
Các yếu tố: nhóm cân nặng ≤50 kg, tình trạng
không đau bụng sau khi tiêm MTX và không có
sự hiện diện dịch túi cùng trên SÂ có liên quan
đến thành công của điều trị TNTC chưa vỡ bằng MTX đơn liều
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Agostini A, Blanc K, Ronda I, Romain F, Capelle M, Blanc B (2007) Prognostic value of human chorionic gonadotropin changes after methotrexate injection for ectopic
pregnancy.Fertil Steril, 88(2): pp.504–506
2 Ebru Ç, Türkçüoğlu I, Abdullah K, et al (2013) Assessment of early decline in the percentage of β-hCG values between days
0 and 4 after methotrexate therapy in ectopic pregnancy for
the prediction of treatment success J Turkish-German Gynecol
Assoc, 14: pp.125-129
3 Fernandez H, Lesavre M, Curinier S, et al (2015) Treatment of
tubal ectopic pregnancy by methotrexate J Gynecol Obstet Biol
Reprod, 44(3): pp.212-219
4 Monika S, Li J, Wallace EM, Tong S, (2011) Decline in beta hCG levels between days 0 and 4 after a single dose of methotrexate for ectopic pregnancy predicts treatment
success: a retrospective cohort study.BJOG, 118(13): pp.1665–
1668
5 Monika S, Philip D, (2013) Using a decline in serum hCG between days 0–4 to predict ectopic pregnancy treatment success after single-dose methotrexate: a retrospective cohort
study BMJ pregnancy and childbird, 13: pp.30
6 Nguyen Q, Kapitz M, (2010), “Are early human chorionic gonadotropin levels after methotrexate therapy a predictor of
response in ectopic pregnancy?”, Am J Obstet Gynecol, 202(6),
pp.630-635
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 01/03/2017