1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hạ thân nhiệt sâu – ngưng tuần hoàn trong tuần hoàn ngoài cơ thể phẫu thuật phình quai động mạch chủ cấp trên thai phụ 12 tuần: Trường hợp lâm sàng

5 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 242,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phình động mạch chủ trong thai kỳ rất hiếm gặp, đe dọa tính mạng cả mẹ và thai nhi. Đặc biệt, trong phẫu thuật tim hở có hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể việc đảm bảo an toàn cho mẹ và thai nhi cũng như theo dõi kết cục lâm sàng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Trang 1

HẠ THÂN NHIỆT SÂU – NGƯNG TUẦN HOÀN TRONG TUẦN HOÀN NGOÀI CƠ THỂ PHẪU THUẬT PHÌNH QUAI ĐỘNG MẠCH CHỦ CẤP

TRÊN THAI PHỤ 12 TUẦN: TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

Lê Hữu Đạt*, Phạm Thị Lệ Xuân*, Thạch Minh Hoàng*

TÓM TẮT

Mở đầu: Phình động mạch chủ trong thai kỳ rất hiếm gặp, đe dọa tính mạng cả mẹ và thai nhi Đặc biệt,

trong phẫu thuật tim hở có hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể việc đảm bảo an toàn cho mẹ và thai nhi cũng như theo dõi kết cục lâm sàng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Chúng tôi báo cáo một trường hợp lâm sàng: phình động mạch chủ ngực vỡ trên bệnh nhân có thai 12 tuần tuổi có hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể với ngưng tuần hoàn và

hạ thân nhiệt sâu 25 0 C được phẫu thuật thành công cho mẹ và giữ được thai nhi an toàn qua phẫu thuật

Mục tiêu: Báo cáo trường hợp lâm sàng về tuần hoàn ngoài cơ thể với ngưng tuần hoàn và hạ thân nhiệt

sâu

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo trường hợp

Kết luận: Phình động mạch chủ trong thai kỳ là là một nguy cơ nghiêm trọng có thể gây tử vong cả mẹ và

thai nhi Để chẩn đoán sớm, điều trị tốt cần phải phối hợp thật tốt giữa các chuyên khoa như sản khoa, phẫu thuật tim mạch, gây mê hồi sức và tuần hoàn ngoài cơ thể cũng như tùy tình trạng sức khỏe của mẹ và thai nhi Bác sĩ gây mê và bác sĩ tuần hoàn ngoài cơ thể phải biết rõ những thay đổisinh lý và ảnh hưởng của sinh lý và ảnh hưởng của tuần hoàn ngoài cơ thể lên thai phụ và thai nhi

Từ khóa: Tuần hoàn ngoài cơ thể, ngưng tuần hoàn hạ thân nhiệt sâu

ABSTRACT

CARDIOPULMONARY BYPASS AND DEEP HYPOTHERMIC CIRCULATORY ARREST

FOR ACUTE AORTIC DISSECTION SURGERY FOR A 12-WEEKS PREGNANT WOMAN:

A CASE REPORT

Le Huu Dat, Pham Thi Le Xuan, Thach Minh Hoang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 22 - No 3- 2018: 93 - 97

Background – Objectives: Aortic dissection during pregnancy that creates a serious mortality risk is a rare

disease for both the pregnant woman and the foetus In particular, open-heart surgery using cardiopulmonary bypass in pregnancy, fetus and maternal outcome, especially long-term follow-up results have not been sufficiently described We present the case of the successful diagnosis and surgical repair of a pregnant woman presented to the emergency department with an acute Stanford type A aortic dissection at 12 th weeks of gestation and kept fetus safety That was supported cardiopulmonary bypass, 25 0 C deep hypothermic circulatory arrest and

regional cerebral perfusion technique during open heart surgery

Method: Case report

Conclusion: Aortic dissection during pregnancy is a high-risk situation of morbidity and mortality for both

mother and fetus The management should based on a multidisciplinary approach including the cardiologist, obsterician, pediatrician, cardiac surgeon, perfusionist, and anesthesiologist The perfusionist and anesthesiologist must have perfect kwonledge of physiology changes and the impact of cardiopulmonary bypass on the mother and fetus

* Bệnh viện Chợ Rẫy

Trang 2

Keywords: Cardiopulmonary bypass, deep hypothermic circulatory arrest

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phình động mạch chủ là một bệnh lý tương

đối hiếm gặp nhưng có tỉ lệ tử vong cao, việc

phát hiện và điều trị sớm rất quan trọng trong

tiên lượng sống còn Phình động mạch chủ

thường gặp ở người trên 50 tuổi có tiền sử tăng

huyết áp, người trẻ tuổi có rối loạn di truyền về

mô liên kết, van động mạch chủ hai mảnh, chấn

thương và tiền sử gia đình có người bị phình

động mạch chủ Phình động mạch chủ trong thai

kỳ rất hiếm gặp, đe dọa tính mạng cả mẹ và thai

nhi Đặc biệt, trong phẫu thuật tim hở có hỗ trợ

tuần hoàn ngoài cơ thể, việc đảm bảo an toàn

cho thai nhi cũng như theo dõi kết cục lâm sàng

vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Chúng tôi

báo cáo một trường hợp lâm sàng: phình động

mạch chủ ngực vỡ trên bệnh nhân có thai 12

tuần tuổi có hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể với

ngưng tuần hoàn và hạ thân nhiệt sâu được

phẫu thuật thành công cho mẹ và giữ được thai

nhi an toàn qua phẫu thuật

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

Thai phụ 20 tuổi (sinh năm 1997), chiều cao

157 cm, nặng 50 kg, PARA 0000, thai nhi 12 tuần

tuổi, được nhập viện cấp cứu tại bệnh viện

Becamex trong tình trạng đau ngực, khó thở tăng

dần; được chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy Kết

quả siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính cho thấy

phình quai động mạch chủ cấp tính Standford

type A Trước đó, bệnh nhân khám thai đều,

chưa từng ghi nhận tiền sử tăng huyết áp, bệnh

lý tim mạch và tiền sử gia đình không ghi nhận

có người mắc bệnh lý tim mạch

Bệnh nhân được chuyển đến khoa Hồi sức -

Phẫu thuật tim để theo dõi huyết động của cả mẹ

và thai nhi Bệnh nhân tri giác lơ mơ Glasgow 13

điểm, an thần với Midazolam 5 mg (tiêm mạch),

thở máy với Fi02 40%, huyết áp 160/90 mmHg,

nhịp tim 100 lần/ phút, Sp02 98% Siêu âm tim

qua thành ngực: chức năng tâm thu thất trái bình

thường EF = 63% Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính

ngực: động mạch chủ ngực đoạn quai, túi phình

động mạch chủ đoạn quai đường kính # 6 cm, tụ máu quanh túi phình, khả năng vỡ túi phình Kết quả siêu âm thai nhi cho thấy tử cung có một thai sống, nhịp tim thai # 178 lần/ phút

Hội chẩn khẩn cấp giữa các chuyên khoa: phẫu thuật tim mạch, nội tim mạch, hồi sức phẫu thuật tim, sản khoa, gây mê hồi sức tim mạch và tuần hoàn ngoài cơ thể đã thảo luận, lên

kế hoạch điều trị và cân nhắc rủi ro, lợi ích nhằm đảm bảo khả năng thành phẫu thuật thành công cao nhất cho thai phụ cũng như hạn chế tối đa biến chứng liên quan đến gây mê, tuần hoàn ngoài cơ thể có thể ảnh hưởng đến thai nhi Các xét nghiệm tiền phẫu: nhóm máu O Rh(+), hemoglobin 131 g/L, dung tích hồng cầu 38.3 %, số lượng tiểu cầu 213 G/L, INR 1.10, SGPT 61 U/L, SGOT 34 U/L, creatinin 0.67 mg/dl, đường huyết 139 mg/dL, albumin máu 3.3 g/dL, CK-MB 19.5 U/L, Troponin I 0.179 U/L và điện tim nhịp xoang 100 lần/ phút, không thay đổi ST

và sóng T

Thăm khám tiền mê đánh giá: ASA IV-E Chuẩn bị: 01 đường truyền ngoại vi 18G, 01 catheter động mạch quay phải, 01 catheter động mạch đùi trái, 01 catheter tĩnh mạch trung tâm 9F Phương tiện theo dõi: monitoring theo dõi nhịp tim, huyết áp xâm lấn, SpO2, độ bão hoà oxy não, SaO2, SvO2, ACT, nhiệt độ thực quản, nhiệt độ trực tràng, khí máu động mạch, theo dõi nhịp tim thai

Khởi mê: Sevorane 1.5% + Sufentanil 20 mcg + Rocuronium 50 mg

Duy trì mê: Sevoran 1.5 – 3%, Sufentanil 0.005 mcg/kg/phút, Rocuronium 4 mcg/kg/phút

Vị trí cannula: 01 cannula động mạch chủ

20 Fr, 01 cannula động mạch đùi phải 21 Fr, 01 cannual tĩnh mạch hai tầng 32/40 Fr

Sau khi thiết lập hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể, bệnh nhân được hạ dần thân nhiệt đến 250C, tiến hành kẹp động mạch chủ và bảo vệ cơ tim bằng 2000 ml dung dịch liệt tim Custodiol (Histidine – Tryptophan – Ketoglutarate) đường

Trang 3

xuôi dòng từ gốc động mạch chủ khi nhiệt độ

máu đạt 300C Khi thân nhiệt bệnh nhân đạt

250C, tiến hành ngưng tuần hoàn toàn bộ kết hợp

nuôi não chọn lọc, bác sĩ phẫu thuật mổ thay

đoạn phình bằng ống ghép nhân tạo Trong suốt

quá trình tuần hoàn ngoài cơ thể, chúng tôi duy

trì: lưu lượng bơm kiểu mạch đập khoảng từ

3700 – 4500 ml/phút (cardiac index từ 2.5 – 3.5

L/phút/m2), đảm bảo huyết áp ≥ 70 mmHg bằng

lưu lượng bơm, dung tích hồng cầu từ 25-27%,

PaO2 >200 mmHg Sau khi bác sĩ phẫu thuật thay

đoạn phình bằng ống ghép nhân tạo xong, bệnh

nhân được làm ấm và cai máy tim phổi nhân tạo

thành công với liều dobutamin liều 5

mcg/kg/phút Tổng thời gian tuần hoàn ngoài cơ

thể: 190 phút, thời gian kẹp động mạch chủ: 70

phút, thời gian ngưng tuần hoàn hạ thân nhiệt

sâu: 30 phút (ở 25oC)

Sau mổ, bênh nhân được chuyển đến phòng

hồi sức chăm sóc tích cực và theo dõi sức khỏe

thai nhi Kết quả siêu âm thai sau hậu phẫu ngày

1 cho thấy có một tim thai sống, nhịp tim thai

#145 lần/phút Bệnh nhân được xuất viện sau 21

ngày điều trị mà không có biến chứng nào cho

thai phụ và thai nhi

Bảng 1:

Hiện tại (Tháng 4/2018) bệnh nhân sức

khỏe bình thường, đã sinh được một bé trai 05

tháng tuổi (sanh thường) phát triển tâm thần

vận động tốt

BÀN LUẬN

Phần lớn phình động mạch chủ thường gặp

ở người trên 50 tuổi có tiền sử tăng huyết áp,

người trẻ tuổi có rối loạn di truyền về mô liên

kết, van động mạch chủ hai mảnh, chấn thương

và tiền sử gia đình có người bị phình động mạch

chủ Phình động mạch chủ trong thai kỳ là một

tình trạng hiếm gặp, có thể gây nguy hiểm cho

cả mẹ và thai nhi, với tỉ lệ sống sót khoảng 20 –

30%(5) Phình động mạch chủ type A chiếm 80%

trường hợp phình động mạch chủ trong thai kỳ

và 87.5% trong số các trường hợp này xảy ra trong giai đoạn tiền sản(2,14) Báo cáo của Thalmann và cs năm 2011 điều tra trong vòng 10 năm từ 1994 đến 2004 tại Vienne (Áo) trên hơn

34000 phụ nữ từ 15-45 tuổi cho thấy tỉ lệ mắc bệnh chung 0,4 trường hợp/100.000 người/năm(12)

và tỉ lệ tử vong trước khi vào viện là 53%(18) Tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, và thay đổi hoóc môn trong thời kỳ mang thai cũng có thể làm trầm trọng thêm hoặc dẫn đến phình động chủ trên bệnh nhân mang thai(3,4,9) Thêm vào đó, nồng độ estrogen và progesterone ở thai

kỳ cao có thể gây thoái hóa thành động mạch chủ(10) Tỉ lệ tử vong của phình động mạch chủ type A không được phẫu thuật là 1% mỗi giờ trong 24 giờ đầu sau khi xuất hiện triệu chứng

và 75% sau 2 tuần không điều trị Nguyên nhân

tử vong bao gồm, vỡ phình động mạch gây ra đột tử, chèn ép tim, suy thất - van động mạch chủ cấp và suy động mạch vành hoặc động mạch cảnh hoặc tắc nghẽn dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ

Việc quản lý của gây mê hồi sức trong phẫu thuật phình động mạch chủ Stanford type A bao gồm: kiểm soát huyết áp tích cực bằng huyết áp động mạch xâm lấn và kiểm soát đau Thuốc ức chế bêta hoặc thuốc ức chế kênh canxi là các thuốc hạ huyết áp được lựa chọn(16)

Phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể gây nên những thay đổi sinh lý như hạ thân nhiệt, pha loãng máu, ức chế đông máu, tan huyết, hoạt hóa bổ thể, thuyên tắc khí và chế độ bơm kiểu không mạch đập có thể ảnh hưởng đến tuần hoàn tử cung và thai nhi Tuy nhiên, nhiều báo cáo đã chứng minh sự tương đối an toàn khi phẫu thuật tim hở có tuần hoàn ngoài

cơ thể khi đang mang thai(13,16,17,19)

Hạ thân nhiệt sẽ gây hại cho thai nhi thông qua việc tăng co cơ tử cung và giảm tưới máu tử cung, có thể do sự hiện diện của prostaglandin, các yếu tố gây viêm hoặc do sự pha loãng progesterone(6) Tuy nhiên, năm 1994, Buffalo và

Trang 4

cộng sự đã báo cáo một trường hợp sử dụng

thành công kỹ thuật hạ thân nhiệt sâu và ngưng

tuần hoàn cho bệnh nhân mang thai 21 tuần tuổi,

bị vỡ phình động mạch chủ Tuần hoàn ngoài cơ

thể được thực hiện với bơm kiểu mạch đập sinh

lý, (lưu lượng trung bình 2.4 L / phút / m2) và 37

phút ngưng tuần hoàn ở 19° C, mẹ hồi phục tốt,

thai nhi khoẻ mạnh sau mổ(1)

Ngoài ra, hạ thân nhiệt có thể gây ra tình

trạng chậm nhịp tim thai Trong thời gian tuần

hoàn ngoài cơ thể, nhịp tim thai thường giảm

còn 100-115 lần/phút, nhưng đôi khi có thể còn

70-80 phút / phút gây hại nghiêm trọng cho

thai nhi(15)

Kinh nghiệm của Iscan Z H và cộng sự cho

thấy có thể tăng thông khí và sử dụng

adrenaline hoặc noradrenaline trong thời gian

phẫu thuật tim để ngăn ngừa sự giãn mạch

quá mức(7) Theo Khandelwal M và cộng sự:

việc sử dụng inotrope không có ảnh hưởng

tiêu cực đến bào thai(8)

Nếu Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể ngắn,

không hạ nhiệt độ thì việc duy trì lưu lượng và

áp lực cao có vai trò quan trọng trong việc tưới

máu nhau thai Do đó, lưu lượng cao ≥ 5 L /

phút, huyết áp 70-75 mmHg, dung tích hồng cầu

25-27% và hạ thân nhiệt nhẹ hoặc bình thường

trong thời gian ngắn đã được ủng hộ(11) Tăng lưu

lượng lên 3100-3600 mL / phút có thể cải thiện

nhịp tim thai Trong vài trường hợp tăng lưu

lượng bơm không cải thiện được nhịp tim thai

trong đa số trường hợp có thể có kết quả tốt cho

cả mẹ và thai nhi khi ngưng tuần hoàn hạ thân

nhiệt sâu(1)

Ở bệnh nhân này, phình động mạch chủ vỡ

xảy ra khi bệnh nhân đang ở giai đoạn cuối tam

cá nguyệt thứ nhất nên chúng tôi gặp thách thức

rất lớn trong gây mê hồi sức, tuần hoàn ngoài cơ

thể để có thể đảm bảo kết quả tốt đẹp cho mẹ và

an toàn của thai nhi trong suốt cuộc phẫu thuật

Chúng tôi áp dụng tất cả các phương tiện theo

dõi kiểm báo liên tục Về mặt gây mê hồi sức,

chúng tôi kiểm soát huyết áp với Nicardipin 5

mg/giờ, giảm đau với Sufentanyl 0.01 mcg/kg/phút, đảm bảo huyết áp trung bình ≥ 70 mmHg để duy trì lưu lượng và áp lực tưới máu thai nhi, dung tích hồng cầu ≥ 27%, áp dụng chiến lược thở máy tăng thông khí Về mặt tuần hoàn ngoài cơ thể, chúng tôi bảo vệ cơ tim với dung dịch liệt tim Custodiol (Histidine – Tryptophan – Ketoglutarate) qua đường xuôi dòng từ gốc động mạch chủ Chúng tôi áp dụng

kỹ thuật hạ thân nhiệt sâu ngưng tuần hoàn kết hợp với nuôi não chọn lọc, thời gian ngưng tuần hoàn là 30 phút ở nhiệt độ 250C Trong suốt quá trình tuần hoàn ngoài cơ thể, bệnh nhân được duy trì lưu lượng bơm kiểu mạch đập khoảng từ

3700 – 4500 ml/phút (cardiac index từ 2.5 – 3,5 L/phút/m2) và đảm bảo huyết áp ≥ 70 mmHg bằng lưu lượng bơm

KẾT LUẬN

Phình động mạch chủ trong thai kỳ là là một nguy cơ nghiêm trọng có thể gây tử vong cả mẹ

và thai nhi Để chẩn đoán sớm, điều trị tốt cần phải phối hợp thật tốt giữa các chuyên khoa như sản khoa, phẫu thuật tim mạch, gây mê hồi sức

và tuần hoàn ngoài cơ thể cũng như tùy tình trạng sức khỏe của mẹ và thai nhi Bác sĩ gây mê

và bác sĩ tuần hoàn ngoài cơ thể phải biết rõ những thay đổi sinh lý và ảnh hưởng của sinh lý

và ảnh hưởng của tuần hoàn ngoài cơ thể lên thai phụ và thai nhi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Buffalo E, Palma JH, et al, (1994) "Successful use of deep

hypothermic circulatory arrest in pregnancy," Ann Thorac

Surg, 58, p 1532

2 Ch'ng SL, Cochrane AD, et al, (2013) "Stanford type a aortic dissection in pregnancy: a diagnostic and management

challenge," Heart Lung Circ, 22, p 12–18

3 Chow SL, (1993) "Acute aortic dissection in a patient with Marfan's syndrome complicated by gestational hypertension,"

Med J Aust, 159, p 760-762

4 Gelpi G, Pettinari M, et al, (2008) "Should pregnancy be considered a risk factor for aortic dissection? Two cases of acute aortic dissection following cesarean section in

non-Marfan nor bicuspid aortic valve patients," J Cardiovasc Surg

(Torino), 49, p 389-39

5 Hagan PG, Nienaber CA, et al, (2000) "The International Registry of Acute Aortic Dissection (IRAD): new insights into

an old disease," JAMA , 283(7), p 897–903

Trang 5

6 Hess OW, Davis CD, (1964) "Electronic evaluation of the fetal

and maternal rate during hypothermia in a pregnant woman,"

Am J Obstet Gynecol, 89, p 801

7 Iscan ZH, Mavioglu L, et al, (2006) "Cardiac surgery during

pregnancy," J Heart Valve Dis, vol 15, p 686–690

8 Khandelwal M, Rasanen J, et al, (1996) "Evaluation of fetal and

uterine hemodynamics during maternal cardiopulmonary

bypass," Obstet Gynecol, 88(4 Pt 2), p 667–671

9 Lind J, Wallenburg HC, (2001) "The Marfan syndrome and

pregnancy: a retrospective study in a Dutch population," Eur J

Obstet Gynaecol Reprod BioI, 98, p 28-35

10 Manalo-Estrella P, Barker AE, (1967) "Histopathologic

findings in human aortic media associated with pregnancy,"

Arch Pathol, 83, p 336-34

11 Mora CT, (1995) "Pregnancy and cardiopulmonary Bypass,"

New York: Springer, p 359–375

12 Nasiell J, Norman M, et al, (2009) "Aortic dissection in

pregnancy: a life-threatening disease and a diagnosis of worth

considering," Acta Obstet Gynecol Scand, 88, p 1167–1170

13 Parry AJ, Westaby S, (1996) "Cardiopulmonary bypass during

pregnancy," Ann Thorac Surg, vol 61, p 1865

14 Rutherford RB, Nolte JE, (1995) "Aortic and other arterial

dissections associated with pregnancy," Semin Vasc Surg, 8, p

299–305

15 Souza MHL, Elias DO, (2013) "Guidelines for cardiopulmonary bypass during pregnancyOnline," http://perfline.com/guidelines/pregnancy.shtmllast, p 30.09.2013, access: 30.09.2013

16 Strickland RA, Oliver WC Jr, et al, (1991) "Anesthesia,

cardiopulmonary bypass, and the pregnant patient," Mayo

Clin Proc, 66, p 411

17 Sullivan HJ, (1995) "Valvular heart surgery during

pregnancy," Surg Clin North Am, 75, p 59

18 Thalmann M, Sodeck GH, et al, (2011) "Acute type A aortic dissection and pregnancy: a population-based study,"

European Journal of Cardio-thoracic Surgery, 39(6), p e159–e163

19 Weiss BM, von Segesser LK, et al, (1998) "Outcome of cardiovascular surgery and pregnancy: a systematic review of

the period 1984–1996," Am J Obstet Gynecol, 179, p 1643

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 09/02/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/05/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w