1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của siêu âm doppler màu trong chẩn đoán gãy dương vật

6 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 291,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm của gãy dương vật. Xác định giá trị của Siêu âm doppler màu trong chẩn đoán gãy dương vật.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM DOPPLER MÀU TRONG CHẨN ĐOÁN

GÃY DƯƠNG VẬT

Trần Đức Quang*, Trịnh Thị Thu Thảo*, Đào Thị Mộng Cầm*, Phạm Bích Hải*, Tống Thị Minh Kha*,

Nguyễn Thành Nhân*, Đặng Đình Hoan*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Gãy dương vật là một cấp cứu niệu khoa hiếm gặp Nó có thể để lại cho bệnh nhân những hậu

quả về mặt tâm lý, chức năng, sinh lý Cho nên cần chẩn đoán xác định gấp và xử trí ngoại khoa sớm

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm của gãy dương vật Xác định giá trị của Siêu

âm doppler màu trong chẩn đoán gãy dương vật

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang, từ tháng 6/2017 đến

10/2017 với 11 bệnh nhân gãy dương vật điều trị tại Bệnh viện Bình Dân, với kết quả siêu âm trước phẫu thuật Thu thập kết quả hình ảnh siêu âm và so sánh với kết quả sau phẫu thuật

Kết quả: Cơ chế chấn thương xảy ra phổ biến nhất ở nhóm “trong lúc giao hợp” (63,6%) Vị trí thường gặp

nhất ở 1/3 giữa dương vật (54,5%) Tỷ lệ bên (P) nhiều hơn bên (T) (81,8% so với 18,2%) Máu tụ lân cận tổn thương chiếm tỷ lệ 100%, trong đó máu tụ trong bao trắng là 81,8%, máu tụ ngoài bao trắng là 81,8%, cả hai là 63,6% Độ nhạy, độ chính xác của phát hiện có rách vỡ bao trắng thể hang lần lượt là 100%, 90,9%; Độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác phát hiện phía tổn thương bao trắng lần lượt là 100%, 100% và 100% Phù hợp vị trí trên Siêu âm so với vị trí phẫu thuật là 90,9%

Kết luận: Siêu âm doppler màu là phương thức hình ảnh tốt để phát hiện sự hiện diện và vị trí của rách vỡ

bao trắng (gãy dương vật) Nó cũng có thể giúp chẩn đoán chính xác trong những trường hợp khó với bệnh sử và triệu chứng không điển hình

Từ khóa: Siêu âm Doppler màu, gãy dương vật

ABSTRACT

ROLE OF COLOUR DOPPLER ULTRASOUND IN DIAGNOSING OF THE PENILE FRACTURE

Tran Duc Quang, Trinh Thi Thu Thao, Dao Thi Mong Cam, Pham Bich Hai,Tong Thi Minh Kha,

Nguyen Thanh Nhan, Đang Đinh Hoan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 260 - 265

Introduction: Penile fracture is a rare urological emergency that may have distressing physical, functional

and psychological consequences So prompt diagnosis and timely surgical repair are necessary

Purpose: This study aims to describe the imaging characteristics and define the value of colour doppler

ultrasound in diagnosing of the penile fracture

Patients and method: Prospective cross section descriptive study of 11 patients in Binh Dan hospital from

June 2017 to Oct 2017, with penile fractures and using colour doppler ultrasound preoperatively Sonographic imaging characteristics were collected and compared with the postoperative results

Results: The most common location was middle 1/3 penis (54.5%) Right side lesions were more than the left

* Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Bình Dân, Tp.HCM

Trang 2

side lesions (81.8%/ 18.2%) Adjacent hematomas were 100 %, in which intra-tunica anh extra-tunica hematomas were the same (81.8%) Both were 63.6% The sensitivity and accuracy of colour doppler US to detecting the tearing rupture of the corpora cavernosa were 100%, and 90.9 % The sensitivity, specificity and accuracy of colour doppler US to detecting the lesional side of corpora cavernosa were 100%, 100%, 100%, respectively Correlation between US and operation in defining lesional locations is 90.9%

Conclusions: Colour doppler ultrasound is a good modality to detect the presence and site of tear in the

tunica albuginea (Penile fracture) It can also help vith the correct diagnosis in difficult cases with atypical history

or presentation

Keywords: Colour doppler ultrasound, penile fracture

MỞ ĐẦU

Gãy dương vật hay rách vỡ bao trắng thể

hang dương vật là một cấp cứu niệu khoa hiếm

gặp, cho nên cần chẩn đoán xác định gấp và xử

trí ngoại khoa sớm(1,2,3)

Chẩn đoán gãy dương vật thường được thực

hiện trên lâm sàng Tuy nhiêm trong những

trường hợp mơ hồ, kiểm tra bằng hình ảnh nên

được thực hiện Trong đó siêu âm là phương

pháp dễ thực hiện tiếp cận, xác nhận chẩn đoán,

độ trải rộng tổn thương, hướng của tổn thương

và những biến chứng kèm theo(3,6,7)

Ở nước ta, những bài báo cáo về vai trò của

Siêu âm trong gãy dương vật rất ít Vì vậy để trả

lời câu hỏi siêu âm có vai trò gì trong chẩn đoán

gãy dương vật, cũng như có giúp ích gì cho bác

sĩ Niệu khoa, Nam khoa trong chẩn đoán và xử

trí gãy dương vật Chúng tôi thực hiện đề tài

nghiên cứu “Vai trò của Siêu âm Doppler màu

trong chẩn đoán gãy dương vật”

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm hình ảnh Siêu âm doppler

màu của gãy dương vật

Giá trị của Siêu âm doppler màu trong chẩn

đoán gãy dương vật

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Tất cả bệnh nhân được điều trị tại Bệnh viện

Bình Dân TP.HCM từ tháng 06/2017 đến tháng

10/2017 với chẩn đoán lâm sàng là theo dõi gãy

dương vật Bệnh nhân được khám lâm sàng, làm siêu âm Doppler màu và có kết quả phẫu thuật

Tiêu chuẩn loại trừ

Chấn thương dương vật do tai nạn

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, tiến cứu

Phương pháp tiến hành

Tất cả BN được chọn thỏa điều kiện, được nghiên cứu hồ sơ bệnh án, siêu âm Doppler màu dương vật, thu thập các biến số được định nghĩa trước theo đề cương nghiên cứu, phân tích các yếu tố theo mẫu thu thập số liệu thống nhất đã được lập trình để xử lý số liệu Số liệu được nhập vào bảng dữ kiện của phần mềm Excel 2007, Epi Info 6,04 và thực hiện các kiểm định tương quan Các dấu hiệu thu thập được trên Siêu âm được so sánh và đối chiếu với kết quả phẫu thuật Xác định giá trị dương tính thật và giả, âm tính thật và giả của các dấu hiệu siêu âm, lấy kết quả phẫu thuật làm căn cứ đối chiếu Từ đó tính

ra độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương tính và giá trị tiên đoán âm tính của các dấu hiệu trên siêu âm

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Dịch tễ

Tuổi TB là 29,5 ± 3,5 tuổi Tỷ lệ BN ở TPHCM (64,7%) lớn hơn ở các Tỉnh (35,3%)

Bệnh sử thu thập được nhóm “xảy ra trong lúc giao hợp” chiếm đa số là 7 BN (63,6%), tiếp đến nhóm “bẻ dương vật lúc cương” chiếm 4 BN

Trang 3

(36,4%), các nhóm khác (thủ dâm, lăn tròn xuống

giường gây té ngã) trong lô khảo sát không có

BN nào

Triệu chứng lâm sàng

Bảng 1 Cơ chế gãy dương vật (n=11)

Cơ chế chấn thương Tần số Tỷ lệ (%)

Bẻ dương vật lúc cương 4 36,4

Trong lúc giao hợp 7 63,6

Té ngã xuống giường 0 0

Bảng 2 Triệu chứng lâm sàng (n=11)

Triệu chứng lâm sàng Tần số Tỷ lệ (%)

11 100,0 Đau dương vật 11 100

Tiếng “crack”sau chấn thương 7 63,6

Sưng dương vật 11 100

Mất cương nhanh 11 100

Tụ máu (hình ảnh “trái cà tím”) 8 72,7

Tụ máu trải rộng đến bìu, trên mu,

hội âm

Máu ở khe niệu đạo, bí tiểu, khó

tiểu, không triệu chứng

Đặc điểm hình ảnh siêu âm của gãy dương vật

Bảng 3 Chiều lớn nhất của đường mất liên tục bao

trắng (mm)

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 TB

6 7 4,6 4 4,3 14 10 11 10 8,7 7 7,9

Bảng 4 Vị trí gãy dương vật:

Vị trí Tần số Tỷ lệ (%)

Vị trí gãy 1/3 giữa dương vật chiếm ưu thế

(54,5%), tiếp đến là 1/3 trên (36,4%) và 1/3 dưới

chiếm tỷ lệ ít nhất (9,1%)

Bảng 5 Phía tổn thương thể hang

Phía tổn thương thể hang Tần số Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ tổn thương rách bao trắng phía bên (P)

chiếm tỷ lệ gần tuyệt đối (81,8%), chỉ có 18,2%

rách bao trắng thể hang bên (T)

Bảng 6 Máu tụ cạnh tổn thương

Máu tụ Tần số Tỷ lệ (%)

Trong bao trắng 9 81,8 Ngoài bao trắng 9 81,8

Cả trong và ngoài bao trắng 7 63,6 Máu tụ ra ngoài mạc Buck 1 9,1

Trong nghiên cứu này, không có BN nào có tổn thương thể xốp và niệu đạo Nghiên cứu cũng không cho thấy BN có tổn thương động mạch hang Vận tốc đỉnh tâm thu của động mạch hang lân cận tổn thương PSV trung bình là 14,13cm/s

So sánh kết quả trên Siêu âm Doppler màu với phẫu thuật

Bảng 7 Đối chiếu có tổn thương rách bao trắng trên

SA với PT

PT SIÊU ÂM

Vỡ bao trắng

Tổng

Có Không

Nhận xét: Độ nhạy (Sn) = 10/10= 100%; Độ chính xác (Acc) = (10+0)/11= 90,9%

Bảng 8 Đối chiếu Vị trí tổn thương trên Siêu âm với

phẫu thuật

1/3 Trên 1/3 Giữa 1/3 Dưới

Nhận xét: Gãy dương vật xuất hiện chủ yếu

đoạn 1/3 giữa, 1/3 trên và ít nhất là đoạn 1/3 dưới Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê khi đối chiếu vị trí tổn thương trên siêu âm so với phẫu thuật (p<0,001)

Bảng 9 Đối chiếu phía tổn thương u trên Siêu âm

với phẫu thuật

PT Siêu âm Bên P Bên T Tổng

Trang 4

Độ nhạy (Sn) = 10/10= 100%

Độ đặc hiệu (Sp) = 2/2=100%

Độ chính xác (Acc) = (8+2)/10= 100%

BÀN LUẬN

Tuổi và giới

Nghiên cứu cho giới Nam Trong nghiên cứu

chúng tôi, tuổi trung bình là 29,5 Y văn chưa đề

cập đến nhóm tuổi trong bệnh lý này Nizamani

báo cáo một trường hợp gãy dương vật 23

tuổi(13) Buyukkaya báo cáo một trường hợp 32

tuổi(2) Raheem có nghiên cứu 12 BN gãy dương

vật với độ tuổi trung bình là 32,3 tuổi Reis với 28

BN có độ tuổi trung bình là 34,5(15) Zare với 25

BN có độ tuổi trung bình là 28 tuổi(18) Nghiên

cứu của chúng tôi phù hợp với Zare nhất Nói

chung cũng gần phù hợp với kết quả của các tác

giả khác, là nhóm tuổi tương đối trẻ

Bệnh sử

Y văn đề cập đến tình trạng bệnh lý thường

xảy ra liên quan đến hành động giao hợp, bẻ

dương vật lúc cương, thủ dâm và té ngã lăn tròn

xuống giường gây gãy dương vật Nghiên cứu

của chúng tôi có nhóm “trong lúc giao hợp”

chiếm tỷ lệ cao nhất là 7 BN (63,6%), tiếp đến là

nhóm “bẻ dương vật lúc cương” với 4 BN

(36,4%), không có BN nào trong nhóm còn lại

Nghiên cứu của Reis trên 28 BN gãy dương vật

có kết quả nhóm “giao hợp tình dục” cũng

chiếm tỷ lệ cao nhất 76,2%, tiếp đến là nhóm “bẻ

dương vật lúc cương” với 14%(14) Raheem với 12

BN gãy dương vật có kết quả nhóm “giao hợp

tình dục mạnh mẽ” chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều

91%, tiếp đến là “bẻ cong dương vật với lực

mạnh” là 9%(15) Mahapatra cũng có kết quả

nhóm “giao hợp qua đường âm đạo” chiếm tỷ lệ

cao 50% trong nghiên cứu 20 BN gãy dương

vật(8) Như vậy kết quả của chúng tôi cũng phù

hợp với các tác giả khác Mặc dù có có khác nhau

về tỷ lệ nhưng tỷ lệ thứ tự các nguyên nhân là

giống nhau

Y văn cũng như các nghiên cứu của nhiều tác giả luôn đề cập đến tình trạng dương vật lúc cương thẳng có nguy hiểm gãy dương vật tăng lên rất nhiều do lúc này bao trắng thể hang thực chất dãn và mỏng nhiều Yếu tố thuận lợi có thể

là xơ cứng sợi thể hang và niệu đạo mãn tính

Triệu chứng lâm sàng

Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ cao của các triệu chứng lâm sàng: đau dương vật, tiếng

“crack” sau chấn thương, Sưng dương vật, mất cương nhanh, tụ máu “hình ảnh trái cà tím” Chỉ

có một trường hợp tụ máu nhẹ hai bìu nhưng không tụ máu trải rộng đến vùng trên mu, hội

âm và không có trường hợp nào BN có máu ở khe niệu đạo, bí tiểu hoặc khó tiểu, tức là những

BN nặng hơn có triệu chứng liên quan đến tổn thương mạc Buck hoặc liên quan đến tổn thương thể xốp, niệu đạo…Nghiên cứu hồi cứu trên 246

BN (từ năm 1985 đến 2012) gãy dương vật của Raheem và cs với mục đích nghiên cứu ảnh hưởng chức năng và tình dục ở nhóm BN gãy dương vật có vỡ niệu đạo, trong đó chỉ có 12 trường hợp tổn thương niệu đạo(14)

Đặc điểm hình ảnh siêu âm của gãy dương vật

Theo y văn, siêu âm cho thấy chính xác vị trí rách như là một sự gián đoạn đường phản âm bao trắng Theo nghiên cứu của chúng tôi, chiều dài đường mất liên tục này hay đổi theo từng BN, giá trị trung bình là 7,9 mm Trong nghiên cứu Zare trên 25 BN, chiều dài trung bình là 13,5 ± 3,95

mm(18) Mustapha lai thống kê chiều dài của vết rách dương vật theo nhóm trong tổng số 28 BN nghiên cứu của ông, đó là rách từ 0,5-1 cm chiếm 35,7%, từ 1-2 cm chiếm 35,7%, từ 2-3 cm chiếm tỷ

lệ 28,5%(12) Nói chung là trong cả hai nghiên cứu cho thấy đường rách bao trắng có chiều dài lớn hơn nhiều so với chiều dài trong nhóm của chúng tôi Có thể lý giải điều này do độ mạnh lực tác động vào dương vật của các BN trong nghiên cứu nước ngoài hơn các BN trong nước

Trang 5

Vị trí tổn thương

Theo Avery và cs, Siêu âm có thể dễ dàng

tiếp cận và mô tả chính xác giải phẫu bình

thường, bản chất và mức độ tổn thương dương

vật Siêu âm cũng có thể mô tả chính xác vị trí

của rách nhìn thấy như là sự gián đoạn của bao

trắng, đó là phát hiện một đường phản âm kém

thể hiện sự mất liên tục của đường phản âm dày

bao trằng có thể nhìn thấy tụ máu trong và

ngoài bao trắng, khảo sát tổn thương niệu đạo

bằng các dấu hiệu trực triếp và gián tiếp(1)

Harbiyeli cũng có kết quả cho thấy kiểm tra siêu

âm cho thấy vị trí vỡ thể hang chính xác(6)

Nghiên cứu chúng tôi trong 11 trường hợp

gãy dương vật đoạn 1/3 trên (phía gốc) là 36,4%,

1/3 giữa 54,5%, 1/3 dưới 9,1%; có tỷ lệ gãy rách

bên (P) là 9 BN (81,8%), bên (T) là 2 BN (18,2%)

Nghiên cứu của Wani trong 57 BN gãy

dương vật cho thấy tỷ lệ BN gãy 1/3 trên là

63,4%, 1/3 giữa là 30,76%, 1/3 dưới là 5,76%,

rách bên (P) là 32,6%, rách bên T là 53,8%, rách

mặt trước là 13,4%, không có BN nào rách ở

mặt sau(17)

Nghiên cứu của Harbiyeli với 24 BN, gãy 1/3

dưới dương vật chiếm tỷ lệ là 10%, 1/3 giữa là

27%, 1/3 trên là 43%(6)

Zare với nghiên cứu 28 BN có tỷ lệ gãy thân

dương vật 1/3 giữa là 60%(18)

Mustafa với nghiên cứu 28 BN, gãy bên (T) là

50%, bên (P) là 46,5%, cả hai bên là 3,5%(12)

Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các

nghiên cứu khác về tỷ lệ chiếm đa số là 1/3 giữa

và 1/3 trên, 1/3 dưới chiếm ít nhất ít gặp Tỷ lệ

giữa rách bên (P) và bên (T) bao trắng thể hang

chưa thống nhất giữa các nghiên cứu

Nếu rách mạc Buck, sự thoát mạch của máu

và hoặc nước tiểu có thể trải rộng đến bìu, vùng

trên mu và hội âm Cho thấy mẫu bầm tím hình

“cánh bướm” Nếu mạc Buck vẫn còn nguyên

vẹn, máu thoát mạch đi vào giữa da và thành

phần mạc của bao trắng gây nên tụ máu dẫn đến

biến dạng đặc trưng hình “trái cà tim” Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 9 BN (81,8%) tụ máu trong bao trắng, 9 Bn (81,8%) tụ máu ngoải bao trắng, 7 (63,6%) BN tụ máu cả trong và ngoài bao trắng, 1 Bn (9,1%) tụ máu ra ngoài mạc Buck Những trường hợp báo cáo từng cas riêng lẻ của các tác giả Shariak M, Gupta N., Buyukkaya, Nizamani, Trọng NQ(2,3,5,12) đều cho thấy siêu âm

có thể phát hiện chính xác máu tụ trong và ngoài thể hang và ra ngoài mạc Buck, trong BN gãy dương vật Nghiên cứu của Iriondo và cs với nghiên cứu 11 BN gãy dương vật thì SA có thể phát hiện tụ máu trong và ngoài bao trắng lên đến 10/11 BN (90,9%)(7)

Hình 1 BN Lê Văn H, 1990, Rách bao trắng thể hang

P đoạn 1/3 giữa dương vật

Hình 2 BN Nguyễn Minh T, 1976, Gãy cạnh P bao

trắng thể hang đoạn 1/3 trên DV

Trang 6

Xác định giá trị của siêu âm trong chẩn đoán

gãy dương vật

So sánh kết quả siêu âm với phẫu thuật:

Theo Y văn, siêu âm có thể xác định chính xác vị

trí rách bao trắng thể hang cũng như khối máu

tụ kết hợp Nghiên cứu của chúng tôi trên 11 BN

cho thấy siêu âm có thể xác định vỡ bao trắng

với độ nhạy Sn 100%, độ chính xác 90,9%

Nghiên cứu cũng cho thấy siêu âm có khả năng

xác định chính xác phía bao trắng bị tổn thương

với độ nhạy Sn 100%, độ đặc hiệu 100% và độ

chính xác 100% Tác giả Iriondo và cs cũng với

nghiên cứu 11 BN gãy dương vật cho kết quả với

độ nhạy 85%, giá trị tiên đoán dương tính 85%(9)

Nghiên cứu Zare MM với 25 BN cho thấy kết

quả phát hiện gãy dương vật của Siêu âm là 88%

và có độ chính xác cao là 81% trong công việc

“vẽ bản đồ” gãy dương vật trong sửa chữa ngoại

khoa Tác giả có kết luận phương thức siêu âm

rất hữu ích trong chẩn đoán gãy dương vật,

trong đó xét đến phương diện giá cả và cách tiếp

cận dễ dàng của siêu âm, khuyến cáo siêu âm

nên là phương tiện đầu tiên cho việc chẩn đoán

và vẽ bản đồ trước phẫu thuật(18)

KẾT LUẬN

Siêu âm Doppler màu là phương thức hình

ảnh tốt để phát hiện sự hiện diện và vị trí của

rách vỡ bao trắng (gãy dương vật) Nó cũng có

thể giúp chẩn đoán chính xác trong những

trường hợp khó với bệnh sử và triệu chứng

không điển hình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

emergencies Radiographics RSNA; 33: 721-740

color-Doppler in the emergency diagnosis of acute penile fracture Med ultason; 16 (1): 67: 69

diagnosis and management of penile trauma Journal of ultrasound; 19 (3), pp 161-166

4 Gilbert BR et al (2015) Penile ultrasound In: Ultrasound of the male genitalia, pp 125-144 Springer

androl Urol; 15:22-30

fractures: A single center series Open journal of urology; 7:

31-39

1-13

In: Lê Văn Cường Giải phẫu học sau đại học, tr.703-711 Nhà

xuất bản Y học

kidney cancer” Can urol Assoc 5(3), 195-203

In: Nguyễn Quang Quyền Bài giảng giải phẫu học, tr 246-49

Nhà xuất bản Y học

and penis AJR; 202: W512-520

fracture Journal of the college of phycisians and surgeon; 25(2): S84-S85

ultrasonography Austin journal of urology; 3 (3): 1050

15 Shariat M et al (2008) Role of ultrasound aid of a case of penile fracture E-medical journal; 9 (3): 158-62

penile fractures Journal of clinical and diagnotic research; Vol 9(4): TCO1-TCO3

trauma Journal of ultrasound medicine; 24 (7): 993-1000

resonance imaging (MRI) in penile fracture mapping for modified surgical repair Urol Neprol; 49(6): pp 937-945

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 11/12/2017 Ngày bài báo cáo được đăng: 25/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w