Nghiên cứu nhằm tìm hiểu động lực cai thuốc lá của người bệnh động mạch vành và các yếu tố liên quan để có những cơ sở tư vấn giáo dục sức khỏe phù hợp giúp người bệnh cai thuốc lá thành công.
Trang 1ĐỘNG LỰC CAI THUỐC LÁ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH
Lê Thị Nhung*, Jane Champion**, Trần Thiện Trung***
TÓM TẮT
Mở đầu: Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn mạch vành Việc cai thuốc lá ở người
bệnh động mạch vành sau đặt stent là bắt buộc để tránh nguy cơ tắc nghẽn dẫn đến tái hẹp Nghiên cứu nhằm tìm hiểu động lực cai thuốc lá của người bệnh động mạch vành và các yếu tố liên quan để có những cơ sở tư vấn giáo dục sức khỏe phù hợp giúp người bệnh cai thuốc lá thành công
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 384 người bệnh có chẩn đoán bệnh động mạch
vành và có hút thuốc lá đang theo dõi tái khám tại phòng khám Tim mạch can thiệp của bệnh viện Nhân dân Gia Định từ thời gian tháng 01/2018 đến tháng 05/2018
Kết quả: Trong số 384 người bệnh động mạch vành được nghiên cứu có 100% là nam giới với độ tuổi trung
bình là 58,9 + 9,5 Tỷ lệ người bệnh có động lực cai thuốc lá là 83,3% (320/384) Những yếu tố liên quan đến động lực cai thuốc lá của người bệnh có ý nghĩa thống kê là tình trạng hôn nhân, số điếu hút hàng ngày và mức
độ lo lắng về bệnh
Kết luận: Nghiên cứu đã mô tả được tình hình cai thuốc lá của người bệnh động mạch vành và các yếu tố
liên quan, điều này có ý nghĩa trong công tác tư vấn giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế nhằm giúp cho người bệnh cai thuốc lá được thành công hơn
Từ khóa: Bệnh động mạch vành, hút thuốc lá, động lực, cai thuốc lá
ABSTRACT
MOTIVATION FOR SMOKING CESSATION AMONG PATIENTS WITH CORONARY HEART
DISEASE
Le Thi Nhung, Jane Champion, Tran Thien Trung
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 5- 2018: 165-172
Objectives: Cigarette smoking is a risk factor for coronary heart disease . Smoking cessation in patients with coronary artery disease after stent placement is mandatory to avoid the risk of blockage The study aimed to investigate the motivation of patients and related factors to have suitable health education counseling to help them with successful smoking cessation
Methods: A cross – sectional study was conducted on 384 patients with coronary artery disease who were
undergoing follow – up visits at the intervention cardiology clinic of the Gia Dinh People’s Hopital from January
to May in 2018
Results: A total of 384 patients with coronary artery disease were studied 100% were men with an average
age of 58.9 + 9.5 The rate of patients had motivation to quit smoking is 83.3% (320/384) Factors related with the motivation to quit smoking of coronary artery patients were statistically significant that marital status, number of cigarettes smoked daily and anxiety levels about disease
Conclusions: The study described the smoking cessation status of patients with coronary artery disease and
related factors, which is significant in counseling the health education of health care workers to help the patients quit smoking will be more successful
*Phòng Điều Dưỡng – bệnh viện Nhân dân Gia Định TPHCM
*Trường Đại học Bắc Colorado – Hoa Kỳ, ***Trường Đại học Y dược TPHCM
Trang 2Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 166
Keywords: Coronary heart disease, smoking, cessation, motivation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân gây tử
vong hàng đầu trên thế giới, theo Tổ chức y tế
thế giới mỗi năm có khoảng 17,5 triệu người chết
do bệnh tim mạch và các biến chứng của nó
chiếm khoảng 31% các trường hợp tử vong(4) Có
nhiều yếu tố nguy cơ thúc đẩy tiến triển của
bệnh lý tim mạch, trong đó thuốc lá là một yếu
tố nguy cơ có mối liên quan mạnh đến bệnh lý
tắc nghẽn mạch vành(2) Các nghiên cứu về động
lực cai thuốc lá trong và ngoài nước cho thấy
phần lớn người bệnh ý thức được tác hại của
thuốc lá và có dự định cho việc cai thuốc lá, tuy
nhiên tỉ lệ cai thuốc thất bại vẫn rất cao
Đối với những người bệnh động mạch
vành sau đặt stent việc cai thuốc lá là chỉ định
bắt buộc nhằm hạn chế nguy cơ tái hẹp(10)
Nghiên cứu nhằm tìm ra các đặc điểm hút
thuốc lá của người bệnh và các yếu tố liên
quan đến động lực cai thuốc lá để giúp nhân
viên y tế có thêm cơ sở đưa ra những nội dung
tư vấn cai nghiệnthuốc lá phù hợp
Mục tiêu nghiên cứu
Mô tả các đặc điểm hút thuốc lá của người
bệnh động mạch vành
Xác định tỉ lệ người bệnh động mạch vành
có động lực cai thuốc lá
Xác định các yếu tố liên quan đến động lực
cai thuốc lá của người bệnh
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh động mạch vành tái khám tại
phòng khám Tim mạch can thiệp bệnh viện
Nhân dân Gia Định từ tháng 01/2018 - 05/2018
Cỡ mẫu:
N= 384
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh động mạch vành sau đặt stentcó mã
ICD là I.25
Đang sử dụng thuốc lá
Tiêu chí loại ra
Nguy cơ xảy ra đột quỵ tại thời điểm trước thực hiện cuộc khảo sát (xác định bằng cách lấy dấu sinh hiệu và nhận định tình trạng của người bệnh tại phòng khám)
Tri giác không tỉnh táo, không đủ nhận thức
để thực hiện bộ câu hỏi
Định nghĩa biến số
Trong nghiên cứu của chúng tôi biến số kết cục (biến phụ thuộc) là động lực cai thuốc lá (biến nhị giá) được xác định dựa vào câu hỏi:
"Ông/Bà đang nghĩ gì về việc cai thuốc lá?" Với 4 mức độ trả lời:
1 Tôi không nghĩ đến việc cai thuốc lá
2 Tôi nghĩ nên cai thuốc lá nhưng tôi chưa hoàn toàn sẵn sàng
3 Tôi bắt đầu suy nghĩ đến việc sẽ thực hiện cai thuốc lá
4 Tôi đang chuẩn bị cho việc cai thuốc lá của mình
Để xác định người bệnh có động lực cai thuốc lá đánh giá vào việc người bệnh chọn câu trả lời (3) hoặc (4), nếu chọn câu (1) hoặc (2) xem như người bệnh không có động lực để cai thuốc
lá Vì động lực là xuất phát từ bên trong và có động cơ thúc đẩy dẫn đến hành động, do đó khi xác định một người đang có động lực là dựa vào việc họ đang có dự định hành động để thay đổi hành vi hoặc để đạt được mục tiêu nào đó(11)
Thu thập dữ liệu
Đối tượng đủ tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào nhóm nghiên cứu và được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi tự điền gồm 50 câu với Cronbach’s alpha là 0,78 Số liệu được nhập và
xử lý bằng phần mềm SPSS 22 Kết quả nghiên cứu được trình bày theo tần số, tỷ lệ phần trăm (biến định tính), giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (biến định lượng) Đánh giá mối liên quan giữa động lực cai thuốc lá (biến nhị giá) với các yếu tố liên quan sử dụng kiểm định Chi bình
Trang 3phương Mối liên quan có ý nghĩa thống kê khi p
< 0,05 tại khoảng tin cậy 95%
KẾT QUẢ
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2018
đến 05/2018 tại phòng khám Tim mạch can thiệp
bệnh viện Nhân dân Gia Định có 384 người bệnh
tham gia nghiên cứu Kết quả nghiên cứu 100%
là nam giới, trong đó có 96,6% (371/384) người
bệnh ở thành thị Tuổi trung bình là 58,9 + 9,5,
tuổi thấp nhất là 33 tuổi và cao nhất là 88 tuổi
Trình độ học vấn chủ yếu là cấp 3 chiếm 36,5%
(140/384) và trung cấp nghề chiếm 28,9%
(111/384) Đa số đối tượng đã kết hôn và đang
sống chung với vợ với tỷ lệ 95,6% (367/384)
Trong số đối tượng tham gia nghiên cứu có
22,4% (86/384) là cán bộ hưu trí và làm nghề tự
do chiếm 55,5% (213/384) Tỷ lệ không có thu
nhập hàng tháng chiếm 54,2% (208/384), trong
đó 97,4% (374/384) gia đình không phải hộ
nghèo và đa số đều có BHYT chiếm 94,8%
(364/384)
Đặc điểm về hút thuốc lá
Bảng 1 Đặc điểm hút thuốc lá
Đặc điểm Trung
bình
Độ lệch chuẩn
Cao nhất
Thấp nhất
Nhận xét: Trong 384 người bệnh tham gia
nghiên cứu, số gói thuốc lá hút trung bình là 21 +
15,7 gói/năm, người hút ít nhất là 1,4 gói/năm và
cao nhất là 94 gói/năm Tuổi hút thuốc lá trung
bình là 18,36 + 3,4 trong đó số tuổi hút sớm nhất
là 13 tuổi lớn nhất là 35 tuổi Số năm hút thuốc lá
trung bình là 49,5 + 10,3 trong đó thấp nhất là 8
năm và cao nhất là 72 năm
Bảng 2 Phân loại mức độ nghiện theo thang điểm
Fagerstrom thu gọn
Nhận xét: Trong 384 người bệnh tham gia
nghiên cứu có 4,6% (18/384) người bệnh nghiện thuốc lá ở mức độ nặng, còn lại chủ yếu nghiện
ở mức độ nhẹ và vừa
Kiến thức về tác hại của thuốc lá
Bảng 3 Kiến thức về tác hại của thuốc lá
Đặc điểm Tần suất Tỷ lệ %
Khói thuốc lá có ảnh hưởng đến sức khoẻ
Hút thuốc lá thụ động
có hại cho sức khoẻ
Hút thuốc lá có lợi cho sức khoẻ không
Thuốc lá có đầu lọc
an toàn hơn không
Nhận xét: Trong 384 người bệnh tham gia
nghiên cứu có 97,4% (374/384) có biết khói thuốc
lá có hại cho sức khoẻ, tuy nhiên có 8,1% người bệnh cho rằng hút thuốc lá thụ động không có hại và 2,1% trả lời không biết 26% (100/384) người bệnh cho rằng hút thuốc lá cũng có lợi cho sức khoẻ và 40,1% (154/384) cho rằng thuốc lá đầu lọc an toàn hơn loại không có đầu lọc
Công tác tư vấn giáo dục sức khoẻ của nhân viên y tế
Bảng 4 Công tác tư vấn giáo dục sức khoẻ cho người bệnh
Đặc điểm Tần suất Tỷ lệ %
Được NVYT cung cấp thông tin đầy đủ về bệnh
Được NVYT khuyên CTL
Nhận lời khuyên CTL từ NVYT
Các nguồn thông tin về tác hại của thuốc lá
Tạp chí, áp phích trong bệnh viện 205 53,4
Có biết đường dây nóng tư vấn cai nghiện miễn phí
Trang 4Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 168
Đặc điểm Tần suất Tỷ lệ %
Có biết BV Nhân Dân Gia Định có phòng khám tư vấn cai
nghiện thuốc lá
Nhận xét: 99,2% (381/384) người bệnh được
cung cấp đầy đủ thông tin về bệnh và 99%
(380/384) được nhân viên y tế khuyên cai thuốc
lá trong đó chủ yếu là từ bác sĩ chiếm 98,4%
(377/384) và điều dưỡng là 84,3% (232/384) Có
94% (361/384) người bệnh biết đến tác hại của
thuốc lá chủ yếu từ các nguồn phương tiện
truyền thông, 63% (242/384) biết từ nhân viên y
tế 57,6% (221/394) người bệnh chưa biết có
đường dây nóng tư vấn cai nghiện miễn phí và
31,8% (122/384) người bệnh chưa biết tại bệnh
viện Nhân dân Gia Định có phòng khám tư vấn
cai nghiện thuốc lá
Các vấn đề liên quan đến việc cai thuốc lá của người bệnh
Bảng 5 Các vấn đề liên quan đến việc cai thuốc lá
Đặc điểm Tần suất Tỷ lệ %
Bệnh lựa chọn cho động lực để cai thuốc lá
Cơn đau tim (bệnh động mạch vành) 207 53,9
Đột quỵ (tai biến mạch máu não) 34 8,9
Chọn phương pháp hiệu quả nhất để cai thuốc lá
Nhờ vào sự quyết tâm của bản thân 286 74,5
Không có biện pháp nào hiệu quả 37 9,6
Lựa chọn các biện pháp cai thuốc lá
Dùng các dược phẩm tha thế nicotin 86 22,4
Yếu tố cản trở đến việc cai thuốc lá
Mất tập trung trong công việc 252 65,8
Nhận xét: Bệnh lý liên quan đến hút thuốc lá
mà người bệnh chọn làm động lực để cai thuốc
lá đó là bệnh động mạch vành chiếm 53,9% (207/384) và ung thư phổi là 36,2% (139/384) Có 74,5% (286/384) cho rằng phương pháp hiệu quả nhất để cai thuốc lá là nhờ vào sự quyết tâm của bản thân, 10,7% (41/384) chọn điều trị theo bác sĩ
và 9,6% (37/384) người bệnh cho rằng không có biện pháp nào hiệu quả Bên cạnh đó có 68,2% (262/384) người bệnh chọn sự hỗ trợ từ nhân viên y tế để cai thuốc lá và 74,5% (286/384) chọn
sự hỗ trợ từ người thân, 44,3% (170/384) chọn biện pháp tự cai Các yếu tố cản trở cho việc cai thuốc lá của người bệnh đó là cảm giác mệt mỏi, bức rứt chiếm 85,1% (326/384), mất tập trung là 65,8% (252/384) và mất ngủ 35,8% (137/384)
Các yếu tố liên quan đến động lực cai thuốc lá của người bệnh
Bảng 6 Các yếu tố liên quan đến động lực cai thuốc lá
Đặc điểm
Có động lực
Không có động lực Tổng P
Tổng 320 83,3 64 16,7 384 100
Tình trạng hôn nhân
<0,01
Đã kết hôn/sống với
vợ
310 80,7 57 14,8 367 95,5 Sống
thử/không kết hôn
Goá
Số điếu thuốc hút/ngày
<10 168 43,7 25 6,5 193 50,3
0,04
10 – 20 83 21,6 19 4,9 102 26,6
Mức độ lo lắng về bệnh Hoàn toàn
không lo lắng 20 5,2 7 1,8 27 7
<0,01 Không lo lắng 85 22,1 19 4,9 104 27 Hơi lo lắng 189 49,2 24 6,2 213 55,6 Rất lo lắng 26 6,7 14 3,6 40 10
Nhận xét: Trong 384 đối tượng tham gia
nghiên cứu có 83,3% (320/384) có động lực cai thuốc lá, nghiên cứu tìm thấy mối liên quan có
Trang 5ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa động lực cai
thuốc lá với các yếu tố như tình trạng hôn
nhân, số điếu thuốc lá hút hàng ngày và mức
độ lo lắng về bệnh
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi đối tượng
tham gia nghiên cứu 100% là nam, độ tuổi trung
bình là 58,9 + 9,5 Kết quả này tương đương với
nghiên cứu của Rifai M(14) (2017) về mối liên
quan giữa thuốc lá và tổn thương mạch vành là
58 tuổi và lớn hơn so với nghiên cứu của Trần
Xuân Bách(15) là 36,5 Trong nghiên cứu này
nhóm tuổi trung niên chiếm đa số (58,6%), đây là
nhóm lao động chủ lực nhưng chiếm tỷ lệ mắc
bệnh cao nhất do đó ít nhiều sẽ ảnh đến kinh tế
gia đình Ngoài ra, 54,2% người bệnh không có
thu nhập, nghề nghiệp chủ yếu là nghề tự do,
trình độ đa số là cấp 3 và trung cấp nghề, những
yếu tố này cho thấy sẽ tạo gánh nặng cho gia
đình khi có người thân mắc bệnh Bên cạnh đó
hàng tháng người bệnh còn tốn thêm chi phí cho
tiền hút thuốc lá, mặc dù nghiên cứu này chưa
tìm hiểu được khoản chi từ việc hút thuốc lá của
người bệnh sẽ chiếm bao nhiêu phần trăm tổng
số chi tiêu của gia đình nhưng theo thống kê của
Trung tâm điều tra tình hình sử dụng thuốc lá ở
người trưởng thành thì tỷ lệ này chiếm từ 5 -
10% tổng số chi tiêu của hộ gia đình, do đó
người bệnh có hút thuốc lá là nhóm đối tượng
cần được quan tâm giúp đỡ để giảm được bệnh
tật và bỏ được thuốc lá để cân bằng nguồn chi
cho gia đình và giảm gánh nặng cho gia đình và
xã hội Đặc điểm nơi sinh sống, có 96,6% người
bệnh ở thành thị, đây cũng là điều kiện thuận lợi
để người bệnh đến khám và chữa bệnh tại các cơ
sở y tế có quy mô lớn, đặc biệt đối với bệnh lý
mạch vành có can thiệp cần phải được tái khám
định kỳ và theo dõi chặt chẽ Đa số người bệnh
động mạch vành tái khám tại bệnh viện Nhân
dân Gia Định có tham gia bảo hiểm y tế tỷ lệ là
94,8%, vì vậy sẽ giảm được chi phí khám chữa
bệnh, đồng thời cho thấy bảo hiểm y tế ngày
càng có giá trị phúc lợi xã hội, đặc biệt là với đối
tượng mắc bệnh lý mạn tính nguy hiểm như tim
mạch Tuy nhiên vẫn có một bộ phận nhỏ đối tượng không có bảo hiểm y tế (5,2%) và có 2,6%
là hộ nghèo Do đó cần thiết phải có chính sách
để hỗ trợ những đối tượng này tham gia đầy đủ bảo hiểm y tế nhằm thực hiện theo chủ trương của nhà nước là mọi người dân được thụ hưởng công bằng các dịch vụ y tế
Đặc điểm về hút thuốc lá của người bệnh trong bảng 1 cho thấy tuổi trung bình bắt đầu hút thuốc lá là 18,3 + 3,4 năm, kết quả tương đồng với nghiên cứu của Trần Xuân Bách (17,2 + 3,5), tuy nhiên thời gian hút thuốc lá ở nghiên cứu này là 49,5 + 10,3 năm, cao hơn rất nhiều so với Trần Xuân Bách (14,1 +8,5) Điều này có thể
lý giải do độ tuổi người bệnh tim mạch lớn hơn
so với đối tượng nghiện ma tuý Trung bình đối tượng nghiên cứu hút 21 + 15,7 gói thuốc lá trong 1 năm, người hút ít nhất lá 1,4 gói/năm và cao nhất là 94 gói/năm,kết quả này thấp hơn so với nghiên của của Lê Khắc Bảo(12) thực hiện trên đối tượng người bệnhviêm phổi tắc nghẽn mạn tính với 37,5 gói/năm Kết quả cho thấy người bệnh động mạch vành có thời gian hút thuốc lá dài hơn nhưng tần suất hút lại thấp hơn so với đối tượng nghiện ma tuý và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Ngoài ra chúng tôi cũng tính toán được điểm Fagerstrom thu gọn ở đối tượng bệnh động mạch vành là 2,6 điểm, kết quả này thấp hơn so với Lê Khắc Bảo(12) ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 4,7 Chúng tôi ghi nhận được mức độ nghiện thuốc lá của người bệnh ở bảng
2, trong đó có 46,6% người bệnh nghiện ở mức
độ nhẹ, 48,6% nghiện mức độ trung bình và chỉ
có 4,6% nghiện nặng Như vậy, cho thấy ở đối tượng người bệnh động mạch vành tỷ lệ nghiện chủ yếu ở mức độ nhẹ và trung bình, do đó việc tác động để người bệnh cai được thuốc lá thành công là hoàn toàn có thể
Kiến thức về tác hại của thuốc lá được chúng tôi ghi nhận kết quả ở bảng 3 Qua đó cho thấy không ít người bệnh có kiến thức sai lầm về tác hại của thuốc lá, cụ thể có 8,1% người bệnh cho rằng hút thuốc lá thụ động không có hại và 40,1% cho rằng hút thuốc lá
Trang 6Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 170
đầu lọc an toàn hơn Theo tài liệu của Bộ Y tế
về Cẩm nang cai nghiện thuốc lá thì không có
loại thuốc lá nào gọi là an toàn, kể cả thuốc có
đầu lọc hay thuốc lá loại nhẹ dành cho nữ Do
đó trong công tác truyền thông về tác hại của
thuốc lá cần bổ sung nội dung này rõ ràng để
người dân có kiến thức đúng về tác hại của
thuốc lá
Công tác tư vấn giáo dục sức khoẻ là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của nhân viên
y tế, về vai trò điều dưỡng nhiệm vụ này được
quy định cụ thể trong Thông tư 07/2011/TT-
BYT(5) về việc “Hướng dẫn công tác điều dưỡng
về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” Kết
quả nghiên cứu ở bảng 4 có 99,2% người bệnh
được cung cấp đầy đủ thông tin về bệnh, 99,9%
được nhận viên y tế khuyên cai thuốc lá và nhận
lời khuyên từ bác sĩ (98,4%), điều dưỡng (84,3%)
Qua kết quả này cho thấy công tác tư vấn, giáo
dục sức khoẻ của nhân viên y tế bệnh viện đã
thực rất rốt, cụ thể là ở khoa Tim mạch can thiệp
Đặc biệt trong nghiên cứu này cho thấy vai trò
của điều dưỡng đã được người bệnh ghi nhận
gần như ngang với bác sĩ, tuy nhiên điều dưỡng
cần phát huy tốt hơn vai trò của mình để kết quả
đạt tối ưu hơn Nguồn phương tiện truyền thông
đã giúp cho người bệnh biết được thông tin về
tác hại của thuốc lá (94%) điều này hoàn toàn
phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội
Nhưng lại có 57% người bệnh chưa biết có
đường dây nóng tư vấn cai nghiện miễn phí của
Bộ Y tế và 31,8% người bệnh chưa biết tại bệnh
viện Nhân dân Gia Định có phòng khám tư vấn
cai nghiện thuốc lá Tuy nhiên chất lượng kiến
thức từ phương tiện truyền thông đặc biệt là
internet không hoàn toàn đảm bảo tính chính
xác tuyệt đối, vì vậy đối với người bệnh đã và
đang điều trị tại các cơ sở y tế cần thiết phải
được nhân viên y tế tư vấn và chia sẻ kiến thức
phù hợp Ngoài ra, Bộ Y tế đã triển khai đường
dây nóng tư vấn cai nghiện thuốc lá miễn phí ở
các khu vực trên toàn quốc, cụ thể ở phía bắc có
bệnh viện Bạch Mai (năm 2015), bệnh viện Phổi
Trung Ương, bệnh viện Ung Bướu hà Nội, Miền
Trung có bệnh viện Trung Ương Huế và miền Nam có bệnh viện Nhân Dân Gia Định (2016) nhưng thực tế hoạt động của đường dây nóng cai nghiện thuốc lá chưa thật sự phổ cập đến toàn dân Do đó cần triển khai thêm những chương trình tuyên truyền trong cộng đồng về hoạt động này để người dân được cập nhật và có điều kiện tham gia tư vấn và điều trị cai nghiện thuốc lá
Trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận một số vấn đề liên quan đến việc cai thuốc lá của người bệnh ở bảng 5 Bệnh lý liên quan đến hút thuốc lá mà người bệnh chọn làm động lực để cai thuốc lá chủ yếu lá bệnh động mạch vành (53,9%) và ung thư phổi (36,2%), kết quả này không khác nhiều so với tác giả Handa(9) nghiên cứu tại Singapore năm 2011 Mặc dù hút thuốc lá
và ung thư phổi đã được khoa học chứng minh
từ rất lâu và trong nhận thức của người dân thì ung thư phổi luôn gắn liền với hình ảnh điếu thuốc lá Tuy nhiên trong nghiên cứu này người bệnh chọn bệnh mạch vành làm động lực để cai thuốc lá, điều đó cho thấy mức độ nguy hiểm của bệnh động mạch vành nguy hiểm hơn so với ung thư phổi, có lẽ vì tính chất cấp tính của bệnh Khi người bệnh bị đau ngực trong nhồi máu cơ tim cấp, cảm giác đến gần với cái chết là hoàn toàn có thật do đó tâm lý người bệnh sẽ cảm thấy cơn đau tim thật sự rất nguy hiểm 74,5% người bệnh cho rằng phương pháp hiệu quả nhất để cai thuốc lá đó là nhờ vào sự quyết tâm của bản thân nhưng chỉ có 44% người bệnh chọn biện pháp cai thuốc lá là tự cai, điều này cho thấy sự không tự tin vào bản thân để cai nghiện thành công trong khi đó 74,5% người bệnh đặt niềm tin vào sự hỗ trợ của người thân Các tài liệu nghiên cứu đã chứng minh ý chí của người nghiện chính là yếu tố quan trọng để thúc đẩy việc cai nghiện thành công và sự ảnh hưởng của gia đình sẽ giúp cho người nghiện có thêm động lực để cai nghiện(16) Điều đáng lưu ý là có 9,6% người bệnh cho rằng không có biện pháp nào hiệu quả, chứng tỏ đối với họ không có bất
kỳ một phương pháp cai nghiện nào thật sự cần
Trang 7thiết và tối ưu, điều này có khả năng làm cho
người bệnh không quan tâm đến việc cai thuốc
lá do đó nhóm đối tượng này cần được quan
tâm để tư vấn những nguy cơ xảy ra nếu tiếp tục
sử dụng thuốc lá Về các yếu tố cản trở cho việc
cai thuốc lá của người bệnh, 85,1% cho rằng yếu
tố sẽ làm cản trở cho việc cai thuốc lá là cảm giác
mệt mỏi, bứt rứt, 65,8% cho là mất tập trung và
35,8%lo lắng về mất ngủ Kết quả này cũng
tương tự với các nghiên cứu khác và theo tài liệu
y văn những triệu chứng không mong muốn xảy
ra khi cai thuốc lá đó là sự mệt mỏi, mất tập
trung, mất ngủ và trầm cảm Với người sử dụng
thuốc lá thường cho rằng hút thuốc lá sẽ có một
số lợi ích, chủ yếu là giúp tinh thần sảng khoái
và tập trung hơn trong công việc, do đó các vấn
đề nói trên thật sự là rào cản khi người bệnh
thực hiện cai nghiện Nhân viên y tế cần biết rõ
những vấn đề này và khuyến khích các giải
pháp để giúp người bệnh vượt qua những lo
lắng để cai nghiện thành công
Đề cập đến động lực cai thuốc lá của người
bệnh, trong 384 đối tượng bệnh động mạch vành
tham gia nghiên cứu có 83,3% có động lực cai
thuốc lá Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu
của Trần Xuân Bách(15) 48,9% và tương đương
với nghiên cứu của Lê Khắc Bảo(13) là 87% Việc
xác định được tỷ lệ người bệnh động mạch vành
có động lực cai thuốc lá là bước đầu để những
nhà tư vấn cai nghiện thuốc lá hiểu được sự
mong muốn được cai thuốc lá và quyết tâm bản
thân để thực hiện Bên cạnh đó xác định được
các yếu tố liên quan sẽ có thêm cơ sở để tác động
đến đối tượng nhằm thay đổi hành vi Trong
nghiên cứu này chúng tôi đã tìm thấy một số
yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với động
lực động lực cai thuốc lá của người bệnh như
tình trạng hôn nhân, cụ thể tỷ lệ những người đã
kết hôn có động lực cai thuốc lá cao hơn, nhóm
người hút ít hơn 10 điếu/ngày có tỷ lệ động lực
cai thuốc lá cao hơn Nhóm người bệnh có lo
lắng về bệnh có tỷ lệ muốn cai thuốc lá cao hơn
các nhóm khác và trong số những người có động
lực cai thuốc lá tỷ lệ nhóm người có sử dụng cà
phê cao hơn Trong nghiên cứu này không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa độ tuổi và động lực cai thuốc lá
Hạn chế của đề tài
Nghiên cứu chọn lọc đối tượng khu trú bệnh động mạch vành nên chưa đủ cơ sở để khái quát chung cho tất cả các đối tượng có hút thuốc lá Nhóm nghiên cứu thiếu sự linh hoạt trong xác định đối tượng nên có sự chủ quan khi tiếp cận nên đã bỏ sót đối tượng nữ, tuy nhiên thực
tế số lượng người bệnh nữ trong phạm vi nghiên cứu là rất ít nên khó kiểm soát
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu đãmô tả được tình hình cai thuốc lá của người bệnh động mạch vành và các yếu tố liên quan, điều này có ý nghĩa trong công tác tư vấn giáo dục sức khỏe
và tư vấn cai nghiện thuốc lá cho người bệnh
Tỷ lệ người bệnh động mạch vành có động lực cai thuốc lá cao là yếu tố thuận lợi để các nhà
tư vấn cai nghiện thuốc lá có kế hoạch can thiệp để giúp họ thực hiện được việc cai thuốc
lá thành công góp phần làm giảm nguy cơ tái hẹp mạch vành sau can thiệp
Chiến lược Phòng chống tác hại của thuốc
lá thông qua số tổng đài tư vấn cai nghiện miễn phí cần được phát huy hiệu quả hơn để người dân dễ tiếp cận thông tin.Đặc biệt là làm tốt công tác tuyên truyền tác hại thuốc lá tại địa phương để người dân có kiến thức đúng
về tác hại của thuốc lá
TÀI LIỆU THAM KHẢO
e31 -e38
Paradox in Patients Hospitalized with Coronary Artery Disease or Acute Ischemic Stroke: Findings from Get With The
Guidelines" Circ Cardiovasc Qual Outcomes, 8 (6 Suppl 3), S73-80
cessation and outcome in stable outpatients with coronary,
cerebrovascular, or peripheral artery disease" Eur J Prev
Cardiol, 20 (3), 486-95
heart disease incidence and mortality, and all-cause mortality among diabetic and non-diabetic people according to their
smoking behavior in Finland " Tobacco Induced Diseases, doi:
Trang 8Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 172
bệnh trong bệnh viện’’ Thông tư số 07/2011/TT-BYT, ngày 26
tháng 01 năm 2011
and counseling: practices of Canadian physical therapists" Am
J Prev Med, 43 (1), 67-71
Camargo CA (2012) "Motivation rulers for smoking cessation:
a prospective observational examination of construct and
predictive validity" Addict Sci Clin Pract, 7, 8
individual counseling for smoking cessation in smokers with
chronic obstructive pulmonary disease and asymptomatic
smokers" Exp Ther Med, 7 (3), 716-720
"Awareness of blindness and other smoking-related diseases
and its impact on motivation for smoking cessation in eye
patients" Eye (Lond), 25 (9), 1170-6
10 Hoàng Quốc Hòa (2011) Bệnh động mạch vành - chẩn đoán và
điều trị, Nhà xuất bản y học TPHCM, tr 20-28
11 Kohlrieser G (2016) Life skills-fire skills and motivation, First
New, 34-40
12 Lê Khắc Bảo (2006) "Đặc điểm hút thuốc lá của NB COPD đến
khám tại đơn vị hố hấp bệnh viện Đại học Y Dược" Y học
TPHCM, tập 10 (Số 1), 116
13 Lê Khắc Bảo (2006) "Đặc điểm hút thuốc lá của người đến tư vấn cai thuốc lá tại đơn vị chăm sóc hô hấp bệnh viện Đại Học
Y Dược" Tạp chí y học, 10(1): 35-41
14 Rifai AM (2017) "The relationship between smoking intensity and subclinical cardiovascular injury: The Multi-Ethnic Study
of Atherosclerosis (MESA)" Atherosclerosis, 258, 119-130
15 Tran BX, Nguyen LH, Do HP et al (2015) "Motivation for smoking cessation among drug-using smokers under
methadone maintenance treatment in Vietnam" Harm Reduct J,
12, 50
16 Vina Cosh (2015) Hỏi và đáp về Phòng chống tác hại thuốc lá
tại Việt Nam, Nhà xuất bản Hà nội, 40-44
17 World Health Organization (2016) Cardiovascular disease, http://www.who.int/cardiovascular_diseases/en/, accessed on
15 May 2017
18 World Health Organization (2016) Statistics of smoking http://data.worldbank.org/indicator/SH.PRV.SMOK.FE, accessed on 20 May 2017
19 World Heart Federation (WHF) (2017) Cardiovascular disease
http://www.world-heart-federation.org/cardiovascular-health/heart-disease/