1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức, thực hành về phòng chống hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do virus Corona (MERS) và bệnh do virus Ebola (EVD) của nhân viên tại sân bay Tân Sơn Nhất năm 2014

8 164 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 346,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng, thực hành đúng về phòng chống hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do virus Corona và bệnh do virus Ebola vào tháng 12 năm 2014.

Trang 1

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG HỘI CHỨNG

VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP VÙNG TRUNG ĐÔNG DO VIRUS CORONA (MERS) VÀ BỆNH DO VIRUS EBOLA (EVD) CỦA NHÂN VIÊN

TẠI SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT NĂM 2014

Nguyễn Văn Sáu*, Trần Gia Hiệp*,Nguyễn Tuấn Anh*, Mai Văn Ngọc*, Trần Việt Phương*,

Võ Thị Xuân Hạnh**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nhân viên làm việc tại ga đến sân bay quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất là những người đầu tiên

tiếp xúc với hành khách nhập cảnh từ các nước Từ tháng 6 năm 2014, trước tình hình dịch bệnh MERS và Ebola diễn biến bất thường, lan rộng, những nhân viên làm việc tại đây hoàn toàn có thể bị lây nhiễm dịch bệnh

từ hành khách quốc tế nếu họ không có được kiến thức, thực hành đúng

Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài này được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng, thực

hành đúng về phòng chống hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do virus Corona và bệnh do virus Ebola vào tháng 12 năm 2014

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang thực hiện trên toàn bộ nhân viên làm

việc tại ga quốc tế đến sân bay Tân Sơn Nhất có tiếp xúc hành khách nhập cảnh Kiến thức của nhân viên được khảo sát bằng bản câu hỏi soạn sẵn tự điền, thực hành được quan sát thực tế và ghi vào bảng kiểm

Kết quả: 42,9% nhân viên có kiến thức tốt về phòng chống dịch nhưng tất cả các nhân viên được quan sát

thực hành đều có ít nhất một điểm sai trong số các tiêu chí quan sát thực hành là giữ khoảng cách hợp lý hoặc đeo khẩu trang khi đối mặt với khách từ vùng dịch, sử dụng kính ngăn cách khi đối mặt với khách, tháo và bỏ găng tay cao su đã sử dụng đúng cách, thực hành rửa tay bằng xà bông, rửa tay giữa những lần phục vụ khách đặc biệt là hành khách đến từ vùng dịch

Kết luận: Việc có kiến thức, thực hành không đúngsẽ làm tăng nguy cơ bị lây nhiễm của nhân viên khi tiếp

xúc với hành khách từ đó có thể lây lan cho cộng đồng thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu giúp đề xuất những biện pháp can thiệp để nâng cao hiệu quả phòng chống dịch ngay trong đội ngũ nhân viên sân bay

Từ khóa: Kiến thức, thực hành, hội chứng hô hấp vùng Trung Đông, bệnh do virus Ebola, sân bay

ABSTRACT

KNOWLEDGE, PRACTICES INPREVENTING MIDDLE EAST RESPIRATORY SYNDROME CAUSED BY CORONAVIRUS (MERS) AND EBOLA VIRUS DISEASE (EVD) OF THE

INTERNATIONAL TERMINAL EMPLOYEES HAVE EXPOSED PASSENGERS ENTRY ATTAN

SON NHAT AIRPORT IN 2014

Nguyen Van Sau, Tran Gia Hiep,Nguyen Tuan Anh, Mai Van Ngoc, Tran Viet Phuong,

Vo Thi Xuan Hanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 469 - 476

Background: Employees working in international terminal at Tan San Nhat Airport are the first contact

staffs to foreign passengers From Jun 2014, due to the high and widespread risk of MERS and EBOLA epidemic, these employees had potential infection of these diseases from international passengers in case they

* Trung Tâm Kiểm dịch Y tế quốc tế TP Hồ Chí Minh **Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Tác giả liên lạc: BS Trần Gia Hiệp ĐT: 0918190901 Email: hieptg2008@gmail.com

Trang 2

don’t have knowledge and practices to protect themselves and their entourages

Objective: This study aims to define the frequency of employees who had right knowledge and practices in

preventing Middle East respiratory syndrome caused by Corona virus and Eloba virus diseasein December

2014

Method: This is an epidemiology descriptive research to study on all employees who worked in

international terminal at Tan Son Nhat Airport and had contacted to international passengers Their knowledge was studied by a set of self-filled-questionnaire, their practices were observed and recorded on checklist

Results: 42.9% of employees had good knowledge about preventing MERS and EVD All of employees,

who were observed on their practices, had at least one mistake among observed criteria as keeping reasonable distance, wearing mask when contact with passengers from affected area, using partition glasses, taking off and throwing away their gloves in right way, cleaning their hands with soap, cleaning their hands between contacts with passengers, especially passengers came from affected area

Conclusion: Limited on knowledge and wrong practices will increase the infected risks of employees when

they contact their passengers, so that the diseases can spread through out to community in Ho Chi Minh City This research supports proposed solutions to improve the effectiveness ofinfectious disease prevention for employees in airport

Key words: Knowledge, practices, Middle East respiratory syndrome, Ebola virusdisease, Airport

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây dịch bệnh trên

thế giới cũng như ở Việt Nam có xu hướng gia

tăng cả về số lượng, tính chất nguy hiểm và

diễn biến rất phức tạp Đặc biệt xuất hiện một

số dịch bệnh mới như SARS, Cúm A-H5N1,

Cúm A-H1N1, Cúm A-H7N9, MERS-CoV, bệnh

do virus Ebola … là những dịch bệnh có khả

năng gây nguy hiểm cao trong cộng đồng Sự

phát triển của nền kinh tế đất nước trong thời

kỳ hội nhập cùng với quá trình toàn cầu hóa

dẫn đến sự giao thương quốc tế ngày càng gia

tăng giữa các nước trong khu vực và trên thế

giới, là điều kiện thuận lợi để các bệnh truyền

nhiễm có nguy cơ xâm nhập, bùng phát, lan

rộng và kéo dài Một số nước châu Á đã có ca

bệnh xâm nhập như Trung Quốc(12), Thái Lan,

Philippines, thậm chí lây lan trong nước như

Hàn Quốc(13,14) Do vậy, áp lực ngăn chặn lây lan

dịch bệnh tại các cửa khẩu ngày càng tăng Hội

chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông

do virus Corona (MERS) và bệnh do virus Ebola

(EVD) đang là hai bệnh có tính thời sự trong số

các bệnh truyền nhiễm nhóm A đặc biệt nguy

hiểm phải ngăn chặn ngay từ cửa khẩu theo

quy định tại luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm (10) Tính đến tháng 7 năm 2014, trên toàn thế giới đã có 837 ca mắc trong đó ít nhất 291 ca chết do MERS-CoV đã được báo cáo chính thức đến Tổ chức Y tế thế giới (15) Ngoài 8 quốc gia tại Trung Đông, đã có 12 quốc gia khác trên thế giới có bệnh nhân MERS do lây nhiễm từ Trung Đông và bệnh có khả năng lây truyền từ người sang người(2) Về bệnh do Ebola (EVD) thì đến 11/8/2014 đã có 1848 ca mắc, 1013 ca chết (16), tỷ

lệ chết/mắc cao (54,8%)

Tại thành phố Hồ Chí Minh, sân bay Tân Sơn Nhất là cửa khẩu rất quan trọng, hàng năm với khoảng 30.000 lượt máy bay và gần 5 triệu lượt hành khách nhập cảnh từ nhiều nước trên thế giới vừa là cơ hội để phát triển kinh tế thành phố đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm nhập dịch bệnh từ nước ngoài Do đặc điểm di chuyển nhanh chóng của đường hàng không nên hành khách có thể trong vòng vài ngày đã

đi qua nhiều quốc gia trong đó có thể có những quốc gia đang có dịch, bị lây dịch bệnh và mang mầm bệnh đến thành phố Hồ Chí Minh Nhân viên phục vụ hành khách nhập cảnh là những người phải tiếp xúc với hành khách, do vậy họ

dễ bị nhiễm từ nhóm hành khách này Tuy

Trang 3

nhiên, các chương trình phòng chống dịch

thường chỉ chú trọng đến phát hiện sớm nguồn

bệnh từ hành khách tại sân bay và quy trình

cách ly nguồn bệnh khi có dấu hiệu nghi ngờ

bởi đội Kiểm dịch y tế sân bay, mà ít để ý tới

phòng ngừa sự lây lan cho nhân viên phục vụ

tại sân bay(3,4) Do đó, theo chúng tôi, giáo dục

sức khỏe cho nhân viên sân bay nhằm giúp họ

có kiến thức tốt, thực hành đúng để tự phòng

ngừa dịch bệnh và hỗ trợ Kiểm dịch Y tế phát

hiện sớm hành khách nghi dịch để cách ly, là

một trong những biện pháp cần được quan tâm

giúp ngăn ngừa hiệu quả dịch bệnh lây lan cho

bản thân nhân viên sân bay ngay tại cửa khẩu

và xa hơn là ngăn ngừa sự lây lan từ họ sang gia

đình, cộng đồng, từ đó góp phần chặn đứng

nguồn lây cho cộng đồng

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định tỷ

lệ có kiến thức đúng, thực hành đúng về phòng

chống hội chứng viêm đường hô hấp vùng

Trung Đông do virus Corona và bệnh do virus

Ebola ở các nhóm nhân viên làm việc tại ga đến

sân bay quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất tại thời

điểm tháng 12 năm 2014 Kết quả nghiên cứu

gợi ý Trung tâm Kiểm dịch Y tế quốc tế tìm ra

những thiếu sót trong kiến thức, thực hành của

nhân viên sân bay trong nổ lực kiểm soát, ngăn

chặn dịch bệnh lây lan từ bệnh nhân mắc bệnh

dịch nhập cảnh truyền bệnh sang nhân viên

ngay tại cửa khẩu sân bay

ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang

Dân số nghiên cứu

Nhân viên sân bay làm việc có tiếp xúc với

hành khách nhập cảnh tại ga quốc tế đến sân

bay Tân Sơn Nhất

Dân số chọn mẫu

Tất cả nhân viên sân bay làm việc có tiếp

xúc với hành khách nhập cảnh tại sân bay Tân

Sơn Nhất, đang làm việc tại thời điểm nghiên

cứu - tháng 12 năm 2014

Cỡ mẫu

Đối với khảo sát bằng bảng câu hỏi, cỡ mẫu

là tất cả nhân viên sân bay làm việc có tiếp xúc với hành khách nhập cảnh tại ga quốc tế đến sân bay Tân Sơn Nhất, có mặt tại thời điểm phát bảng câu hỏi và đồng ý tham gia nghiên cứu (N=466) Đối với quan sát thực hành, nhân viên thuộc bộ phận tiếp xúc tất cả hành khách được quan sát thành 4 đợt, mỗi đợt lần lượt quan sát

12 nhân viên ở gần vị trí quan sát nhất, bảo đảm không quan sát ai 2 lần (N=48) và quan sát tất cả nhân viên thuộc bộ phận phải tiếp xúc cơ thể,

hành lý của khách (N=44)

Biến số nghiên cứu:

Biến số nền: tuổi, giới, thời gian thâm niên công tác, loại hình thức tiếp xúc với hành khách nhập cảnh

Biến số kiến thức: là biến định tính có 2 giá trị: Kiến thức tốt khi trả lời đúng ≥ 14/20 câu hỏi, Kiến thức chưa tốt khi trả lời đúng < 14/20 câu hỏi (có 20 câu hỏi về kiến thức: 7 câu hỏi về MERS, 7 câu hỏi về EVD và 6 câu hỏi về cách phòng chống)

Biến số quan sát thực hành: là biến định tính

có 2 giá trị: Thực hành đúng khi thực hiện đúng các tiêu chí quan sát và Thực hành chưa đúng khi thực hành sai ít nhất một trong các tiêu chí Các tiêu chí quan sát được xây dựng dựa theo khuyến cáo của Bộ Y tế (5,6)

Phương pháp thu thập số liệu:

Điều tra viên gởi bản câu hỏi trực tiếp cho nhân viên trả lời và thu lại ngay Không ghi lại tên họ người trả lời Việc gởi bản câu hỏi tiến hành sau khi đã hoàn tất quan sát thực hành Đối với quan sát thực hành, điều tra viên quan sát trực tiếp các đối tượng, ghi vào bảng kiểm

và không để các đối tượng biết mình đang bị quan sát

KẾT QUẢ

Trong số những người làm việc tại ga quốc tế đến sân bay Tân Sơn Nhất tại thời điểm nghiên cứu, có tất cả 466 người đồng ý

Trang 4

tham gia nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 86,6%.Nữ

chiếm 35,2%, với tuổi trung bình của nữ thấp

hơn nam (31,3 ±7,5 so với 35,0±8,1) 245 người

(52,6%) có thâm niên công tác tại sân bay trên

5 năm, trong đó 194 người là nam, chiếm tỷ lệ

80,6% (Bảng 1) Sự khác biệt về tuổi và giới

tính của nhóm nhân viên tham gia nghiên

cứu so với tất cả nhân viên không có ý nghĩa

thống kê (p=0,691 và p=0,742)

Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=466)

Nữ n(%) Nam n(%) Tổng số

n (%)

Trung bình ± Độ lệch chuẩn 31,3 ±7,5 35,0 ± 8,1

Tuổi

< 30 tuổi 86 (52,4) 90 (29,8) (37,8) 176

30 - < 40 tuổi 52 (31,7) 132 (43,7) (39,5) 184

≥ 40 tuổi 26 (15,9) 80 (26,5) 106

(22,7)

Thâm niên

công tác

≤ 5 năm 113 (68,9) 108 (35,8) 221

(47,4)

>5 - ≤ 10 năm 32 (19,5) 111 (36,7) 143

(30,7)

>10 năm 19 (11,6) 83 (27,5) 102

(21,9) Hình thức

tiếp xúc

hành

khách

nhập cảnh

Có tiếp xúc cơ

thể, dịch cơ thể 51 (31,1) 141 (46,7)

192 (41,2) Chỉ tiếp xúc giấy

tờ, hành lý 113 (68,9) 111 (36,8)

224 (48,1) Chỉ giao tiếp

bằng lời nói 0 (0,0) 50 (16,5) 50 (10,7)

Tổng 164 (35,2) 302 (64,8) 466

(100,0)

Bảng 2: Tỷ lệ nhân viên trả lời đúng kiến thức về

MERS (n=466)

Kiến thức về MERS Kiến thức

đúng (n)

Tỷ lệ (%)

2 Đối tượng có thể bị lây nhiễm 451 96,8

3 Đối tượng có nguy cơ cao sẽ bị

bệnh nặng khi nhiễm MERS-CoV 75 16,1

5 Triệu chứng nghi ngờ 342 73,4

6 Vaccine phòng bệnh 334 71,7

Kiến thức về MERS tốt (đúng ≥ 5/7

Tỷ lệ nhân viên có kiến thức tốt về MERS là

59%, các câu trả lời sai tập trung ở câu hỏi về các

đối tượng có nguy cơ cao sẽ bị bệnh trầm trọng

khi nhiễm MERS-CoV (83,9%) và nguồn lây

MERS-CoV (45,1%) (Bảng 2) Trong khi đó, có

15,2% có kiến thức tốt về EVD, thấp hơn nhiều

so với tỷ lệ có kiến thức tốt về MERS, các câu trả lời sai tập trung ở câu hỏi về đường lây (92,7%), triệu chứng nghi ngờ EVD (78,1%) và nguồn lây

(73,6%) (Bảng 3) Nhìn chung, 42,9% có kiến

thức chung tốt, cả về MERS, EVD và phòng dịch

tại sân bay (Bảng 5)

Bảng 3: Tỷ lệ nhân viên trả lời đúng kiến thức về

EVD (n=466)

Kiến thức về EVD Kiến thức

đúng (n)

Tỷ lệ (%)

2 Các loại dịch cơ thể có thể có

4 Thời gian tồn tại của virus ở nhiệt

7 Thời điểm bắt đầu lây cho người

Kiến thức về EVD tốt (đúng ≥ 5/7 câu) 71 15,2

Bảng 4: Tỷ lệ nhân viên trả lời đúng về kiến thức

phòng chống dịch (n=466)

Kiến thức phòng chống dịch tại

sân bay

Kiến thức đúng (n)

Tỷ lệ (%)

1 Các trường hợp cần rửa tay 394 84,5

2 Xử lý khi gặp khách có triệu chứng

3 Xử lý khi tiếp xúc người nghi

4 Xử lý khi bản thân có triệu chứng

5 Xử lý khi bản thân bị ho để phòng

6 Xử lý khi gặp khách nghi EVD 410 88,0 Kiến thức về phòng chống dịch tốt

Về thực hành, 100% nhân viên của bộ phận tiếp xúc toàn bộ hành khách được quan sát thực hành sai ít nhất một trong các tiêu chí quan sát, trong đó 93,8% không sử dụng kính để ngăn cách giữa nhân viên và khách khi làm việc với khách, 92,3% tháo và bỏ găng tay cao su đã sử dụng không đúng vị trí, 88,9% thực hành rửa

tay bằng xà bông không đúng cách (Bảng 6) Đặc

Trang 5

biệt đối với các nhân viên của bộ phận phải tiếp

xúc trực tiếp cơ thể, hành lý của hành khách, có

đến 60% không rửa tay bằng xà bông hoặc nước

rửa tay nhanh giữa hai lần phục vụ kháchkhác

nhau (Bảng 7)

Bảng 5: Kết quả đánh giá kiến thức chung (n=466)

Kiến thức của nhân viên Kiến thức đúng (n) Tỷ lệ (%)

Kiến thức tốt

Bảng 6: Kết quả quan sát thực hành của bộ phận

tiếp xúc tất cả hành khách

Tiêu chí quan sát

Thực hành đúng (n)

Tỷ lệ (%)

Giữ khoảng cách >1m khi đối mặt với

Sử dụng kính ngăn để ngăn cản hiệu

quả các giọt bắn bắn ra từ hành khách

đến nhân viên (n=48)

Rửa tay bằng gel sát khuẩn tay tại chổ

hoặc mang găng khi tiếp xúc hành khách

từ vùng dịch (n=48)

27 56,0 Tháo găng và bỏ găng đã sử dụng đúng

Thực hành rửa tay bằng xà bông (n=9) 1 11,1

Không đưa tay chưa rửa lên mắt mũi

miệng khi làm việc (n=48) 36 75,0

Bảng 7: Kết quả quan sát thực hành của bộ phận

phải tiếp xúc cơ thể, hành lý của khách

Tiêu chí quan sát Thực hành

đúng (n)

Tỷ lệ (%)

Giữ khoảng cách hợp lý từ nhân viên

Rửa tay giữa 2 lần phục vụ khách

Thực hành rửa tay bằng xà bông

Không đưa tay chưa rửa lên mắt mũi

miệng khi làm việc (n=44) 28 63,6

Ngoài ra, trong nghiên cứu, để tìm hiểu về

mức độ sẵn có của các phương tiện, dụng cụ cần

thiết cho việc thực hành đúng, chúng tôi ghi

nhận được kết quả như sau: găng tay cao su,

khẩu trang, gel sát khuẩn tay, kính ngăn cách

giữa hành khách và nhân viên được cung cấp

đủ nhưng nhân viên ít sử dụng, chưa có dung

dịch sát khuẩn để lau mặt bàn làm việc với

khách, chưa có hướng dẫn rửa tay đúng

Xem xét các mối liên quan giữa kiến thức và các đặc tính mẫu, kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm nhân viên trẻ có độ tuổi dưới 30 có tỷ lệ kiến thức đúng thấp nhất (35,2%, phép kiểm χ2

với p=0,031) (Bảng 8) Nghiên cứu còn nhấn

mạnh nhóm đối tượng có tiếp xúc cơ thể hoặc dịch cơ thể của khách thì có điểm kiến thức đúng là thấp nhất so với các nhóm khác (phép kiểm χ2 với p=0,048) (Bảng 9)

Bảng 8: Kết quả đánh giá kiến thức chung theo

nhóm tuổi(n=466)

Nhóm tuổi Tốt n (%) Chưa tốt n (%)

<30 tuổi(n=176) 62 (35,2) 114 (64,8) 30- <40 tuổi (n=184) 89 (48,4) 95 (51,6)

≥40 tuổi(n=106) 49 (46,2) 57 (53,8)

Phép kiểm χ 2 , p=0,031

Bảng 9: Kết quả đánh giá kiến thức chung theo cách thức tiếp xúc hành khách (n=466)

Cách thức tiếp xúc hành

khách Tốt n (%)

Chưa tốt n (%)

Có tiếp xúc cơ thể hoặc dịch

cơ thể của khách 72 (37,5) 120 (62,5) Chỉ tiếp xúc giấy tờ, hành lý 100 (44,6) 124 (55,4) Chỉ giao tiếp bằng lời nói 28 (56,0) 22 (44,0)

Phép kiểm χ 2 , p=0,048

BÀN LUẬN

Trong số những người làm việc tại ga quốc

tế đến sân bay Tân Sơn Nhất, chúng tôi đã khảo sát qua bảng câu hỏi được 466 người, chiếm tỷ

lệ 86,6%, tất cả các bảng câu hỏi thu được đều trả lời đầy đủ các câu hỏi

Về giới tính, mẫu khảo sát có tỷ lệ nam cao hơn nhiều so với nữ nhưng hoàn toàn tương ứng với tỷ lệ nam, nữ đang làm việc ở các bộ phận công tác

Về cách tiếp xúc với hành khách, chúng tôi cho rằng, trong trường hợp bình thường, những nhân viên phải tiếp xúc với cơ thể, dịch cơ thể của hành khách sẽ có khả năng bị lây nhiễm MERS, EVD cao hơn những nhân viên chỉ tiếp xúc với giấy tờ, hành lý mà hành khách đã cầm nắm qua và những nhân viên này lại có khả

Trang 6

năng bị lây nhiễm cao hơn những nhân viên chỉ

giao tiếp với khách bằng lời nói nếu hành khách

mắc bệnh Tuy nhiên, việc phân nhóm như trên

cũng chỉ là tương đối Những nhân viên thuộc

nhóm có tiếp xúc với cơ thể, dịch cơ thể của

hành khách đặc biệt là những hành khách có

sức khỏe yếu, những hành khách bị bệnh nên

khả năng bị lây nhiễm cao hơn Ngược lại,

nhóm nhân viên không trực tiếp tiếp xúc với cơ

thể hành khách nhưng nếu bị hành khách

nhiễm bệnh ho, hắt hơi trúng hoặc sờ phải

những nơi có dính dịch cơ thể của họ thì vẫn có

khả năng bị lây nhiễm cao và đó cũng là lý do

để tất cả nhân viên đều phải cảnh giác khi tiếp

xúc hành khách nhập cảnh, tự giữ vệ sinh cá

nhân, thực hiện các biện pháp phòng ngừa kể cả

khi làm việc bình thường tại sân bay

Khảo sát bằng bảng câu hỏi cho thấy nhân

viên thường trả lời sai các câu hỏi về đường lây,

nguồn lây và triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh,

đây là những kiến thức quan trọng phục vụ cho

việc phòng tránh lây nhiễm hiệu quả Do vậy,

nhân viên có thể sẽ dễ bị lây nhiễm hơn và nguy

hiểm hơn nếu họ mang mầm bệnh trở về lây

nhiễm trong gia đình, cộng đồng

So sánh với các nghiên cứu khác về kiến

thức của người dân có liên quan đến MERS và

EVD, tỷ lệ người có vấn đề sức khỏe có nguy cơ

bị bệnh nặng cao khi nhiễm MERS-CoV ở nhân

viên là 9,9% gần bằng tỷ lệ khảo sát ở người Úc

đi hành hương (15%) năm 2014 (9) và thấp hơn

nhiều so với tỷ lệ này (49,9%) ở những người

Pháp đi hành hương năm 2013 (8) Tỷ lệ nhân

viên có kiến thức chung tốt là 42,9%, tương

đương với kết quả của nghiên cứu “Kiến thức,

sự nhận thức và nguồn cung cấp thông tin về

bệnh do virus Ebola – Lagos, Nigeria – tháng 9

năm 2014”(11) Nếu chỉ xét riêng kiến thức về

EVD thì tỷ lệ kiến thức tốt về EVD của nhân

viên rất thấp (15,2%) so với người dân ở Lagos –

Nigeria trong nghiên cứu trên và cũng rất thấp

so với kiến thức của 150 người Úc đi hành

hương mùa Hajj năm 2014-2015 (1),tuy nhiên để

kết luận rằng người dân có kiến thức về EVD tốt

hơn nhân viên sân bay là không có cơ sở vì kết quả được khảo sát trên bảng câu hỏi có nội dung và độ khó khác nhau

Xét mối liên quan giữa kiến thức và cách thức tiếp xúc hành khách nhập cảnh cho thấy nhóm có tiếp xúc với cơ thể, dịch cơ thể của hành khách có khả năng dễ bị lây nhiễm hơn thì lại có kiến thức kém hơn những nhóm khác Có thể giải thích nguyên nhân là do nhân viên đã không biết vì tính chất công việc của mình mà mình sẽ dễ bị lây nhiễm dịch bệnh hơn những nhân viên khác nên ít quan tâm đến dịch bệnh hơn làm cho điểm kiến thức thấp hơn Các khuyến cáo của Bộ Y tế cũng không rõ ràng để nhân viên có thể nhận biết được điều này Cụ thể, trong phòng chống Ebola, Bộ Y tế đã khuyến cáo: “Tránh tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, các vật dụng của người, động vật nhiễm bệnh”, “Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh Ebola; khi cần thiết phải tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế, mặc trang phục phòng hộ cá nhân đúng cách và giữ khoảng cách khi tiếp xúc” Với khuyến cáo này, nhân viên sẽ không phân biệt được làm công việc gì thì sẽ dễ bị lây nhiễm hơn để đặc biệt chú ý phòng ngừa, do đó không biết được những công việc có tiếp xúc với cơ thể, dịch cơ thể của bệnh nhân sẽ có khả năng bị lây bệnh cao hơn những công việc chỉ tiếp xúc với vật dụng của bệnh nhân hoặc chỉ trao đổi bằng lời nói với bệnh nhân

Trên thực tế, kiến thức của nhân viên chỉ thể hiện được hiểu biết của họ còn thực tế có thực hiện đúng hay không còn tùy thuộc nhiều yếu

tố trong đó có yếu tố quan trọng là điều kiện cơ

sở vật chất để thực hành đúng, do đó ngoài việc quan sát thực hành, chúng tôi còn tiến hành quan sát điều kiệnthực hành

Đánh giá các cơ sở vật chất phục vụ cho thực hành, chúng tôi nhận thấy điều kiện thực hành là chưa đủ Các nhà vệ sinh thuộc ga quốc

tế đến không có bích chương hướng dẫn rửa tay đúng Nghiên cứu tại một trường đại học ở Michigan – Hoa Kỳ cho kết quả 23% sinh viên

Trang 7

rửa tay không dùng xà bông, chỉ 5% có thời gian

rửa tay trên 15 giây trong khi khuyến cáo của

CDC Hoa Kỳ là thời gian rửa tay bằng xà bông

phải từ 15-20 giây(7), như vậy dù biết cần phải

rửa tay nhưng các đối tượng trong nghiên cứu

trên đa số thực hành rửa tay sai cách cho thấy

hướng dẫn rửa tay đúng là rất cần thiết và nên

đặt tại nơi rửa tay

Các điều kiện khác như găng tay cao su,

khẩu trang, gel sát khuẩn tay, kính ngăn cách

với khách được cung cấp theo yêu cầu nhưng ít

nhân viên sử dụng ngay khi cần và được ghi

nhận trong bảng kiểm thực hành khi chúng tôi

tiến hành quan sát

Riêng đối với kính ngăn cách khách với

nhân viên,nghiên cứuchỉ ra được sự bất tiện khi

sử dụng do không có khe hở để khách có thể

đưa giấy tờ cho nhân viên Tuy nhiên, có 6,2%

nhân viên đã sử dụng vách kính ngăn này nên

chúng tôi cho rằng dù có bất tiện nhưng vẫn có

thể sử dụng được trong phòng ngừa lây nhiễm

và việc không sử dụng kính ngăn là đã thực

hành sai chứ không phải do kính không sử

dụng được

Một nguyên nhân khác cũng có thể khiến

cho nhân viên thực hành sai là do chưa được

hướng dẫn kỹ năng thực hành đúng Do đó, bên

cạnh việc truyền thông cung cấp thông tin về

dịch bệnh, cách phòng ngừa, chúng tôi thấy

rằng cần phải tổ chức thực hành mẫu, hướng

dẫn thực hành cho nhân viên để nâng cao hiệu

quả phòng chống lây lan ngay tại sân bay

Cũng như các nghiên cứu mô tả cắt ngang

khác, nghiên cứuchỉ đánh giá thực trạng vấn đề

tại thời điểm hiện tại mà chưa thể có những

phân tích sâu hơn về các mối liên hệ nhân quả

và theo dõi theo thời gian Quan sát thực hành

tập trung thực hiện trên các nhân viên thuộc hai

nhóm có nguy cơ cao nhất và tiếp xúc với hành

khách thường xuyên nhất mà chưa thể thực

hiện trên tất cả các nhóm Tiếp viên hàng không

cũng đã tiếp xúc với hành khách trong thời gian

hành khách trên máy bay nhưngđối tượng này

không được chọn để nghiên cứu vì họ thường xuyên thay đổi vị trí dẫn đến khó khảo sát trong khi nghiên cứu cũng cần thực hiện sớm để phục

vụ yêu cầu chống dịch MERS và EVD đang xảy

ra tại Trung Đông và Tây Phi Mặt khác tiếp viên hàng không đã được đào tạo chính quy để

xử lý các vấn đề trên máy bay bao gồm các vấn

đề y tế nên việc khảo sát có thể để lại và thực hiện trong một khoảng thời gian khác.Ngoài ra, đây là một nghiên cứu cộng đồng, các kết quả khảo sát được qua bảng câu hỏi cũng có thể có hạn chế tùy thuộc vào các yếu tố tâm lý của người được điều tra lúc trả lời các câu hỏi, chúng tôi đã cố gắng hạn chế những sai lệch này bằng cách chọn thời điểm thích hợp để khảo sát tùy vào từng đơn vị, từng đối tượng

Từ kết quả nghiên cứu, để nâng cao tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng, chúng tôi có một số kiến nghị như sau:

- Tăng cường truyền thông cho nhân viên

để nâng cao kiến thức phòng chống dịch không chỉ MERS và EVD mà cả những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác đặc biệt là các bệnh lây qua đường hô hấp, đồng thời chú trọng hướng dẫn thực hành đúng Thông tin truyền thông phải đến được nhân viên chứ không chỉ dừng ở các cấp lãnh đạo, các đại diện của đơn vị

- Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế nên nghiên cứu ban hành các quy định phòng ngừa chuẩn dành cho người làm việc tại cửa khẩu

và quy định cả những trang thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết phục vụ cho việc thực hiện phòng ngừa chuẩn

- Định kỳ cần khảo sát lại kiến thức, thực hành của nhân viên để đánh giá tình trạng hiện tại, đồng thời cũng biết được các biện pháp đã

áp dụng có hiệu quả hay không từ đó có phương hướng điều chỉnh thích hợp giúp nâng cao hiệu quả phòng chống dịch tại sân bay

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alqahtani AS, Wiley KE, Willaby HW et al (2015) Australian

Hajj pilgrims’ knowledge, attitude and perceptionabout

Ebola, November 2014 to February 2015 Euro Surveillance;

20(12):pii=21072

Trang 8

2 Bộ Y tế (2014) Quyết định số 1944/QĐ-BYT ngày 03/6/2014

về việc ban hành Kế hoạch hành động phòng chống Hội

chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút

Corona (MERS-CoV) tại Việt Nam

3 Bộ Giao thông vận tải (2014) Kế hoạch số 9954/KH-BGTVT

phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết do virus Ebola

4 Bộ Y tế (2014) Quyết định số 2941/QĐ-BYT ngày 07/8/2014

về Kế hoạch hành động phòng chống bệnh do virus Ebola tại

Việt Nam

5 Bộ Y tế (2014).Quyết định số 363/QĐ-BYT ngày 02/02/2016 về

việc ban hành hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh vi

rút Ê-bô-la

6 Bộ Y tế (2015).Quyết định số 2174 /QĐ-BYT ngày 8/6/2015 về

việc Hướng dẫn giám sát và phòng, chống Hội chứng viêm

đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona

(MERS-CoV)

7 Carl P, Borchgrevink et al (2013) Hand washing practices in a

college town environment, J Environ Health; 75(8):18-24

8 Gautret P et al (2013) Hajj pilgrims’ knowledge about Middle

East respiratory syndrome coronavirus EuroSurveillance;

Rapid communications 18 (41): 1-3

9 Mohamed, Tashani et al (2014) Australian Hajj pilgrims’

knowledge, attitude and perceptionabout MERS-CoV and

other respiratory infections, November 2014 to February

2015 Euro Surveillance; Rapid communications 20 (12): 1-4

10 Quốc Hội (2007) Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số

03/2007/QH12 ngày 21/11/2007

11 Saheed, Gidado (2014) Public Knowledge, Perception and

Source of Information on Ebola Virus Disease – Lagos,

Nigeria; September 2019.http://currents.plos.org/

outbreaks/article/public-knowledge-perception-and-source-of-information-on-ebola-virus -disease-lagos-nigeria-september-2014/ (truy cập ngày 30/05/2015)

12 WHO (2015).Middle East respiratory syndrome coronavirus (MERS-CoV) – China.http://www.who.int/csr/don/30-may-2015-mers-china/en/ (truy cập ngày 20/08/2015)

13 WHO (2015) Middle East respiratory syndrome coronavirus

Korea.http://www.who.int/csr/don/24-may-2015-mers-korea/en/ (truy cập 30/05/2015)

14 WHO (2015) WHO recommends continuation of strong disease control measures to bring MERS-CoV outbreak in Republic of Korea to an end, http://www.wpro who.int/mediacentre/releases/2015/20150613/en/(truy cập ngày 20/8/2015)

15 WHO (2014) Middle East respiratory syndrome coronavirus

update.http://who.int/csr/don/2014_07_23_mers/en/(truy cập ngày 12/8/2014)

16 WHO (2014), Ebola virus disease update - West Africa http://who.int/

csr/don/2014_08_11_ebola/en/(truy cập ngày 12/8/2014)

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/03/2016 Ngày bài được đăng :

Ngày đăng: 15/01/2020, 16:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w