Bài viết trình bày mô tả đặc điểm lâm sàng, vi sinh và điều trị viêm phổi bệnh viện ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại khoa Hô hấp 1, bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/10/2016 đến 30/04/2017.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, VI SINH VÀ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN TẠI KHOA HÔ HẤP 1 BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 NĂM 2016-2017
Trần Mai Phương * , Phạm Thị Minh Hồng **
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, vi sinh và điều trị viêm phổi bệnh viện ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại
khoa Hô hấp 1, bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/10/2016 đến 30/04/2017
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca
Kết quả: Trong thời gian từ 01/10/2016 đến 30/4/2017, có 16 bệnh nhân viêm phổi bệnh viện được đưa vào
nghiên cứu Tuổi trung bình 7,5 2,5 tháng, tỉ lệ nam:nữ 1,67:1, suy dinh dưỡng 31,3% Viêm phổi bệnh viện
được chẩn đoánsaunhập viện 9,23 ngày Ho mới xuất hiện hoặc nặng lên, thở nhanh, co lõm ngực và rales phổi gặp ở tất cả bệnh nhân Sốt gặp trong 15/16 trường hợp, chiếm 93,8% Biến chứng suy hô hấp độ 2-3 chiếm 50%
Tỉ lệ cấy dịch hút khí quản qua mũi (NTA – Nasotracheal aspiration), PCR đàm và cấy máu dương lần lượt là 25%, 62,5% và 6,3% Vi khuẩn chiếm tỉ lệ 50%, siêu vi là 6,3%, vi khuẩn không điển hình 12,5%, đồng nhiễm vi khuẩn - vi khuẩn không điển hình 6,3%, không rõ tác nhân 25% Các tác nhân phân lập được gồm: M pneumoniae 25%, S aureus 16,7%, S pneumoniae 16,7%, B cepacia 16,7%, A baumannii 8,3%, H influenzae 8,3% và Adenovirus 8,3% Phần lớn bệnh nhân được điều trị với kháng sinh nhóm Carbapenems và Vancomycin 50% trẻ cần được hỗ trợ hô hấp Thời gian hỗ trợ hô hấp trung bình là 15 5,6 ngày Thời gian nằm viện là 28 (12-75) ngày.87,5% bệnh nhân được xuất viện, chuyển bệnh viện Phạm Ngọc Thạch 6,3%, tử vong 6,3%
Kết luận: PCR NTA xác định được tác nhân gây viêm phổi bệnh viện trong 10/16 trường hợp (62,5%), do đó
ngoài cấy bệnh phẩm nên sử dụng PCR để xác định tác nhân gây bệnh
Từ khoá: viêm phổi bệnh viện
ABSTRACT
CLINICAL FEATURES, MICROBIOLOGY AND TREATMENT OF HOSPITAL-ACQUIRED PNEUMONIA AT
RESPIRATORY DEPARTMENT 1, CHILDREN'S HOSPITAL 2 IN 2016-2017
Tran Mai Phuong, Pham Thi Minh Hong
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 4 - 2019: 195 – 201
Objectives: To describe clinical features, microbiology and treatment of hospital-acquiredpneumonia in
childrenaged 2 months – 15 years old at the Respiratory Department 1, Children's Hospital 2 from October 1 st ,
2016 to April 30 th , 2017
Method: Case series report
Results: From October 1 st 2016 to April 30 th 2017, there were 16 children diagnosed HAP enrolled into the study The mean age was 7.5 2.5 months; male/female: 1.67/1; 31.3% of them was malnourished HAP was diagnosed 9.23days after admission New onset or worsening cough, tachypnea, chest indrawing and rales were encountered in all children 93.8% of them had fever and 50% respiratory distress The positive rate of NTA culture was 25% whereas of NTA PCR and blood culture were 62.5% and 6.3% respectively Identified causative agents were bacteria (50%), viruses (6.3%), atypical bateria (12.5%), co-infections (6.3%) and 25% of them were unidentified These agents includedM.pneumonia (25%), S Aureus (16.7%), S Pneumoniae (16.7%), B Cepacia (16.7%), A Baumannii (8.3%), H Influenzae (8.3%), and Adenovirus (8.3%) Most children were treated with
Carbapenems and Vancomycin 50% of them needed respiratory support with the mean time 15 5.6 days The median length of stay was 28 (12-75) days.87.5% of them were discharged, 6.3% transferred to Pham Ngoc Thach hospital, 6.3% died
Conclusion: The causative agents identified by NTA PCR were 62.5%, suggesting that this method could
optimize microbiological diagnosis
*Bệnh viện Nhi Đồng 2 **Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Trần Mai Phương ĐT: 0987527814 Email: tranmaiphuong11289@gmail.com
Trang 2Key word: hospital-acquired pneumonia
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, viêm phổi bệnh viện là nguyên nhân
đứng hàng thứ hai của nhiễm trùng bệnh viện, chiếm
tỉ lệ từ 10 – 47% trong số các nhiễm trùng ở đơn vị
chăm sóc tích cực, với tỉ lệ tử vong được báo cáo từ
20 – 60%(13,15) Viêm phổi bệnh viện làm kéo dài thời
gian điều trị nội trú, tăng chi phí chăm sóc y tế, tăng tỉ
lệ biến chứng và tử vong(5) Đối với điều trị viêm phổi
bệnh viện, việc lựa chọn và sử dụng kháng sinh rất
quan trọng Để có thể sử dụng kháng sinh một cách
hợp lý, cần phải xác định được tác nhân gây bệnh,
cũng như mức độ nhạy cảm kháng sinh của các tác
nhân này Gần một nửa các trường hợp viêm phổi
bệnh viện do nhiều tác nhân gây ra, gồm cả vi khuẩn,
siêu vi và nấm(5)
Tại Việt Nam các nghiên cứu về viêm phổi bệnh
viện chủ yếu thực hiện tại ICU, ít thực hiện tại các
khoa lâm sàng khác và việc xác định tác nhân chủ yếu
dựa vào nuôi cấy NTA(7,8,10) Do đó, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này để xác định các đặc điểm lâm
sàng và vi sinh của bệnh nhi viêm phổi bệnh viện tại
khoa Hô hấp 1 Bệnh viện Nhi đồng 2, với việc xác
định tác nhân thông qua kết quả cấy NTA, cấy máu và
PCR NTA Từ đó có thể đưa ra cái nhìn tổng quát về
tỉ lệ các tác nhân gây bệnh, giúp định hướng và hỗ trợ
cho việc chẩn đoán, điều trị viêm phổi bệnh viện
Mục tiêu nghiên cứu
Mô tả đặc điểm lâm sàng, vi sinh và điều trịviêm
phổi bệnh viện ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại khoa
Hô hấp 1, Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/10/2016 đến
30/04/2017
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả loạt ca
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhi từ 2 tháng đến 15 tuổi được chẩn đoán
viêm phổi bệnh viện, được điều trị tại khoa Hô hấp 1
Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/10/2016 đến 30/04/2017
Cỡ mẫu
Lấy trọn
Tiêu chuẩn đưa vào
Bệnh nhi thỏa tất cả các tiêu chuẩn sau:
- Tuổi từ 2 tháng đến 15 tuổi, Điều trị tại khoa Hô hấp 1 Bệnh viện Nhi Đồng 2, Thân nhân bệnh nhi đồng ý tham gia nghiên cứu,
Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi lúc nhập viện (Xquang không có tổn thương) và được chẩn đoán viêm phổi từ sau 48 giờ nhập viện với các đặc điểm sau:
Xquang: có tổn thương mới hoặc tiến triển
- Đối với trẻ ≤ 1 tuổi: ít nhất 3 trong 7 tiêu chuẩn sau:
Sốt (t0> 380C) hoặc hạ thân nhiệt (t0< 360C), Giảm bạch cầu đa nhân trung tính ≤4000/mm3 hoặc tăng ≥ 15000/mm3 với công thức bạch cầu chuyển trái (Band neutrophil ≥ 10%),
Có đàm mủ hoặc thay đổi tính chất đàm hoăc tăng
số lượng đàm, Ngưng thở hoặc thở nhanh hoặc phập phồng cánh mũi, thở rên, co lõm ngực,
Khò khè, có ran phổi,
Ho, Nhịp tim chậm < 100 l/p hoặc tim nhanh >170 l/p
- Đối với trẻ từ 1 – 12 tuổi: có 3 trong 6 tiêu chuẩn sau:
Sốt > 380C hoặc hạ thân nhiệt < 36oC, Giảm bạch cầu đa nhân trung tính ≤4000/mm3 hoặc tăng ≥15000/mm3,
Có đàm mủ hoặc thay đổi tính chất đàm hoăc tăng
số lượng đàm,
Ho nhiều hơn hoăc khó thở, ngưng thở, thở nhanh,
Ran ở phổi, Giảm độ bão hòa Oxy
- Đối với trẻ > 12 tuổi: có sốt > 38oC hoặc giảm bạch cầu đa nhân trung tính ≤ 4000/mm3 hoặc tăng ≥ 12000/mm3 và 2 trong 4 tiêu chuẩn sau:
Có đàm mủ hoặc thay đổi tính chất đàm hoăc tăng
số lượng đàm,
Ho nhiều hơn hoăc khó thở, thở nhanh, Ran ở phổi,
Sự trao đổi khí của phổi xấu hơn (PaO2/FiO2
<240)
Tiêu chuẩn loại trừ
Những trường hợp NTA không thoả tiêu chuẩn: ≤
10 tế bào biểu mô lát và ≥ 25 tế bào bạch cầu đa nhân
Trang 3dưới quang trường có độ phóng đại thấp (độ phóng
đại x100, vật kính x10)
Thu thập số liệu
Tất cả bệnh nhi thỏa tiêu chuẩn đưa vào và không
nằm trong tiêu chuẩn loại trừ sẽ được hỏi bệnh sử,
khám lâm sàng Thu thập thêm các triệu chứng lâm
sàng, cận lâm sàng và điều trị trước đó (tại khoa Hô
hấp 1 Bệnh viện Nhi Đồng 2) từ hồ sơ bệnh án
Các xét nghiệm bao gồm: công thức máu, CRP,
cấy máu, X quang phổi, NTA, dịch màng phổi (nếu
có), khí máu động mạch (nếu bệnh nhân có suy hô
hấp 2-3) sẽ được lấy ngay khi bệnh nhân được chẩn
đoán viêm phổi bệnh viện
Quy trình lấy NTA
Lấy 3 ml dịch NTA, sau đó chia làm 2 mẫu, mỗi
mẫu 1,5 ml
Mẫu 1
Được gửi ngay xuống khoa Vi sinh bệnh viện Nhi
Đồng 2 làm xét nghiệm soi, nhuộm gram, cấy tìm vi
khuẩn và kháng sinh đồ
Mẫu 2
Gửi làm xét nghiệm PCR với 27 tác nhân, 12 tác
nhân vi khuẩn điển hình: Streptococcus pneumoniae,
Streptococcus agalactiae, Streptococcus pyogenes,
Haemophilus influenza, Moraxella catarrhalis,
Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis,
Enterococcus faecium, Klebsiella pneumoniae,
Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa,
Acinetobacter baumanii; 7 tác nhân vi khuẩn không
điển hình: Mycoplasma pneumoniae, Mycoplasma
khác, Chlamydophila pneumoniae, Chlamydia
psittaci, Bordetella pertussis, Bordetella
parapertussis, Legionella pneumophila; 8 tác nhân
siêu vi: Adenovirus, Respiratory syncytial virus,
Influenze virus A, Parainfluenza virus 1,
Parainfluenza virus 2, Parainfluenza virus 3, Human
metapneumovirus
Xử lý số liệu
Các dữ liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng
phần mềm SPSS 20.0 Các biến số định tính sẽ được
tính tần số và tỉ lệ % Các biến số định lượng được
tính trung bình và độ lệch chuẩn hoặc trung vị và
khoảng tứ vị nếu dân số không thỏa phân phối chuẩn
Y đức
Nghiên cứu được chấp thuận bởi Hội đồng Khoa
học công nghệ Bệnh viện Nhi Đồng 2 số
919/CĐT-NĐ2
KẾT QUẢ
Đặc điểm lâm sàng
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 1/10/2016 đến tháng 30/4/2017 có 16 bệnh nhi thoả tiêu chí chọn mẫu được đưa vào nghiên cứu Tuổi nhập viện trung bình là 7,5 2,5 tháng, tỉ lệ nam:nữ là 1,67:1 Trẻ dưới 12 tháng chiếm tỉ lệ 93,8%, suy dinh dưỡng là 31,3% Có 5/16 trẻ mắc bệnh nền: 2 trẻ hẹp khí quản,
1 trẻ bất thường khí quản và mạch máu, 1 trẻ hội chứng Do và còn ống động mạch và 1 trẻ chậm vận động Triệu chứng ho tăng hoặc mới xuất hiện, thở nhanh, co kéo cơ hô hấp phụ và rales phổi gặp ở tất cả bệnh nhân Sốt gặp trong 15/16 trường hợp, chiếm 93,7% Thời điểm chẩn đoán viêm phổi bệnh viện trung bình 9,23 ngày, ngắn nhất là 5 ngày, nhiều nhất là 14 ngày sau nhập viện Tất cả bệnh nhi đều là viêm phổi bệnh viện muộn và bị suy hô hấp trong đó
độ 1 (50%), độ 2 (25%), độ 3 (25%)
Đặc điểm vi sinh
Bảng 1 Tác nhân gây bệnh phân lập được từ cấy
NTA, PCR NTA và cấy máu
Tác nhân Tần số (n=12) Tỉ lệ (%)
Mycoplasma pneumoniae
3 (1 đồng nhiễm với
S.pneumoniae)
25
Trong số 16 mẫu có 12 mẫu xác định được tác nhân gây bệnh Tỉ lệ cấy NTA, PCR NTA và cấy máu dương lần lượt là 25%, 62,5% và 6,3% Vi khuẩn chiếm tỉ lệ 50%, siêu vi là 6,3%, vi khuẩn không điển hình 18,8%, đồng nhiễm vi khuẩn - vi khuẩn không
điển hình 6,3%, không rõ tác nhân 25% (Bảng 1)
Có 4/16 mẫu NTA cấy (+) ra S pneumoniae, MRSA, A baumannii, B cepacia 10/16 mẫu PCR NTA ra S pneumoniae (2), MRSA (2), A baumannii,
B cepacia, H influenzae, B pertussis, M pneumoniae (3), Adenovirus trong đó có 1 mẫu đồng nhiễm S pneumoniae và M pneumoniae Chỉ có 1/16 mẫu máu cấy ra B cepacia (Bảng 2, 3)
Bảng 2 Tương quan giữa kết quả cấy và PCR NTA
Acinetobacter baumannii Acinetobacter baumannii Streptococcus pneumoniae
Mycoplasma pneumoniae Streptococcus pneumoniae
Trang 4Haemophilus influenzae Âm tính
Mycoplasma pneumonia (2 ca) Âm tính
Âm tính (không có đoạn mồi cho
Bảng 3 Độ nhạy cảm kháng sinh
Độ nhạy cảm kháng sinh
B.cepacia (máu)
B.cepacia (NTA)
S
S
S
R
S
R
S
R
S
S
R
S
Đặc điểm điều trị
Bảng 4 Thời gian hỗ trợ hô hấp (n = 8)
Phương pháp hỗ trợ hô hấp Tần số Tỉ lệ (%)
Nội khí quản - thở máy 3 37,5
Thời gian nằm viện trung vị là 28 ngày, ít nhất là
12 ngày, nhiều nhất là 75 ngày Hai trường hợp nằm
viện < 15 ngày, 8 (50%) nằm viện từ 15 - 30 ngày và
6 (37,5%) nằm >30 ngày (Bảng 4)
Tất cả các trường hợp đều phối hợp kháng sinh
Kháng sinh nhóm Carbapenems và Vancomycin được
sử dụng nhiều nhất, chiếm tỉ lệ 75% (Bảng 5)
Sau khi có kết quả vi sinh qua cấy và PCR
NTA, có 6 trường hợp phải đổi hay thêm kháng
sinh theo kháng sinh đồ Trong quá trình điều trị có
4 trường hợp bội nhiễm thêm các vi khuẩn bệnh
viện khác, cần thay đổi kháng sinh (Bảng 6)
Bảng 5 Kháng sinh sử dụng sau khi chẩn đoán viêm
phổi bệnh viện (n = 16)
Kháng sinh Tần số Tỉ lệ (%)
Trimethoprim/Sulfamethoxazole 2 12,5
Bảng 6 Đổi kháng sinh sau khi có kết quả kháng sinh đồ
Vi khuẩn
Kháng sinh trước khi có kết quả kháng sinh đồ
Kháng sinh sau khi
có kết quả kháng sinh
đồ
M.pneumoniae +
Cefepim + Vancomycin +
Macrolides
M.pneumoniae* Carbapenems Carbapenems +
Levofloxacin
Vancomycin
Bordetella pertussis Cefepim
Carbapenems + Vancomycin+ Macrolides
Burkholderia
Levofloxacin + Carbapenems
Kết quả điều trị: 14 (87,5%) khỏi bệnh và xuất viện, 1 ca chuyển bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và 1
ca tử vong, chiếm 6,3%
BÀN LUẬN
Theo Hội Lồng ngực Hoa kỳ (ATS – American Thoracic Society)/Hội bệnh lý nhiễm khuẩn Hoa Kỳ (IDSA – Infectious Diseases Society of America), dựa vào kết quả vi sinh để hướng dẫn điều trị làm giảm tỷ
lệ tử vong trong 14 ngày và tăng số ngày không sử dụng kháng sinh so với chỉ dựa vào lâm sàng(1) Hiện nay tỉ lệ cấy đàm dương tính còn thấp, đồng thời cấy đàm không thể phát hiện được các tác nhân gây viêm phổi không điển hình và viêm phổi do siêu vi, do đó PCR là phương pháp xác định tác nhân ngày càng được ưa chuộng trên thế giới PCR có ưu điểm là có thể cho kết quả nhanh hơn so với cấy vi sinh thông thường, có thể phát hiện được các tác nhân vi sinh mà phòng xét nghiệm vi sinh hay miễn dịch truyền thống không thể hoặc khó thực hiện được như siêu vi và vi khuẩn không điển hình Trong nghiên cứu này, các mẫu đàm thu thập được vừa gửi cho phòng vi sinh nuôi cấy, vừa gửi phân tích bằng phương pháp real-time PCR Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ PCR dương tính (62,5%) cao hơn so với tỉ lệ cấy đàm dương tính (25%) Kết quả này cũng tương tự như các nghiên cứu trước đây của Ngô Thị Thu Hiền với tỉ lệ
Trang 5cấy đàm dương và PCR dương tính lần lượt là 18,2%
và 60,6%(7), trong nghiên cứu của Wafaa Jamal là
24,5% và 77,5%(2) Các nghiên cứu cho thấy PCR có
giá trị chẩn đoán dương cao hơn so với phương pháp
cấy vi sinh truyền thống Điều này có thể giải thích là
do PCR phát hiện được các tác nhân mà nuôi cấy bình
thường không phát hiện được như vi khuẩn không
điển hình, siêu vi và PCR phát hiện được tác nhân với
số lượng ít ở những bệnh nhân đã dùng kháng sinh
trước đó
Dựa vào kết quả cấy NTA, PCR đàm và cấy
máu, trong 16 mẫu nghiên cứu có 12 mẫu chúng tôi
xác định được tác nhân gây bệnh, chiếm tỉ lệ 75%,
không xác định được tác nhân gặp trong 25%
trường hợp Chúng tôi ghi nhận vi khuẩn chiếm tỉ lệ
cao nhất 50%, tiếp theo là vi khuẩn không điển hình
12,5%, siêu vi 6,3%, đồng nhiễm vi khuẩn - vi
khuẩn không điển hình 6,3% Nghiên cứu của
Tumgor ghi nhận tỉ lệ các tác nhân viêm phổi bệnh
như sau: vi khuẩn 25%, vi khuẩn không điển hình
6,3%, đồng nhiễm (vi khuẩn, vi khuẩn không điển
hình) 65,5%(14) Chúng tôi ghi nhận vi khuẩn Gram
dương và Gram âm có tỉ lệ bằng nhau 33,4%
Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hiền có tỉ lệ vi khuẩn
Gram dương cao hơn Gram âm (54,5% và
45,5%)(7) Các nghiên cứu trước đây thực hiện ở
Việt Nam đều có tỉ lệ vi khuẩn Gram âm cao
Ngô Thị Thu Hiền khác với các nghiên cứu khác là
do chúng tôi xác định tác nhân dựa vào PCR và cấy
vi sinh chứ không chỉ dựa vào cấy vi sinh như các
nghiên cứu trước đây Phương pháp phân tích PCR
làm tăng tỉ lệ phân lập các tác nhân khó nuôi cấy
như S pneumoniae
M pneumoniae trong nghiên cứu dương tính ở
3/16 trường hợp (tính cả đơn nhiễm và đồng
nhiễm), trong nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hiền
trên bệnh nhân viêm phổi bệnh viện muộn là
37,5%(7) Nghiên cứu của Tumgor có tỉ lệ M
pneumoniae đơn nhiễm là 6,2%, đồng nhiễm là
36,8%(14) Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi
thấp hơn 2 nghiên cứu kia có thể do dân số nghiên
cứu khác nhau và một số trẻ trong nghiên cứu của
chúng tôi có sử dụng kháng sinh nhóm Macrolides
trước đó Hiện nay PCR được coi là phương pháp
tốt nhất phát hiện M pneumoniae trong bệnh phẩm
nhờ có độ nhạy và độ đặc hiệu cao Báo cáo của
Vervloet về M pneumoniae ghi nhận phương pháp
cấy có độ nhạy 61%, độ đặc hiệu là 100%, huyết
thanh chẩn đoán ELISA có độ nhạy từ 83 - 100%,
độ đặc hiệu 79 - 100% tùy theo nghiên cứu và kit
xét nghiệm, PCR có độ nhạy 78 - 100%, độ đặc
hiệu 92 - 100% tùy kỹ thuật(16) Hiện nay tại bệnh viện Nhi đồng 2 không có môi trường cấy đặc biệt
cho M pneumoniae nên không thể phát hiện được
tác nhân này dựa vào nuôi cấy vi sinh Đối với huyết thanh chẩn đoán, khuyến cáo nên xét nghiệm
cả IgM và IgG IgM xuất hiện từ ngày 7 - 10 ngày
sau khi nhiễm M pneumoniae và hiệu giá kháng
thể của tái nhiễm thấp hơn nhiễm lần đầu IgG tăng chậm hơn và thường không phát hiện được trong tuần đầu tiên, tồn tại kéo dài vài năm Tuy nhiên phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu tùy thuộc vào kit xét nghiệm
Chúng tôi ghi nhận S aureus chiếm tỉ lệ 16,7%
và đều kháng Methicillin Kết quả PCR ghi nhận có
sự hiện diện của các gen kháng thuốc mecA, nuc, femA trên cả 2 mẫu bệnh phẩm dương tính Không phân tích gen Panton - Valentine leukocidin trong
nghiên cứu này Trên kháng sinh đồ ghi nhận S aureus kháng với Oxacillin, nhạy Vancomycin,
Clindamycin và Rifamycin Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh trên bệnh nhân viêm phổi bệnh viện tại
bệnh viện Nhi đồng 1 ghi nhận S aureus kháng
Oxacillin 86,7%, kháng Penicillin 100%, nhạy 100% với Vancomycin, 66,7% với Rifamycin(12) Các nghiên cứu khác trên thế giới ghi nhận tỉ lệ kháng
Methicillin của S aureus ngày càng gia tăng nhưng
còn nhạy cảm với Vancomycin(6) Như vậy Vancomycin là lựa chọn hàng đầu cho những trường
hợp nghi ngờ nhiễm tụ cầu kháng thuốc S aureus
nhạy cảm vừa với Vancomycin (MIC 8 -16 ug/ml) hay kháng với Vancomycin (MIC 32 – 1024 ug/ml) đều nhạy với Linezolid Tuy nhiên, dòng S.aureus kháng Linezolid đã xuất hiện, hiện chiếm tỉ lệ nhỏ(12)
S pneumoniae là tác nhân thường gặp trên bệnh
nhân viêm phổi bệnh viện khởi phát sớm Chúng tôi
ghi nhận S pneumoniae chiếm 16,7% trường hợp Tỉ
lệ S pneumoniae trong nghiên cứu của chúng tôi cao
hơn so với các nghiên cứu trước đó vì chúng tôi sử dụng phương pháp PCR để xác định tác nhân vi
pneumoniae trong mẫu đàm có thể do nhiều nguyên
nhân, bao gồm chậm trễ trong xử lý mẫu, do nhân viên xét nghiệm hoặc do bệnh nhân đã dùng kháng sinh trước đó Nhiều nghiên cứu cho thấy cấy đàm tìm
S pneumoniae dễ âm tính nếu bệnh nhân đang được
điều trị kháng sinh, trong khi đó PCR vẫn luôn dương
dù đang điểu trị(2) Trên kháng sinh đồ ghi nhận S pneumoniae kháng với Cephalosporin thế hệ 3 và
Macrolides, nhạy với Levofloxacin và Vancomycin
Nghiên cứu ANSORP ghi nhận tỉ lệ S pneumoniae ở
Việt Nam đề kháng với Penicillin là 71,4% và kháng Erythromycin là 92,1%(11)
Trang 6Chúng tôi ghi nhận A baumannii đa kháng, còn
nhạy với Levofloxacin, Carbapenem, Polymyxin B
Tỉ lệ A baumannni đa kháng ngày càng tăng trên thế
giới và tại Việt Nam Đã có những báo cáo về những
chủng A baumannnii kháng tất cả các loại kháng
sinh Tại các nước châu Á tỉ lệ A baumannii đa kháng
là 82%, siêu kháng (chỉ nhạy Polymyxin) 51,1% và
0,8% kháng với cả Polymyxin(3) Việc sử dụng kháng
sinh không đúng chỉ định, dùng kháng sinh phổ rộng
kéo dài làm tăng áp lực chọn lọc vi khuẩn kháng
thuốc Điều trị hiện nay đối với Acinetobacter đa
kháng là kết hợp giữa nhóm Carbapenems với
Colistin
KẾT LUẬN
PCR NTA xác định được tác nhân gây bệnh trong
10/16 trường hợp (62,5%) trong khi cấy NTA chỉ
dương trong 4/16 trường hợp (25%), do đó ngoài việc
cấy bệnh phẩm nên sử dụng PCR để xác định tác
nhân gây bệnh Mycoplasma pneumoniae dương tính
trong 3/16 trường hợp, do đó nếu điều trị viêm phổi
bệnh viện không đáp ứng nên nghĩ tới và cân nhắc
điều trị tác nhân này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 ATS/IDSA (2005) Guidelines for the Management of Adults with
Hospital-acquired, Ventilator-associated, and Healthcare-associated
Pneumonia American Journal of Respiratory and Critical Care
Medicine, 171(4):388-416
2 Jamal W, Al Roomi E, AbdulAziz LR (2014) Evaluation of Curetis
Unyvero, a multiplex PCR-based testing system, for rapid detection of
bacteria and antibiotic resistance and impact of the assay on
management of severe nosocomial pneumonia Journal of Clinical
Microbiology, 52(7):2487-2492
3 Kang C, Song JH (2013) Antimicrobial resistance in Asia: current
epidemiology and clinical implications Infection & Chemotherapy,
45(1):22-31
4 Lê Ái Thanh (2014) Đặc điểm viêm phổi liên quan thở máy tại khoa
Hồi sức tích cực và chống độc Bệnh viện Nhi Đồng 2 Luận văn Thạc
sĩ Y học, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh, tr.37
5 Lynch JP (2001) Hospital-acquired pneumonia: risk factors,
microbiology, and treatment Chest Journal, 119(2):373S-384S
6 Madani N, Rosenthal VD, Dendane T (2009) Health-care associated infections rates, length of stay, and bacterial resistance in an intensive care unit of Morocco: findings of the International Nosocomial
Infection Control Consortium (INICC) International Archives of Medicine, 2(1):29
7 Ngô Thị Thu Hiền, Phùng Nguyễn Thế Nguyên (2016) Đặc điểm vi sinh qua cấy đàm và PCR đàm trên trẻ viêm phổi liên quan thở máy tại
khoa Hồi sức tích cực chống độc bệnh viện Nhi đồng 1 Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh, tr.48
8 Nguyễn Phước Mỹ Linh, Nguyễn Thị Thanh Lan (2011) Đặc điểm nhiễm khuẩn bệnh viện tại phòng bệnh nặng khoa tim mạch bệnh viện
nhi đồng 2 Y học Tp Hồ Chí Minh, 15(1):pp.255
9 Nguyễn Thị Lệ Thúy, Hoàng Trọng Kim (2005) Đánh giá viêm phổi trên trẻ được thông khí hỗ trợ tại khoa hồi sức cấp cứu, bệnh viện nhi
đồng 1 Y học Tp Hồ Chí Minh, 9(1):11
10 Nguyễn Thị Mỹ Linh, Phan Hữu Nguyệt Diễm (2011) Tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây viêm phổi bệnh viện ở trẻ em
từ 1 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 1/5/2009 đến
1/5/2010 Y học Tp Hồ Chí Minh, 15(1):333
11 Song JH, Jung SI, Ko KS (2004) High prevalence of antimicrobial resistance among clinical Streptococcus pneumoniae isolates in Asia
(an ANSORP study) Antimicrobial Agents and Chemotherapy,
48(6):2101-2107
12 Stefani S, Chung DR, Lindsay JA (2012) Methicillin-resistant Staphylococcus aureus (MRSA): global epidemiology and
harmonisation of typing methods International Journal of Antimicrobial Agents, 39(4):273-282
13 Torres A, Ewig S, Lode H (2009) Defining, treating and preventing
hospital acquired pneumonia: European perspective Intensive Care Medicine, 35(1):9-29
14 Tumgor G, Celik U, Alabaz D (2006) Aetiological agents,
interleukin-6, interleukin-8 and CRP concentrations in children with
community-and hospital-acquired pneumonia Annals of Tropical Paediatrics,
26(4):285-291
15 Uvizl R, Hanulik V, Husickova V (2011) Hospital-acquired
pneumonia in ICU patients Biomed Pap Med Fac Univ Palacky Olomouc Czech Repub, 155(4):373-8
16 Vervloet LA, Marguet C, Camargos PA (2007) Infection by
Mycoplasma pneumoniae and its importance as an etiological agent in
childhood community-acquired pneumonias Brazilian Journal of
Infectious Diseases, 11(5):507-514
Ngày nhận bài báo: 13/06/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/06/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/08/2019