1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) tại khoa nội tổng hợp - Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

5 178 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 284,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị đợt cấp COPD tại khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG ĐỢT CẤP CỦA BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD) TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP - BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phan Quang Khải*, Đặng Nguyễn Đoan Trang*

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh lý hô hấp thường gặp và là một trong những

nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới Đợt cấp COPD là nguyên nhân chính của việc thăm khám bác sĩ, nhập viện và tử vong ở bệnh nhân COPD Bên cạnh việc cải thiện chức năng hô hấp, điều trị nhiễm khuẩn luôn là vấn đề hàng đầu trong điều trị đợt cấp COPD

Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị đợt cấp COPD tại khoa Nội tổng hợp Bệnh

viện Đại học Y Dược TP HCM

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 150 bệnh nhân nội trú được chẩn đoán đợt

cấp COPD tại khoa Nội tổng hợp bệnh viện ĐH Y Dược TP HCM từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2015

Kết quả: Bệnh nhân trong nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 76,13 ± 11,03; chủ yếu là nam giới (79,3%)

Hơn một nửa bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá Bệnh mắc kèm hay gặp nhất bao gồm tăng huyết áp, Cushing do thuốc và viêm phổi Triệu chứng lâm sàng gặp ở tất cả các bệnh nhân là tăng khó thở Tỷ lệ cấy đàm dương tính thấp (31,9%) Tác nhân gây bệnh được phân lập phổ biến nhất là Streptococcus spp Sự đề kháng được ghi nhận ở tất cả các kháng sinh được chỉ định làm kháng sinh đồ Nhóm kháng sinh được lựa chọn nhiều nhất là fluoroquinolon Phối hợp kháng sinh ban đầu được chỉ định nhiều nhất là levofloxacin - ceftazidim Có 42% bệnh nhân cần phải thay đổi phác đồ điều trị ban đầu Tỷ lệ điều trị thành công chiếm 83,3% Chỉ định nhập ICU là yếu tố duy nhất có liên quan với hiệu quả điều trị

Kết luận: Bệnh viện cần xây dựng phác đồ điều trị đợt cấp COPD dựa trên tình hình đề kháng của

riêng bệnh viện Tiền sử bệnh cần được khai thác kĩ hơn nhằm hỗ trợ việc đánh giá độ nặng đợt cấp và chỉ định kháng sinh

Từ khóa: COPD, đợt cấp COPD, kháng sinh

ABSTRACT

INVESTIGATION ON ANTIBIOTIC USE IN ACUTE EXACERBATIONS OF CHRONIC OBSTRUCTIVE

PULMONARY DISEASE AT THE DEPARTMENT OF GENERAL INTERNAL MEDICINE, UNIVERSITY MEDICAL CENTER HCMC

Phan Quang Khai, Dang Nguyen Doan Trang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 183 - 187

Background: Chronic obstructive pulmonary disease (COPD), a common respiratory condition, is one of the

leading causes of death worldwide Acute exacerbations of COPD are the major cause of frequent outpatient clinic visits, hospitalization and high mortality In addition to improving lung function, antibiotic therapy is the mainstay of management of COPD exacerbations

Objectives: To investigate the use of antibiotics in COPD exacerbations at the Department of General

Trang 2

Internal Medicine, University Medical Center HCMC

Methods: Descriptive cross-sectional study on 150 in-patients diagnosed with COPD exacerbations

admitted to Department of General Internal Medicine, University Medical Center HCMC from 01/2015 to

04/2015

Results: The mean age of the study population was 76.13 ± 11.03; 119 (79,3%) were male Over half of the

study population was found with smoking history The most common comorbidities include hypertension, drug-induced Cushing and pneumonia All of the patients had increased dyspnea The rate of positive sputum culture was low (31,9%) The most commonly isolated pathogen was Streptococcus spp Resistance to the pathogens isolated was observed in all antibiotics indicated for antimicrobial susceptibility test The most common class of antibiotic indicated was fluoroquinolon; levofloxacin-ceftazidim was the most common combination of first-line antibiotics empirically indicated Change in antibiotic regimen was recorded in 42% of the hospital profiles Indication for ICU admission was the only factor significantly associated with treatment outcome

Conclusion: Guidelines for the treatment of acute exacerbations of COPD should be established at

University Medical Center HCMC based on local patterns of antibiotic resistance Patients’ medical history should be taken more closely into account for severity assessment and indication of antibiotics

Key words: COPD, acute exacerbation of COPD, antibiotics

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là

một bệnh lý rất phổ biến và có xu hướng ngày

càng gia tăng, đặc biệt ở các nước đang phát

triển Trên thế giới hiện nay có khoảng 600 triệu

người mắc bệnh(4) Việt Nam là nước có tỉ lệ

COPD cao nhất khu vực châu Á Thái Bình

Dương với hơn 4 triệu người mắc theo ước tính

năm 2003(7)

Đợt cấp COPD là nguyên nhân thường gặp

nhất của việc thăm khám bác sĩ, nhập viện và tử

vong ở bệnh nhân COPD(6) Số liệu thống kê ở

Việt Nam năm 2011 cho thấy bệnh nhân COPD

thường chiếm 25% số giường trong các khoa hô

hấp, trong phòng chăm sóc tích cực lúc nào cũng

có bệnh nhân COPD thở máy và tỷ lệ tử vong tại

khoa hồi sức cấp cứu lên đến 32,6%(5) Ngay cả

sau khi đã giải quyết đợt cấp, sự suy giảm về

chức năng hô hấp, thể chất và tinh thần có thể

kéo tiếp tục kéo dài dai dẳng Thời gian hồi phục

hoàn toàn do đợt cấp trung bình mất hơn 3

tháng(2) Những bệnh nhân có đợt cấp xảy ra

thường xuyên bị giảm chất lượng sống và tăng

ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe người bệnh

Tại Việt Nam, vấn đề sử dụng thuốc trong điều trị đợt cấp COPD, cụ thể là khu vực thành phố Hồ Chí Minh, vẫn còn chưa được nghiên cứu, báo cáo và cập nhật thường xuyên(5)

Trên cơ sở đó, nghiên cứu được tiến hành với mục đích khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị đợt cấp COPD tại khoa Nội tổng hợp bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

150 bệnh nhân nội trú được chẩn đoán đợt cấp COPD tại khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược Tp HCM từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2015 dựa trên các tiêu chuẩn:

- Khó thở với các đặc điểm: nặng dần (đặc biệt khi vận động) và dai dẳng

- Ho mạn tính có thể không có đàm, tăng dần gần đây

- Số lượng đàm tăng và có thể có đàm mủ (đàm đổi màu từ trắng sang vàng hoặc xanh)

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu:

Mô tả cắt ngang

Xử lý số liệu

Tất cả các phép kiểm thống kê được thực

hiện với phần mềm SPSS20, các thông số được

coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Việc đánh giá các yếu tố liên quan đến tình

trạng bệnh lúc xuất viện được phân tích bằng

phương trình hồi quy logistic đa biến

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu (N =

150)

Giới (%) Nam

Nữ Tuổi trung bình (năm)

Tiền sử (%) Hút thuốc lá Hen phế quản

Thời gian mắc COPD (trên 1 năm)

Bệnh lý kèm theo (%)

Tăng huyết áp

Cushing do thuốc

Viêm phổi Bệnh tim thiếu máu cục bộ

Đái tháo đường týp II

Suy tim Yếu tố nguy cơ nhiễm các chủng vi khuẩn

Gram âm đa đề kháng* (%)

Có Không Bệnh nhân có chỉ định nhập ICU (%)

Triệu chứng cơ năng điển hình (%)

Tăng khó thở

Tăng tiết đàm

Tăng đàm mủ

79,3 20,7 76,1  11,0 54,7 10,0 58,0 63,3 55,3 55,3 44,7 10,0 8,0 78,0 22,0 10,7

100

80 31,2

*Yếu tố nguy cơ nhiễm các chủng vi khuẩn

Gram âm đa đề kháng bao gồm: Nhập viện ≥ 2

ngày trong vòng 90 ngày trước, sử dụng kháng

sinh trong vòng 3 tháng trước, sử dụng corticoid

toàn thân dài ngày (COPD lâu năm, biểu hiện

Cushing), COPD mức độ nặng (FEV1< 50% dự

đoán), các chủng vi khuẩn Gram âm đa đề kháng thường trú trong giai đoạn ổn định hoặc phân lập được trong đợt cấp trước đó

Độ nặng đợt cấp COPD

Dựa trên tiêu chuẩn phân loại về độ nặng của đợt cấp COPD theo Anthonisen(1), các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được phân thành 3 nhóm:

Typ I (nặng): 20,6%

Týp II (trung bình): 54,7%

Týp III (nhẹ): 24,7%

Các tác nhân gây nhiễm khuẩn

Trong 150 hồ sơ bệnh án khảo sát, có 113 trường hợp được chỉ định lấy mẫu bệnh phẩm

để định danh vi khuẩn (qua các kĩ thuật nhuộm Gram và cấy đàm) Tuy nhiên, tỷ lệ cấy đàm dương tính còn thấp (31,9%) Trong các vi khuẩn phân lập được, vi khuẩn gram âm chiếm tỷ lệ

cao (61%), thường gặp nhất là Acinetobacter

baumannii (27,8%) và Pseudomonas aeruginosa

(13,9%) Vi khuẩn gram dương gặp chủ yếu là

Streptococcus spp (33,3%)

Sự đề kháng được ghi nhận ở tất cả các kháng sinh được chỉ định làm kháng sinh đồ

Tình hình sử dụng kháng sinh

148/150 số bệnh nhân được chỉ định kháng sinh trong đợt cấp COPD

Các nhóm kháng sinh được sử dụng với tỷ lệ cao bao gồm fluoroquinolon, cephalosporin (thế

hệ II và III), carbapenem và penicillin, trong đó levofloxacin (24,6%) và ceftazidim (10,8%) là 2 kháng sinh thường được ưu tiên chỉ định

Tỷ lệ chỉ định kháng sinh đơn trị ban đầu là 46,6%, tỷ lệ chỉ định kháng sinh phối hợp ban đầu là 53,4%

Trang 4

0,7 0,7 0,7 0,7 1,3 3,3 5,3 5,4 6,0 7,3

14,7

Ertapenem Cefixim Cefoperazon/sulbactam

Ceftazidim Amoxicillin/clavulanat

Levofloxacin

Tỷ lệ (%)

Hình 1: Các phác đồ kháng sinh đơn trị ban đầu

0,7 0,7 0,7 0,7 0,7 0,7 0,7 1,3 1,3 1,3 1,3 1,3 1,3 2,0 2,7 2,7 2,7 3,3 3,3 4,0

8,0

10,7

Meropenem+vancomycin Ceftriaxon+azithromycin Ceftazidim+amikacin Amoxicillin/clavulanat+ciprofloxacin

Moxifloxacin+meropenem Meropenem+amikacin Ceftazidim+clarithromycin Piperacillin/tazobactam+moxifloxacin

Ceftazidim+moxifloxacin Cefoperazon/sulbactam+levofloxacin

Ceftriaxon+levofloxacin

Tỷ lệ (%)

Hình 2: Các phác đồ kháng sinh phối hợp ban đầu

Có 42% bệnh nhân cần phải thay đổi phác đồ

điều trị ban đầu bao gồm việc lên thang kháng

sinh (61,3%), xuống thang kháng sinh (12,9%) và

thay thế kháng sinh cùng nhóm và có phổ tác

động tương tự (25,8%) Lý do chính của việc thay

đổi kháng sinh là tình trạng lâm sàng chưa cải

thiện của bệnh nhân

Hiệu quả điều trị

Trong nghiên cứu này, tình trạng lúc xuất

viện dựa trên hồ sơ bệnh án được lựa chọn để

đánh giá hiệu quả điều trị Tình trạng lúc xuất

Kết quả khảo sát cho thấy tình trạng cải thiện lúc xuất viện chiếm tỷ lệ cao (83,3%) Thời gian nằm viện trung bình là 9,9 ± 6,5 ngày, thời gian điều trị kháng sinh trung bình là 8,9 ± 4,1 ngày Khi xét mối quan hệ đơn lẻ của từng yếu

tố với hiệu quả điều trị, kết quả phân tích gợi ý các yếu tố giới tính, chỉ định nhập ICU và tổng

số kháng sinh sử dụng có liên quan với hiệu quả điều trị Trong khi đó, kết quả phân tích chưa cho thấy mối liên quan giữa hiệu quả điều trị với các yếu tố tuổi, tiền sử hút thuốc lá, độ nặng của

Trang 5

các biến và giúp cho việc đánh giá chính xác mối

liên quan của tất cả các biến với hiệu quả điều

trị, các biến liên quan được phân tích trong mô

hình hồi quy logistic đa biến Kết quả phân tích

cho thấy chỉ định nhập ICU là yếu tố duy nhất có

liên quan với hiệu quả điều trị (OR=9,78; p=0,01)

BÀN LUẬN

Kết quả khảo sát trên 150 bệnh nhân nội trú

được chẩn đoán đợt cấp COPD cho thấy tỷ lệ cấy

đàm dương tính thấp (31,9%), các tác nhân gây

bệnh thường gặp trong đợt cấp COPD như

Haemophilus influenza, Moraxella catarrhalis không

được tìm thấy trong khảo sát Điều này phản ánh

sự kém tin cậy của kết quả cấy đàm trong việc

định danh vi khuẩn gây bệnh trong đợt cấp

COPD Theo khuyến cáo của GOLD, cấy đàm chỉ

có ích ở đối tượng bệnh nhân nghi ngờ cao có

nhiễm khuẩn và không đáp ứng với phác đồ

kháng sinh ban đầu (4)

Tác nhân gây bệnh được phân lập phổ biến

nhất là Streptococcus spp Sự đề kháng được ghi

nhận ở tất cả các kháng sinh được chỉ định làm

kháng sinh đồ Fluoroquinolon và cephalosporin

thế hệ 3 là 2 nhóm kháng sinh được sử dụng

nhiều nhất (34,9% và 29,3%) Theo hướng dẫn

của Global Initiative for Chronic Obstructive

Lung Disease (GOLD), Bộ Y tế cũng như một số

hướng dẫn điều trị đợt cấp COPD khác, đây là 2

nhóm kháng sinh thường được khuyến cáo, đặc

biệt trong đợt cấp mức độ trung bình và nặng(3,4)

Kết quả khảo sát cũng cho thấy tiền sử bệnh

và tiền sử sử dụng thuốc của bệnh nhân chưa

được khai thác đầy đủ trong hồ sơ bệnh án dẫn

đến việc đánh giá chưa chính xác độ nặng của

đợt cấp và việc chỉ định kháng sinh chưa phù

hợp Tại thời điểm khảo sát, việc điều trị đợt cấp

của COPD tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP

HCM vẫn chủ yếu dựa trên hướng dẫn của

GOLD Các hướng dẫn điều trị đợt cấp COPD

dựa trên tình hình đề kháng tại bệnh viện vẫn

chưa được thiết lập, gây nhiều khó khăn cho

công tác điều trị

KẾT LUẬN

Đề tài đã khảo sát được các đặc điểm chung,

độ nặng, tình hình sử dụng và đề kháng kháng sinh của 150 bệnh nhân nội trú được chẩn đoán đợt cấp COPD tại Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2015 Kết quả thu được cho thấy để tăng cường hiệu quả điều trị đợt cấp của COPD

và hạn chế sự đề kháng kháng sinh, bệnh viện cần khai thác đầy đủ các thông tin về tiền sử bệnh, đặc biệt là tiền sử dùng thuốc của bệnh nhân, tiến hành chỉ định sớm việc thực hiện kháng sinh đồ và sử dụng thuốc dựa trên kháng sinh đồ Bệnh viện cũng cần định kỳ khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh để có căn cứ xây dựng và cập nhật các hướng dẫn điều trị Các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và nghiên cứu tiến cứu cần được tiến hành để xác định chính xác hơn mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ

và hiệu quả điều trị đợt cấp của COPD

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anthonisen NR, et al (1987) Antibiotic therapy in exacerbations of chronic obstructive pulmonary disease,

Ann Intern Med., 106 (2), pp 196-204.

2 Anzueto A (2010) Impact of exacerbations on COPD, Eur

Respir Re 19: 113-118

3 Bộ Y tế (2015) Hướng dẫn sử dụng kháng sinh (ban hành kèm theo Quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 02/03/2015)

4 Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD) (2015) Global strategy for the diagnosis, management, and prevention of COPD: Revised 2015

5 Lê Thị Tuyết Lan (2011) The actuality of chronic obstructive pulmonary disease (COPD) in Viet Nam, J Fran Viet Pneu.,

02: 1-86

6 O'Donnell de AS, Bourbeau J, et al (2003) State of the art compendium: Canadian Thoracic Society recommendations for the management of chronic obstructive pulmonary

disease, Can Respir J., 1:3B - 59B

7 Wanc T, et al (2003) COPD prevalence in 12 Asia-Pacific

countries and regions, Respirology, 8: 192-198

Ngày nhận bài báo: 30/10/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm