Bài viết xác định tỉ lệ mắc đa hồng cầu và hiệu quả của thuốc ức chế men chuyển (ACEI) và ức chế thụ thể AT1 trên bệnh nhân sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Trang 1ĐA HỒNG CẦU TRÊN BỆNH NHÂN SAU GHÉP THẬN
TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Hoàng Khắc Chuẩn*, Thái Minh Sâm*
TÓM TẮT
Mở đầu: Đa hồng cầu là biến chứng thường gặp trên bệnh nhân sau ghép thận, có thể có liên quan đến tình trạng tăng huyết áp và thuyên tắc, được xác định khi hematocrit ≥ 51% hoặc Hemoglobin ≥ 160 g/L hoặc cả hai Mục tiêu: xác định tỉ lệ mắc đa hồng cầu và hiệu quả của thuốc ức chế men chuyển (ACEI) và ức chế thụ thể AT1 trên bệnh nhân sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang, mô tả, được tiến hành trên 550 bệnh nhân
từ 01/01/2004 đến 31/01/2015 tại phòng khám Ghép thận, bệnh viện Chợ Rẫy
Kết quả: tỉ lệ mắc đa hồng cầu trên bệnh nhân sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy 9,63% (53/550) (5 nữ (9%), 48 nam (91%)) với thời gian khởi phát trung bình sau ghép: 16,3 tháng (2,8 đến 67,4 tháng) Bệnh nhân được điều trị với ACEI và ức chế thụ thể AT1 có các giá trị trung bình của hồng cầu (HC), hemoglobin (Hb) và hematocrit (Hct) trước can thiệp lần lượt là: 6,08.10 6 /mm 3 , 172,8 g/L, 54,5%; sau can thiệp, các giá trị trên lần lượt là: 5,4.10 6 /mm 3 , 149,8 g/L, 47,4% với thời gian điều trị 9,35 tuần (có hiệu quả sớm nhất sau 1,3 tuần (9 ngày) và chậm nhất 23,6 tuần)
Kết luận: Đa hồng cầu sau ghép thận là một hiện tượng lành tính, xuất hiện ở nam nhiều hơn nữ, thường xảy ra sớm trong vòng 1 – 2 năm đầu sau ghép, có thể điều trị hiệu quả với thuốc ACEI và ức chế AT1
Từ khóa: đa hồng cầu, ghép thận, thuốc ức chế men chuyển, thuốc ức chế thụ thể
ABSTRACT
ERYTHROCYTOSIS AFTER RENAL TRANSPLANTATION AT CHO RAY HOSPITAL
Hoang Khac Chuan, Thai Minh Sam * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 1 - 2016: 11 - 16 Introduction: Erythrocytosis, a common complication after kidney transplantation associated with hypertention and thrombosis, is considered when hematocrit level equal to or greater than 51%, or a hemoglobin level equal to or greater than 16o g/L, or both, without other causes
Objective: to sudy the prevalence of erythrocytosis after kidney transplantationat Cho Ray hospital as well
as the efficacy of treatment with angiotensin converting enzyme inhibitors (ACEI) and angiotensin (AT) receptor antagonists
Methods: a cross-sectional descriptive study on 550 patients after kidney transplantation evaluated from January 2004 to January 2015 at Cho Ray hospital
Results: The prevalence of post-transplant erythrocytosis (PTE) at Cho Ray hospital was 9.63% (5 female (9%),
48 male (91%)), appeared at an average of 16.3 months (range, 2.8-67.4 months) after transplant Before treatment, mean red blood cell count (RBC), hemoglobin (Hb) and hematocrit (Hct) were: 6.08.10 6 /mm 3 , 172.8 g/L, 54.5%, respectively These patients underwent ACEI and AT receptor antagonists therapy in the average time of 9.35 weeks to decrease these erythrocyte indices to normal values (Hct<51%, Hb<160 g/L) At the time of last follow
up, the mean RBC, Hb and Hct were 5.4.10 6 /mm 3 , 149.8 g/L, 47.4%, respectively
Conclusion: Erythrocytosis, a benign phenomenon occurring mostly in male patients, is usually
* Khoa Ngoại Niệu, BV Chợ Rẫy
Trang 2encountered within 1-2 years of post-renal transplant period and can be treated effectively and safely with ACEI and AT receptor antagonists
Keywords: Erythrocytosis, renal transplant, angiotensin converting enzyme inhibitors and angiotensin receptor antagonists, post-transplant erythrocytosis
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa hồng cầu sau ghép thận là một trong các
biến chứng thường gặp sau với tỉ lệ dao động từ
8-15%, cá biệt có nghiên cứu cho thấy tỉ lệ này
lên đến 22,2% thường xuất hiện trong 8-24 tháng
đầu tiên sau ghép(5,12,20) Biến chứng này có thể tự
hồi phục khoảng 25% trong tổng số các trường
hợp, các bệnh nhân còn lại sẽ có tình trạng tăng
Hct kéo dài hoặc tăng cho đến khi thải ghép Sự
tăng tạo hồng cầu có thể làm tăng độ nhớt của
máu và gây ra nguy cơ thuyên tắc Một nghiên
cứu của Wickre và cộng sự cho thấy PTE làm
tăng nguy cơ thuyên tắc lên 18,9% so với bệnh
nhân không có PTE, tuy vậy những nghiên cứu
khác lại không tìm thấy mối liên quan này(8,21)
Mặc dù cơ chế bệnh sinh của đa hồng cầu sau
ghép chưa rõ, nhưng các nhà nghiên cứu cho
rằng có một số yếu tố nguy cơ liên quan đến đa
hồng cầu sau ghép thận như: hẹp động mạch
thận ghép, giai đoạn thải ghép cấp, tổng hợp
erythropoietin (EPO) của thận gốc, viêm thận,
tổng hợp EPO từ gan, độc thận ghép từ CsA,
bệnh nhân giới tính nam (6,21) Cơ chế gây đa
hồng cầu trên nhóm bệnh nhân có nồng độ EPO
bình thường được cho là do đáp ứng quá mức
của các yếu tố tiền thân kích thích tủy xương tạo
hồng cầu (medullar erythroid precursors) Trong
khi đó, hematocrit lại giảm trong suốt quá trình
điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển mà
không cần xác định nồng độ EPO, có thể do
nhóm thuốc này gây ức chế tủy hoặc thúc đẩy
quá trình rút ngắn đời sống hồng cầu Việc chẩn
đoán sớm và điều trị đa hồng cầu sau ghép là
cần thiết nhằm hạn chế các biến chứng có thể
dẫn đến tử vong Cho đến nay, tại Việt Nam các
nghiên cứu bàn về tình hình đa hồng cầu và các
biện pháp điều trị còn hạn chế, chính vì thế,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu Đa hồng cầu trên
bệnh nhân sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy
Mục tiêu
Xác định tỉ lệ mắc đa hồng cầu trên bệnh
nhân sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy Đánh giá hiệu quả của thuốc ức chế men chuyển (ACEI) và ức chế thụ thể AT1 điều trị đa hồng cầu trên bệnh nhân sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành trên 550 bệnh nhân sau ghép thận đang được theo dõi, điều trị ngoại trú tại phòng khám ghép thận, khoa Ngoại Tiết niệu, bệnh viện Chợ Rẫy, từ 1/1/2004 đến 31/1/2015
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân được ghép thận tối thiểu là 3 tháng tại bệnh viện Chợ Rẫy và các trung tâm ghép thận trong và ngoài nước, đang được theo dõi, điều trị ngoại trú tại phòng khám ghép thận, khoa Ngoại Tiết niệu, bệnh viện Chợ Rẫy, đồng
ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn chẩn đoán đa hồng cầu sau ghép:
Bệnh nhân có hematocrit ≥ 51% hoặc Hemoglobin ≥ 160g/L hoặc cả hai
Tiêu chuẩn loại trừ
Những trường hợp có tiền sử đa hồng cầu trước ghép (Hct >51%), bệnh phổi tắc nghẽn, suy tim
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang, mô tả
Các bước tiến hành
Các đối tượng nghiên cứu được khám sức khỏe tổng quát bao gồm : đo huyết áp, siêu âm bụng tổng quát, X-quang tim phổi, siêu âm doppler thận ghép, ghi điện tim
Trang 3Các yếu tố nguy cơ được đánh giá trong
nghiên cứu bao gồm: tuổi, giới tính, thuốc ức chế
miễn dịch, thói quen hút thuốc, tăng huyết áp,
đái tháo đường, hẹp động mạch thận ghép, cắt
thận gốc
Các thông số huyết học được đánh giá bằng
(Hematology system 33 thông số) bao gồm: số
lượng hồng cầu, Hematocrit, Hemoglobin (Hb),
Kỹ thuật định lượng creatinine: phương
pháp động học Jaffe với máy phân tích tự động
HITACHI 917, sử dụng bộ thuốc thử có chứng
nhận IVD
Xử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu được xử lý thống kê bằng
phần mềm SPSS 16.0
KẾT QUẢ
Tỉ lệ đa hồng cầu sau ghép
Nghiên cứu được thực hiện trên 550 bệnh
nhân đang theo dõi và điều trị tại bệnh viện
Chợ Rẫy, trong đó 53/550 bệnh nhân, chiếm tỉ
lệ 9,63% bệnh nhân có biến chứng đa hồng cầu
sau ghép
Trong 53 bệnh nhân đa hồng cầu sau ghép
thận có 5 nữ (9%), 48 nam (91%)
Bảng 1 Các đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân đa
hồng cầu sau ghép thận
Chỉ số Nhóm BN Đa hồng cầu sau ghép Tuổi (năm) 37 tuổi
Thời gian khởi phát (tháng)
16,3 tháng (2,8-67,4 tháng) HATT (mmHg) 132mmHg HATTr (mmHg) 82mmHg Creatinin (mg%) 1,23mg%
Bảng 2 Nhóm công thức ức chế miễn dịch sử dụng trên nhóm bệnh nhân đa hồng cầu sau ghép
Công thức thuốc ức chế miễn dịch* Tỉ lệ
FK + MMF + Prednisone 28/53 (52,8%) CsA + MMF + Prednisone 22/53 (41,5%)
FK + MMF 2/53 (3,8%)
FK + Imuran + Prednison 1/53 (1,9%)
Nhận xét: Hai công thức ức chế miễn dịch
được sử dụng nhiều nhất là FK + MMF + Prednisone và CsA + MMF + Prednisone
Sự thay đổi các chỉ số huyết học sau khi
sử dụng nhóm thuốc ức chế men chuyển
Bảng 3 Đặc điểm các chỉ số huyết học trên bênh nhân
đa hồng cầu sau ghép thận
Chung (N=53) Nam (n=48) Nữ (n=5) Hồng cầu (106/mm3) 6,08 6,11 5,792 * Hct (%) 54,5 54,35 55,9
Hb (g/L) 172,8 173,3 168 **
*p<0,05 **p<0,01
Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về số lượng hồng cầu và Hb giữa nhóm nam và nhóm nữ đa hồng cầu sau ghép thận
Bảng 4 Sự thay đổi các chỉ số huyết học sau khi sử dụng nhóm thuốc ức chế men chuyển
Trước sử dụng nhóm ACEI Sau khi sử dụng nhóm ACEI Thời gian (T) T0 (N=53) T1 1 tuần
(n= 8)
T2 1 tháng (n=53)
T3 2 tháng (n=53)
T4 3 tháng (n=53)
T5 Thời điểm các chỉ số huyết học về bình thường Hồng cầu (106/mm3) 6,08 5,71 5,692* 5, 45* 5,25 5,4
Hct (%) 54,5 52,9 53.54 47,9** 46,2 47, 4
Hb (g/L) 172,8 168,7 168* 149,9* 147,4 149,8
*P < 0.05 ** P<0.01
Nhận xét: Thời gian điều trị trung bình 9,35
tuần để các chỉ số huyết học về bình thường
(có hiệu quả sớm nhất sau 1,3 tuần (9 ngày) và
chậm nhất 23,6 tuần) Có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về số lượng hồng cầu sau khi
sử dụng nhóm ACEI T2 so với T0, T3 so với T2 Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về Hematocrit giữa T3 so với T2 Sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê về Hb ở T2 so với T0 và T3 so với T2
Trang 4BÀN LUẬN
Tỉ lệ đa hồng cầu sau ghép và các yếu tố
liên quan
Trong số 550 bệnh nhân sau ghép thận được
theo dõi tại bệnh viện Chợ Rẫy, 53 bệnh nhân có
biến chứng đa hồng cầu sau ghép, chiếm tỉ lệ
9,63%, với thời gian khởi phát biến chứng trung
bình 16,3 tháng sau ghép, trong đó nam giới
chiếm 91% Chúng tôi ghi nhận trong suốt quá
trình phát hiện và điều trị biến chứng đa hồng
cầu, chức năng thận vẫn ổn định, sau 3 tháng sử
dụng nhóm thuốc ACEI, creatinine huyết thanh
1,2mg%, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê so với khi mới bắt bầu khởi phát biến chứng
đa hồng cầu Ngoài ra, chúng tôi không phát
hiện biến chứng thuyên tắc mạch do đa hồng
cầu Kết quả này gần tương đồng với các nghiên
cứu của Kiberd với tỉ lệ đa hồng cầu sau ghép
thận từ 1997-2006 là 8,1 % so với 18,7% trong giai
đoạn từ 1993-1996, trong đó bệnh nhân nam giới
làm tăng nguy cơ biến chứng lên 3,72 (95% CI
1,54-9,0; p = 0,003)(12) Einollahi nghiên cứu trên
500 bệnh nhân sau ghép thận cho thấy tỉ lệ đa
hồng cầu sau ghép là (20,2%) xuất hiện đa số ở
nam (82,2%), xuất hiện chủ yếu từ 2 đến 50 tháng
sau ghép (trung bình 11,2 +/- 8,9 tháng), trong đó
nhiều nhất 24 tháng đầu tiên (86%) với tỉ lệ bệnh
nhân có chức năng thận bình thường 82,2% (<1,5
mg/dL)(4) Một nghiên cứu của Saima Ahmed
trên 200 bệnh nhân sau ghép thận cho thấy tỉ lệ
đa hồng cầu là 20%, khởi phát sau 9,5 ± 2,5 tháng
sau ghép với chức năng thận ghép 1,06 ± 0,29,
xuất hiện chủ yếu ở nam với tỉ lệ 95%(18) Trong
một nghiên cứu của Basri trên 1655 bệnh nhân
sau ghép thận nhận xét tỉ lệ đa hồng cầu 9,6%,
với tỉ lệ nam giới chiếm 96,9%(2)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 9,63% bệnh
nhân có biến chứng đa hồng cầu, trong đó 94,3%
được áp dụng công thức thuốc ức chế miễn dịch
FK506/CsA + MMF + Prednisone Trong nghiên
cứu của Saima Ahmed, công thức thuốc ức chế
miễn dịch áp dụng chủ yếu là CsA +
Azathioprine + Prednisone cho thấy tỉ lệ đa hồng
cầu là 20%(18) Phải chăng khác nhau về công thức
ức chế miễn dịch sẽ làm thay đổi tỉ lệ biến chứng hồng cầu sau ghép? Perazella và cộng sự cho rằng nhóm sử dụng cyclosporine A có tỉ lệ đa hồng cầu cao hơn nhóm sử dụng azathioprine(17), tuy nhiên, trong nghiên cứu của Koziak lại không chứng minh được có sự khác nhau về Hct
và Hb giữa các nhóm bệnh nhân sử dụng AZA +
nghiên cứu của Augustine và cộng sự lại cho thấy rằng nồng độ Hb cũng như tỉ lệ đa hồng cầu ở nhóm sử dụng nhóm Sirolimus (Rapamune) cao hơn so với MMF(1) Tương tự, Kiberd cho thấy rằng nhóm MMF làm giảm nguy cơ biến chứng đa hồng cầu xuống còn 0,49, 95% (CI 0,237-0,99, p = 0,049)(12)
Hiệu quả của nhóm thuốc ức chế men chuyển trên biến chứng đa hồng cầu
Khi Hct > 55% sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng của đa hồng cầu, do đó các phương pháp điều trị được đề nghị để nhằm hạn chế các nguy
cơ trên nhất là vấn đề tắc mạch(9) (Kazory A) Trong đó, nhóm thuốc ức chế men chuyển và nhóm thuốc ức chế thụ thể được xem là có hiệu quả tốt trong điều trị biến chứng đa hồng cầu sau ghép thận, tuy nhiên vấn đề vẫn còn ít nhiều tranh cãi Ức chế men chuyển là nhóm thuốc làm giảm kháng lực mạch ở tiểu động mạch ra, tăng cường sự oxy hóa vùng quanh ống thận và do
đó làm giảm tín hiệu trong cơ chế của erythropoietin Ac-SDKP là một protein gồm 4 chuỗi peptide, bình thường có vai trò ức chế sự
đi vào của các tế bào gốc trong pha S, bị chuyển hóa bởi men chuyển (ACE) Với sự có mặt của thuốc ức chế men chuyển, Ac-SDKP bị tích tụ lại,
do đó sẽ làm giảm sự tạo hồng cầu(19) Ức chế thụ thể có thể làm giảm sản xuất erythropoietin trong thận ghép hoặc làm giảm sự nhạy cảm của các tế bào gốc dòng hồng cầu với erythropoietin Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian để các chỉ số hồng cầu trở về bình thường sau sử dụng nhóm thuốc ức chế men chuyển là 9,35 tuần, trong đó có 8 bệnh nhân được xét nghiệm lại sau
1 tuần đầu tiên đã cho thấy có sự giảm các chỉ số
Trang 5hồng cầu, và các chỉ số này giảm rõ có ý nghĩa
thống kê sau 1 và 2 tháng Trong nghiên cứu của
Kiberd cho thấy nhóm ACEI và nhóm ARBS có
khả năng làm giảm biến chứng đa hồng cầu
xuống chỉ còn 0,176, (95% CI 0,040-0,71, p =
0,016)(12) Trong khi đó Basri cho rằng biến chứng
đa hồng cầu có thể điều trị tốt bằng phương
pháp trích máu hay dùng nhóm thuốc ACEI và
nhóm ARBS(2) Một nghiên cứu của Montanaro
và cộng sự cho thấy chỉ số Hb giảm rõ sau 12
tháng và Hct giảm rõ sau 6 tháng sử dụng ACEI,
trong khi nồng độ erythropoietin giảm có ý
nghĩa sau tháng đầu tiên(14) Mustabic lại cho
rằng nhóm thuốc ACEI và nhóm ARBS làm giảm
Hct ở 90% bệnh nhân đa hồng cầu trong vòng từ
2 đến 6 tuần(16)
Biểu đồ sự thay đổi nồng độ Hemoglobin theo thời gian
130.0
135.0
140.0
145.0
150.0
155.0
160.0
165.0
170.0
175.0
Thời gian
Hb
Sự thay đổi Hematocrit theo thời gian
42.0
44.0
46.0
48.0
50.0
52.0
54.0
56.0
Thời gian
Hct
Cơ chế bệnh sinh của PTE bao gồm nhiều
yếu tố Trong nhiều trường hợp, sự tạo thành
hồng cầu do sự kích thích quá mức của (EPO)
từ thận cũ(7,10) Trong nghiên cứu này, chúng
tôi không xét nghiệm nồng độ erythropoietin
do các vấn đề không thuận tiện Tuy nhiên,
trong một nghiên cứu của Brox và cộng sự cho
thấy nồng độ EPO trong huyết tương dường
như không phải là một xét nghiệm đáng tin
cậy để nói rằng EPO tăng cao gây ra PTE khi
mà nồng độ EPO giống nhau giữa nhóm bệnh
nghiên cứu của Mossuz P cho thấy nồng độ erythropoietin bình thường hoặc tăng trên nhóm bệnh nhân có đa hồng cầu(15) Những yếu tố không liên quan đến EPO gây PTE (khi nồng độ EPO bình thường hoặc thấp) có thể là
do làm tăng tính nhạy cảm với EPO hoặc kích thích trực tiếp lên sự tạo hồng cầu(11)
KẾT LUẬN
Đa hồng cầu sau ghép thận là một hiện tượng lành tính, tỉ lệ mắc bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự các nghiên cứu khác trên các đối tượng có chức năng thận ổn định, xuất hiện ở nam nhiều hơn nữ, thường xảy ra sớm trong vòng 1 – 2 năm đầu sau ghép
và có thể điều trị hiệu quả với thuốc ACEI hoặc ức chế AT1
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Augustine JJ, et al (2004), Comparative Effects of Sirolimus and Mycophenolate Mofetil on Erythropoiesis in Kidney
Transplant, American Journal of Transplantation; 4: 2001–2006
2 Basri N, et al (2007), Posttransplant erythrocytosis in renal transplant recipients at Jeddah Kidney Center, Kingdom of Saudi Arabia, Exp Clin Transplant, 5(1):607-9
3 Brox AG, et al (1998), Erythrocytosis after renal transplantation represents an abnormality of insulin like
growth factor- I and its binding proteins Transplantation, 66: p
1053
4 Einollahi B, Lessan-Pezeshki M, Nafar M, et al (2005), Erythrocytosis after renal transplantation: review of 101 cases,
Transplant Proc, 37(7):3101-2
5 Friman S, Nyberg G, and Blohme I (1990), Erythrocytosis after renal transplantation, treatment by removal of the native
kidneys Nephrol Dial Transplant, 5: p 969
6 Gaston RS, Julian BA, Curtis JJ (1994), Posttransplant
Erythrocytosis: an enigma revisited, Am J Kidney Dis, 24, pp
1-11
7 Ilan Y, et al (1994), Erythrocytosis after renal transplantation
The response to theophilline treatment Transplantation, 57: p
661
8 Kasiske BL (2000), Cardiovascular disease after renal
transplantation Sem Nephrol, 2: p 176
9 Kazory A, (2004), Post-transplant erythrocytosis and the
thromboembolic events: an eror Nephrol Dial Transplant, 19,
pp 260
10 Kedzierska K, et al (2008), Influence of angiotensin I-converting enzyme polymorphism on development of
post-transplant erythrocytosis in renal graft recipients Clin
Transplant, 22: p 156
11 Kessler M, et al (1996), Factors predisposing to post-renal transplant erythrocytosis A prospective matched - pair
control study Clin Nephrol, 45: p 83
Trang 612 Kiberd BA (2009), Post-transplant erythrocytosis: a
disappearing phenomenon Clin Transplant, 23: p 800
13 Koziak K, et al (1995), Does erythropoietin production after
kidney transplantation depend on the type of
immunosuppression, Nephron, 71, pp 236-237
14 Montanaro D, Groupuzzo M, Boscutti G, Risaliti A, Bresadola
F, Mioni G (2000), Long-term therapy for postrenal transplant
erythrocytosis with ACE inhibitors: efficacy, safety and action
mechanisms, Clin Nephrol, 53(4):suppl 47-51
15 Mossuz P, et al (2004), Diagnostic value of serum
erythropoietin level in patients with absolute erythrocytosis,
Haematologica, 89, 1194-1198
16 Mustapić Z, Basić-Jukić N, Lovcić V, Kes P (2011),
Post-transplant erythrocytosis, Acta Med Croatica, 65(4):331-6
17 Perazella M, et al (1995), Enalapril treatment of post transplant
erythrocytosis: Efficacy independent of circulating
erythropoietin levels, Am J of Kidney Dis, 26, pp 495-500
18 Saima Ahmed, et al (2012), Evaluation of contributing factors
of post transplant erythrocytosis in renal transplant patients, J
Pak Med Assoc, Vol 62 No 12, pp 1326- 1329
19 Stigant CE, et al (2000), ACE inhibitors and angiotensin II antagonists in renal transplantation: an analysis of safety and
efficacy Am J Kidney Dis, 35: p 58
20 Vlahakos DV, et al (2003), Post-transplant erythrocytosis
Kidney Int, 63: p 1187
21 Wickre CG, Bennison A, Berry JM, Bennet WM (1983), Postrenal transplant erythrocytosis: a review of 53 patients,
Kidney Int, 23: p 731