Nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát sự thay đổi nồng độ acid folic huyết thanh (HT) trên bệnh nhân mụn trứng cá dùng isotretinoin đường uống cũng như đánh giá mối liên quan giữa liệu pháp Isotretinoin đường uống và sự thay đổi nồng độ acid folic.
Trang 1NỒNG ĐỘ ACID FOLIC HUYẾT THANH TRÊN BỆNH NHÂN MỤN TRỨNG CÁ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ ISOTRETINOIN ĐƯỜNG UỐNG
Nguyễn Minh Phương*, Lê Thái Vân Thanh*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Isotretinoin đường uống là liệu pháp điều trị mụn trứng cá hiệu quả nhất Rối loạn lipid máu
và tăng men gan là hai tác dụng ngoại ý quan trọng của isotretinoin Acid folic là một coenzyme quan trọng thiết yếu được chuyển hóa tại gan Nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát sự thay đổi nồng độ acid folic huyết thanh (HT) trên bệnh nhân mụn trứng cá dùng isotretinoin đường uống cũng như đánh giá mối liên quan giữa liệu pháp Isotretinoin đường uống và sự thay đổi nồng độ acid folic
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc
Kết quả: Số lượng bệnh nhân (BN) được theo dõi ở thời điểm trước điều trị là 80 BN và sau 6–8 tuần điều
trị là 58 BN Độ tuổi trung bình là 23,66 ± 5,37 Phần lớn BN có tiền sử điều trị mụn trứng cá chiếm 70% Điểm
độ nặng trung bình là 24,99 ± 6,47 Điểm độ nặng của nam cao hơn nữ (27,35 ± 6,22 so với 24,04 ± 6,37) Nồng
độ acid folic HT giảm có ý nghĩa thống kê sau 6–8 tuần điều trị isotretinoin uống (7,78 ± 2,72 ng/ml xuống còn 6,98 ± 2,52 ng/ml) BN dùng liều isotretinoin uống trung bình hằng ngày ≥ 0,4 mg/kg/ngày và liều tích lũy đạt ≥ 18,82 mg/kg giảm acid folic HT có ý nghĩa thống kê
Kết luận: Nồng độ acid folic HT có khuynh hướng tăng theo lứa tuổi Có sự khác biệt về nồng độ acid folic
HT giữa 2 giới tính, nam có nồng độ acid folic HT trung bình thấp hơn nữ Nồng độ Acid folic HT giảm đáng kể sau 6–8 tuần điều trị isotretinoin uống Không có sự khác biệt về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, điều trị giữa 2 nhóm giảm và không giảm acid folic HT sau điều trị isotretinoin uống Nồng độ acid folic HT giảm đáng kể ở nhóm dùng liều trung bình theo cân nặng ≥ 0,4 mg/kg/ngày và nhóm có liều tích luỹ đạt ≥ 18,82 mg/kg Không có tương quan tuyến tính giữa sự thay đổi nồng độ acid folic HT với liều isotretinoin uống trung bình theo cân nặng và liều tích lũy
Từ khóa: mụn trứng cá, acid folic, isotretinoin uống
ABSTRACT
SERUM FOLIC ACID LEVELS IN ACNE VULGARIS PATIENTS TREATED BY ORAL ISOTRETINOIN
Nguyen Minh Phuong, Le Thai Van Thanh
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 22 - No 1- 2018: 39 – 45
Background: Oral isotretinoin is considered the best therapy for acne vulgaris Dyslipidemia and elevated
liver enzymes are two remarkable adverse effects of oral isotretinoin Folic acid is a significant coenzyme which is metabolized by the liver This research aims to examine the modification of serum folic acid levels of acne vulgaris patients who were treated with oral isotretinoin as well as to evaluate the relationship between oral isotretinoin therapy and serum folic acid levels
Method: Observational longitudinal study
Results: The sample size was taken before and after treatment is 80 and 58 patients respectively The mean
* Bộ môn Y học Gia đình – Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch ** Bộ môn Da Liễu – ĐHYD TP.HCM
Tác giả liên lạc: TS BS Lê Thái Vân Thanh ĐT: 0903774310 Email: chamsocdadhyd@gmail.com
Trang 2age is 23.66 ± 5.37 Most of acne vulgaris patients have been treated before recruitment, at 70% The mean severity score (GAGS) is 24.99 ± 6.47 Male mean score is greater than female (27.35 ± 6.22 in comparison with 24.04 ± 6.37) Serum folic acid level statistically decreased 6-8 weeks after treatment (from 7.78 ± 2.72 ng/ml to 6.98 ± 2.52 ng/ml) Serum folic acid levels are significantly declined in patients who were prescribed with daily mean dose over 0,4 mg/kg per day and cumulative dose over 18.82 mg/kg
Conclusion: The serum folic acid levels tend to increase with age There was a significant difference of folic
acid levels between two genders, men’s folic acid level is statistically smaller than women’s The folic acid level significantly decreased after 6-8 weeks treatment with oral isotretinoin No demographically, clinically and therapeutic significant difference between two groups, declined and non-declined folic acid levels, was identified Serum folic acid level statistically decreased in patients who were prescribed with mean daily dose over 0.4 mg/kg per day and cumulative dose over 18.82 mg/kg There was no linear correlation between the decrease of folic acid levels with the mean daily dose and cumulative dose of oral isotretinoin
Keywords: acne, folic acid, oral isotretinoin
ĐẶT VẤN ĐỀ
Liệu pháp isotretinoin đường uống được
đánh giá là liệu pháp điều trị mụn trứng cá
hiệu quả nhất được chỉ định sớm trong trường
hợp bệnh ở mức độ trung bình-nặng Rối loạn
lipid máu và tăng men gan là hai tác dụng
ngoại ý quan trọng của isotretinoin Ngoài ra,
dược chất này có ảnh hưởng đến một số hoạt
động chuyển hóa khác, đặc biệt là chuyển hóa
acid folic (vitamin B9), một coenzyme quan
trọng thiết yếu trong quá trình này Chúng tôi
thực hiện nghiên cứu với đề tài “nồng độ acid
folic huyết thanh trên bệnh nhân mụn trứng
cá được điều trị isotretinoin uống” nhằm mục
đích khảo sát sự thay đổi nồng độ acid folic
trên bệnh nhân mụn trứng cá dùng
isotretinoin đường uống cũng như đánh giá
mối tương quan giữa liệu pháp isotretinoin
uống và sự thay đổi nồng độ acid folic
Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát sự thay đổi nồng độ acid folic huyết
thanh trên bệnh nhân mụn trứng cá sau 68 tuần
điều trị isotretinoin đường uống tại Phòng chăm
sóc da, cơ sở 1 bệnh viện Đại Học Y Dược Thành
Phố Hồ Chí Minh từ 01/10/2016 đến 30/04/2017
mụn trứng cá được chỉ định isotretinoin uống và mối liên quan giữa nồng độ acid folic huyết thanh với độ nặng, nhóm tuổi và giới tính Xác định sự thay đổi nồng độ acid folic huyết thanh trên bệnh nhân mụn trứng cá sau 6–8 tuần điều trị isotretinoin uống
Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, điều trị của bệnh nhân mụn trứng cá ở các nhóm bệnh nhân có thay đổi nồng độ acid folic huyết thanh sau điều trị
Xác định mối liên quan giữa sự thay đổi nồng độ acid folic huyết thanh với liều điều trị
ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dân số mục tiêu
Tất cả bệnh nhân mụn trứng cá được điều trị isotretinoin uống
Dân số chọn mẫu
Tất cả bệnh nhân mụn trứng cá được điều trị isotretinoin uống hội đủ tiêu chuẩn chọn bệnh từ 01/10/2016 đến 30/04/2017
Thời gian
Từ tháng 10/2016 đến tháng 4/2017
Địa điểm
Phòng chăm sóc da, cơ sở 1, bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM
Trang 3Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện tất cả bệnh nhân thoả
tiêu chuẩn chọn mẫu
Tiêu chuẩn nhận vào
Bệnh nhân được chẩn đoán mụn trứng cá
dựa vào đặc điểm sang thương da
Bệnh nhân được chỉ định Isotretinoin uống
lần đầu tiên hoặc đã ngưng thuốc hơn 6 tháng
Nồng độ acid folic huyết thanh bình thường
Bệnh nhân trên 18 tuổi
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Người có bệnh lý nội khoa gây ảnh hưởng
đến nồng độ acid folic huyết thanh
Sử dụng các thuốc làm giảm nồng độ acid
folic hoặc các thuốc làm tăng nồng độ acid folic
trong vòng 3 tháng
Phương pháp tiến hành
Thăm khám xác định những trường hợp
mụn trứng cá, đánh giá mức độ nặng, ghi nhận
tất cả các yếu tố liên quan
Bệnh nhân nếu được chẩn đoán mụn trứng
cá và được chỉ định dùng isotretinoin uống sẽ
được mời tham gia nghiên cứu và sẽ được lấy
máu để đo nồng độ acid folic huyết thanh lần 1
Tư vấn bệnh nhân về cách dùng thuốc,
không thay đổi chế độ ăn, không dùng thêm bất
cứ thực phẩm bổ sung acid folic trong suốt quá
trình điều trị
Tại thời điểm khoảng 6–8 tuần sau khởi đầu
điều trị với isotretinoin, bệnh nhân sẽ được
khám lâm sàng đánh giá mức độ cải thiện, tính
tổng liều tích lũy và thực hiện xét nghiệm đo
nồng độ acid folic huyết thanh lần 2
Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu thu thập được nhập bằng phần mềm
Excel 2010 và xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm dịch tễ và tiền sử
Nhóm tuổi 25–30 chiếm tỉ lệ cao nhất là 75% trong khi độ tuổi dưới 18-24 và trên 30 chiểm tỉ
lệ thấp hơn với tỉ lệ lần lượt là 13,8% và 11,2%
Độ tuổi trung bình là 23,66 ± 5,37 Tuổi thấp nhất
là 18, cao nhất là 42 Phần lớn BN có tiền sử điều trị mụn trứng cá chiếm 70%, trong đó 40% không
rõ tiền sử và 30% chưa từng điều trị mụn trứng
cá
Đặc điểm lâm sàng và điều trị
Phần lớn BN mụn trứng cá ở mức độ trung bình trở lên chiếm 86,25%, chỉ có 13,75% BN mức
độ nhẹ Điểm độ nặng trung bình là 24,99 ± 6,47, thấp nhất là 11, cao nhất là 44 Điểm độ nặng của nam cao hơn nữ (27,35 ± 6,22 so với 24,04 ± 6,37),
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Nồng độ acid folic huyết thanh của bệnh nhân được chỉ định isotretinoin uống
Bảng 1 Nồng độ acid folic huyết thanh trước điều trị
theo nhóm tuổi và mức độ nặng của bệnh
Nhóm tuổi Số lượng
Nồng độ acid folic HT
TB ± ĐLC (ng/ml)
p
Bảng 2 Nồng độ acid folic huyết thanh trước điều trị
theo giới tính
Giới tính Số lượng Nồng độ acid folic HT
TB ± ĐLC (ng/ml) p
0,023
Trang 4Mối liên quan giữa sự thay đổi nồng độ acid
folic huyết thanh với liều điều trị isotretinoin
uống
Bảng 3 So sánh nồng độ acid folic huyết thanh trước
và sau điều trị theo phân nhóm liều trung bình theo
cân nặng
Liều trung
bình
(mg/kg/ngày)
Số lượng
Nồng độ acid folic huyết thanh T1 ng/ml
Nồng độ acid folic huyết thanh T2 ng/ml
p
<0.4
mg/kg/ngày 24 8,11 ± 2,87 7,44 ± 2,80 0,112
≥0.4
mg/kg/ngày 34 7,55 ± 2,64 6,67 ± 2,29 0,017
Bảng 4 So sánh nồng độ acid folic huyết thanh trước
và sau điều trị theo phân nhóm liều tích luỹ
Tổng liều
tích luỹ sau
khoảng 6–
8 tuần
(mg/kg)
Số lượng
Nồng độ acid folic huyết thanh T1
Nồng độ acid folic huyết thanh
ng/ml ng/ml
<18,82
mg/kg 31 8,00 ± 2,79 7,44 ± 2,75 0,17
≥18,82
Không có tương quan tuyến tính giữa sự
thay đổi nồng độ acid folic HT trước và sau điều
trị isotretinoin uống với liều trung bình theo cân
nặng và liều tích luỹ (p>0,05)
BÀN LUẬN
Đặc điểm dịch tễ và tiền sử
Về giới tính, nữ chiếm 71% và nam chiếm
29%, tỉ lệ nam/nữ là 1/2,5 Tỉ lệ này tương tự như
trong nghiên cứu của Karadag và của Nguyễn
Thị Trà My, tỉ lệ nam/nữ lần lượt là 1/2,6 và
1/1,5(3,4) BN nữ chiếm đa số so với BN nam
nhưng không có nghĩa là mụn trứng cá thường
xuất hiện nhiều hơn ở nữ mà có thể là do sự
khác biệt về khuynh hướng chăm sóc sức khoẻ
của hai giới, nữ giới thường quan tâm đến mặt
thẩm mỹ hơn nam giới nên họ thường có mong muốn cải thiện làn da
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 23,66
± 5,37 tuổi Tỉ lệ phân bố nhóm tuổi trong nghiên cứu, nhóm tuổi từ 18–24 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất
là 75%, nhóm tuổi 25–30 chiếm tỉ lệ 13,8%, nhóm tuổi trên 30 chiếm tỉ lệ 11,2% Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi giống như y văn, tuổi thường gặp của mụn trứng cá là tuổi vị thành niên và người trẻ Phần lớn BN đều đã từng được điều trị trước khi đến phòng khám với tỉ lệ
70%, tương tự nghiên cứu của Võ Nguyễn Thuý Anh (64,7% BN đã có tiền sử điều trị mụn trứng
cá ở nhiều nơi(8))
Đặc điểm lâm sàng và điều trị
Theo phân loại độ nặng mụn trứng cá bằng thang điểm GAGS, mức độ nhẹ chiếm tỉ lệ thấp 13,75%, phần lớn bệnh nhân có mức độ nặng trung bình và nặng (61,25% và 22,5%) Điểm độ nặng trung bình là 24,99 ± 6,47 Điểm độ nặng trung bình của nam giới cao hơn 3,31 điểm so với nữ giới Số liệu này cũng tương tự như trong nghiên cứu của Tchiu Bích Xuân và y văn thế giới, nam giới thường bị bệnh mụn trứng cá nặng hơn nữ(7) Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ
BN dùng liều <0,5mg/kg/ngày là 92,5% và liều
≥0,5 mg/kg/ngày chỉ có 7,5%, Như vậy đa số bệnh nhân sử dụng liều thấp
Nồng độ acid folic huyết thanh của bệnh nhân được chỉ định isotretinoin uống
Nồng độ acid folic huyết thanh trung bình trên 80 BN mụn trứng cá được chỉ định isotretinoin uống là 7,79 ± 3,00 ng/ml Khi so sánh với một số nghiên cứu trên các bệnh da khác chúng tôi nhận thấy:
Bảng 5 So sánh nồng độ acid folic HT trung bình với các nghiên cứu khác
Shaheen và cs (6) Phạm Thúy Ngà (5) Agarwal và cs (9) Chúng tôi
Trang 5Nồng độ acid folic HT trên BN mụn trứng cá
trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn trong
nghiên cứu trên BN vảy nến và chàm thể tạng,
nhưng lại cao hơn nghiên cứu trên BN bạch biến
Tuy nhiên, sự chênh lệch kết quả cũng bị ảnh
hưởng của thuốc thử sử dụng, phương tiện máy
móc tại trung tâm xét nghiệm, phương pháp
nghiên cứu và cách thức chọn mẫu
Mối liên quan giữa nồng độ acid folic huyết
thanh với độ nặng, nhóm tuổi và giới tính
Nồng độ acid folic HT trung bình có khuynh
hướng tăng theo lứa tuổi của BN, thấp nhất ở
nhóm tuổi 18-24 tuổi và cao nhất ở nhóm tuổi
>30 tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,001) Trong nghiên cứu của Chanson và
cộng sự, khi khảo sát nồng độ acid folic HT trên
2 nhóm BN trẻ và BN lớn tuổi dùng isotretinoin uống, ghi nhận nồng độ acid folic HT trên nhóm
BN lớn tuổi cao hơn so với nhóm BN trẻ tuổi (9,84 ± 6,22 ng/ml so với 6,97 ± 3,88 ng/ml)(1) Ngoài ra, chúng tôi còn ghi nhận sự khác biệt
về nồng độ acid folic HT giữa 2 giới tính, nam giới có nồng độ acid folic HT trung bình thấp hơn nữ giới (6,60 ± 2,19 ng/ml so với 8,27 ± 3,15 ng/ml) với p=0,023 Như vậy, nam giới có điểm
độ nặng của mụn trứng cá cao hơn nữ giới nhưng lại có nồng độ acid folic HT trung bình thấp hơn nữ
Sự thay đổi nồng độ acid folic huyết thanh trước và sau 6–8 tuần điều trị isotretinoin uống
Bảng 6: So sánh sự thay đổi acid folic huyết thanh trước và sau điều trị isotretinoin uống giữa các nghiên cứu
Tác giả Cỡ mẫu Thay đổi acid folic HT (ng/ml) Thời gian theo dõi p
Trước điều trị Sau điều trị
Mức giảm nồng độ acid folic HT sau điều trị
trong nghiên cứu của chúng tôi là 0,8 ng/ml thấp
hơn so với các nghiên cứu còn lại của Karadag
(1,6 ng/ml), Javanbarkht (1,4 ng/ml) và Chanson
(1,23 ng/ml và 1,32 ng/ml tương ứng với 2 nhóm
bệnh nhân trẻ và lớn tuổi) Sự khác biệt này có
thể là do khác biệt về chủng tộc, thuốc thử và
máy móc phòng xét nghiệm, kỹ thuật chọn mẫu
và phương pháp nghiên cứu
Các đặc điểm của 2 nhóm giảm và không giảm
nồng độ acid folic huyết thanh sau 6–8 tuần
điều trị isotretinoin uống
Khi theo dõi nồng độ acid folic HT trước và
sau điều trị của 58 BN chúng tôi ghi nhận có 2
nhóm BN giảm nồng độ acid folic và không
giảm nồng độ acid folic HT Nhóm giảm acid
folic HT chiếm đa số với tỉ lệ 66%, nhóm không
giảm acid folic chiếm 34% Khi khảo sát các đặc
điểm về dịch tễ, lâm sàng, điều trị giữa 2 nhóm
BN trên chúng tôi không ghi nhận sự khác biệt
nào giữa 2 nhóm Nghiên cứu của Chanson và
cộng sự quan sát thấy trong mỗi nhóm BN theo dõi đều có một tỉ lệ BN tăng nồng độ acid folic
HT sau thời gian điều trị isotretinoin uống với liều 0,5 mg/kg/ngày trong 28 ngày (trong nhóm
BN trẻ tỉ lệ này là 25%, nhóm BN lớn tuổi là 20%) Như vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi
tỉ lệ BN không giảm acid folic cao hơn so với nghiên cứu của Chanson
Mối liên quan giữa sự thay đổi nồng độ acid folic huyết thanh với liều điều trị isotretinoin uống
Sự thay đổi nồng độ acid folic HT ở 2 nhóm liều trung bình theo cân nặng
Trong nhóm liều trung bình theo cân nặng
<0,4 mg/kg/ngày (n=24), nồng độ acid folic HT giảm từ 8,11 ± 2,87 ng/ml xuống 7,44 ± 2,80 ng/ml, tuy nhiên sự thay đổi này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Ngược lại trong nhóm liều trung bình theo cân nặng ≥0,4 mg/kg/ngày (n=34), nồng độ acid folic HT giảm từ 7,55 ± 2,64
Trang 6ng/ml xuống 6,67 ± 2,29 ng/ml, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p=0,017)
Như vậy, với liều isotretinoin uống thấp <0,4
mg/kg/ngày, chúng tôi không quan sát thấy sự
thay đổi có ý nghĩa của acid folic HT, nhưng đối
với liều ≥0,4 mg/kg/ngày, chúng tôi ghi nhận có
sự giảm acid folic HT có ý nghĩa thống kê
Sự thay đổi nồng độ acid folic HT ở 2 nhóm
liều tích luỹ
Nhóm BN có liều tích luỹ <18,82 mg/kg
(n=31) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về sự thay đổi acid folic HT trước và sau điều trị
(p>0,05), trong khi nhóm BN có liều tích luỹ đạt
≥18,82 mg/kg (n=27) thì acid folic HT giảm đáng
kể từ 7,51 ± 2,7 ng/ml xuống còn 6,47 ± 2,16 ng/ml
sau 6–8 tuần điều trị (p=0,004)
Mối tương quan tuyến tính giữa sự thay đổi
nồng độ acid folic huyết thanh với liều điều trị
Chúng tôi không phát hiện có sự tương quan
tuyến tính giữa sự thay đổi nồng độ acid folic
huyết thanh với liều điều trị (r=0,082; p>0,05)
Như vậy sự thay đổi nồng độ acid folic huyết
thanh có thể không tương quan tuyến tính với
liều trung bình hay liều tích luỹ Điều này có thể
là do mẫu nghiên cứu của chúng tôi chưa đủ lớn
để tìm ra mối tương quan tuyến tính nếu có
KẾT LUẬN
Tuổi trung bình là 23,66 ± 5,37 tuổi Nhóm
tuổi 18-24 chiếm tỉ lệ cao nhất là 75% Tỉ lệ BN nữ
chiếm 71% và nam chiếm 29%, tỉ lệ nam/nữ là
1/2,5 Trong đó, 79,3% BN khởi phát bệnh mụn
trứng cá từ trước 20 tuổi Phần lớn bệnh nhân có
mức độ nặng trung bình và nặng, nhóm rất nặng
chiếm tỉ lệ thấp Điểm độ nặng trung bình của
nam giới cao hơn so với nữ giới
Về đặc điểm lâm sàng và điều trị, không có
sự khác biệt về nồng độ acid folic HT giữa các
phân nhóm mức độ nặng của mụn trứng cá theo
phân độ GAGS Nồng độ acid folic HT có
acid folic HT giữa 2 giới tính, nam có nồng độ acid folic HT trung bình thấp hơn nữ
Nồng độ Acid folic HT giảm đáng kể sau 6–8 tuần điều trị, từ 7,78 ± 2,72 ng/ml xuống 6,98 ± 2,52 ng/ml Không có sự khác biệt về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, điều trị giữa 2 nhóm giảm và không giảm acid folic HT sau điều trị isotretinoin uống Nồng độ acid folic HT giảm đáng kể ở nhóm dùng liều trung bình theo cân nặng ≥0,4 mg/kg/ngày và nhóm có liều tích luỹ đạt ≥18,82 mg/kg Sự thay đổi nồng độ acid folic huyết thanh không tương quan tuyến tính với liều trung bình hay liều tích luỹ
KIẾN NGHỊ
Những bệnh nhân nam giới, trẻ tuổi, đặc biệt
là lứa tuổi vị thành niên có nồng độ acid folic huyết thanh thấp và có nguy cơ giảm acid folic khi điều trị isotretinoin uống Chúng ta cần phải lưu ý nguy cơ giảm acid folic trên nhóm đối tượng này khi điều trị isotretinoin uống
Ngoài các xét nghiệm tầm soát thường quy khi điều trị isotretinoin uống như công thức máu, men gan, mỡ máu, các bác sĩ điều trị cũng nên đề nghị xét nghiệm acid folic cho bệnh nhân khi chỉ định isotretinoin uống Trong quá trình điều trị isotretinoin uống nên cho bệnh nhân bổ sung thêm acid folic vì acid folic là một loại vitamin tốt, rẻ tiền không chỉ có tác dụng phòng tránh các bệnh lý thiếu máu do thiếu acid folic
mà còn có nhiều tác dụng có lợi khác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chanson A, et al (2008) “Decreased plasma folate concentration in young and elderly healthy subjects after a
short-term supplementation with isotretinoin” Journal of the
European Academy of Dermatology and Venereology, 22(1):94-100
2 Javanbakht AM, Pour HM, Tarrahic MJ (2012) “Effects of oral
isotretinoin on serum folic acid levels”, Journal of drugs in
dermatology, 11(9):e23-4
3 Karadag AS, Tutal E, Ertugrul DT, Akin KO (2011) “Effect of isotretinoin treatment on plasma holotranscobalamin, vitamin B12, folic acid, and homocysteine levels: non-controlled
study”, International Journal of Dermatology, 50(12):1564-9
4 Nguyễn Thị Trà My (2016) Nghiên cứu về tác dụng phụ của
Trang 75 Phạm Thúy Ngà (2011) “Nồng độ Homocysteine và Acid
folic huyết tương ở bệnh nhân vảy nến mảng tại bệnh viện da
liễu TP Hồ Chí Minh”, Luận án chuyên khoa cấp II, Đại học Y
dược TP.HCM
6 Shaheen MA, Attia EA, Louka ML, Bareedy N (2011) “Study
of the role of serum folic acid in atopic dermatitis: a correlation
with serum ige and disease severity”, Indian J Dermatol,
56(6):673-7
7 Tchiu Bích Xuân và cs (2013) “Đặc điểm dịch tễ học và lâm
sàng của bệnh nhân mụn trứng cá đến khám tại bệnh viện da
liễu TP.HCM”, Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 17(3):22-9
8 Võ Nguyễn Thúy Anh và cs (2009) “Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến mụn trứng cá ở phụ nữ trưởng
thành”, Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh, 13 (1):339-46
9 Zagarwal.S et al (2015) “Study of serum levels of Vitamin B12,
folic acid, and homocysteine in vitiligo”, Pigment International,
2(2):76-80
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 28/02/2018