1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng và yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập viện thường xuyên ở nhóm nguy cơ cao

8 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 310,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát đặc điểm lâm sàng và yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập viện thường xuyên ở bệnh nhân nhóm nguy cơ cao tại khoa Nội Hô Hấp Bệnh viện Chợ Rẫy.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ YẾU TỐ THÚC ĐẨY VÀO ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH NHẬP VIỆN THƯỜNG XUYÊN

Ở NHÓM NGUY CƠ CAO

Trần Văn Ngọc*, Mã Vĩnh Đạt**

TÓM TẮT

Mở đầu: Một số đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ của đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

(BPTNMT) đã được công bố trong các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước Tại Việt Nam, các yếu tố thúc đẩy này chưa được nghiên cứu đầy đủ ở nhóm nguy cơ cao

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập

viện thường xuyên ở bệnh nhân nhóm nguy cơ cao tại khoa Nội Hô Hấp Bệnh viện Chợ Rẫy

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, phân tích 144 bệnh nhân BPTNMT

nhóm nguy cơ cao nhập viện tại khoa Nội hô hấp bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 04/2017 Từ đó phân tích đa biến để tìm ra yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp nhập viện thường xuyên ở nhóm bệnh nhân này

Kết quả: Trong 144 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, có 90,3% nam giới, tuổi trung bình 72,59± 11,38 tuổi,

bệnh nhân còn đang hút thuốc lá chiếm 22,9%, đã ngừng hút thuốc lá chiếm 68,8% Bệnh nhân thuộc phân nhóm

C chiếm 43,1%, nhóm D chiếm 56,9% Bệnh nhân có thời gian phát hiện BPTNMT > 5 năm chiếm 36,1% Bệnh nhân có ít nhất 1 bệnh đồng mắc chiếm 60,4%, bệnh đồng mắc đi kèm phổ biến nhất là bệnh tim mạch Về triệu chứng lâm sàng: ho và khó thở gặp ở 100% bệnh nhân, ran rít, ran ngáy 88,9%, khạc đờm 82,6%, đờm mủ 75,7%, ran ẩm, nổ 68,1% và co kéo cơ hô hấp phụ 67,4% Đợt cấp nặng chiếm 74,3%, trung bình chiếm 25,7%, không có đợt cấp nhẹ Bệnh nhân không tuân thủ điều trị thuốc chiếm 27,1% Bệnh nhân sử dụng dụng cụ hít không đúng kỹ thuật chiếm tỉ lệ 34,7% Phân tích đơn biến cho thấy BMI < 18,5 kg/m2, thời gian phát hiện bệnh

> 5 năm, còn hút thuốc lá, không tuân thủ điều trị thuốc, không tái khám định kỳ, không sinh hoạt câu lạc bộ BPTNMT và sử dụng dụng cụ hít không đúng kỹ thuật liên quan có ý nghĩa thống kê với nhập viện thường xuyên do đợt cấp Phân tích hồi qui đa biến cho thấy thời gian phát hiện bệnh > 5 năm (OR = 2,63), không tuân thủ điều trị thuốc (OR = 3,42) và sử dụng dụng cụ hít không đúng kỹ thuật (OR = 3,94) liên quan độc lập và gia tăng tỉ lệ nhập viện thường xuyên do đợt cấp ở bệnh nhân BPTNMT nhóm nguy cơ cao

Kết luận: Những bệnh nhân vào đợt cấp BPTNMT thuộc nhóm nguy cơ cao đa phần là những bệnh nhân

lớn tuổi, bị bệnh lâu năm, nhiều bệnh đồng mắc, ý thức tuân thủ điều trị chưa tốt, còn gặp nhiều sai sót trong việc

sử dụng thuốc điều trị ngoại trú, thiếu điều kiện tái khám cũng như tiếp cận các hoạt động giáo dục sức khỏe thường xuyên Thời gian phát hiện bệnh > 5 năm, không tuân thủ điều trị thuốc, và sử dụng dụng cụ hít không đúng kỹ thuật có liên quan độc lập đến việc gia tăng tỉ lệ nhập viện thường xuyên do đợt cấp ở bệnh nhân BPTNMT nhóm nguy cơ cao

Từ khóa: yếu tố thúc đẩy, đợt cấp, nhập viện, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhóm nguy cơ cao

Bộ môn Nội Tổng Quát, Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh



Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ

Trang 2

ABSTRACT

CLINCAL CHARACTERISTICS AND RISK FACTORS ASSOCIATED WITH FREQUENT

HOSPITALIZATION FOR ACUTE EXACERBATIONS OF CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY

DISEASE IN HIGH RISK PATIENTS

Tran Van Ngoc, Ma Vinh Dat * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 186 - 193

Background: Many researches have described characteristics and pointed out risk factors relating to frequent

hospitalization in chronic obstructive pulmonary disease (COPD) patients with acute exacerbation yet the results are poorly understood in high risk patients

Objectives: To describe clinical characteristics and identify the risk factors associated with frequent

hospitalization for acute exacerbation of COPD in high risk patients in Respiratory Department of Cho Ray Hospital

Method: An observational study was conducted in the clinical practice setting over a 4 month-period

(January 2017 to April 2017) in Respiratory Department of Cho Ray Hospital A total of 144 high risk COPD patients were recruited Multivariable regression analyses identified factors associated with readmission for acute exacerbation

Results: Among 144 patients, 90,3% were males, mean age was 72.59± 11.38 years Of the patients, 22.9%

were current smokers, 68.8% were former smokers; 43.1% were group C, 56.9% were group D; 36.1% were patients with duration > 5 years; 60.4% suffered from comorbidities, mainly cardiovascular diseases Coughing and dyspnea presented in 100% of the patients, while 88.9% had wheezing, 82.6% had sputum, 75.7% had purulent sputum, 68.1% had crackles, 67.4% used accessory muscles of respiration 74.3% of the acute exacerbations were severe, 25.7% were moderate, none was mild 27.1% of the patients did not adhere to medication 34.7% of the patients did not perform the correct technique for inhalers Univariate analysis showed that BMI < 18,5 kg/m 2 , duration >5 years, currently smokers, non-adherence to medication, not accessing follow

up activities, not attending COPD clubs and using inhalers incorrectly were significantly associated with frequent hospitalization Multivariable regression analyses revealed that non-adherence to medication (OR = 3.42), using the inhalers incorrectly (OR = 3.94) and duration > 5 years (OR = 2.63) were independently associated with the increase in frequent hospitalization rates for acute exacerbations in high risk patients

Conclusions: COPD high risk patients were often old, had been diagnosed with COPD for a long time,

suffered from many comorbidities, did not adhere to medication, used the inhalers incorrectly as well as did not get access to follow-up activities Non-adherence to medication, using the inhalers incorrectly and duration > 5 years were independently associated with increase in frequent hospitalization rates for acute exacerbations in high risk patients

Keyword: risk factors, acute exacerbation, hospitalization, chronic obstructive pulmonary disease, high

risk patients

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT)

là một trong những vấn đề y tế thời sự được

quan tâm hàng đầu ở tất cả các nước trên thế

giới cũng như tại Việt Nam nói riêng Báo cáo

dựa trên nghiên cứu dịch tễ học BPTNMT trên

toàn quốc 2006 – 2007 cho thấy tỉ lệ mắc chung

trong cộng đồng dân cư Việt Nam từ 40 tuổi trở lên chiếm 4,2%; trong đó nam giới là 7,1%

và nữ giới là 1,9%(4) Trong diễn biến tự nhiên của BPTNMT có đợt kịch phát hay còn gọi là đợt cấp Nguyên nhân thường gặp nhất của đợt cấp là nhiễm trùng cây khí phế quản nhưng bên cạnh đó cần

Trang 3

phải có nhiều yếu tố nguy cơ tham gia mới dễ

dàng đẩy bệnh nhân vào đợt cấp và làm tăng

nguy cơ nhập viện(6) Trong những bệnh nhân

BPTNMT, bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao

có tần suất đợt cấp cao hơn, tốc độ suy giảm

chức năng phổi nhanh hơn, suy giảm sức khỏe

toàn thân nhanh hơn và tỉ lệ tử vong cao hơn

Một số yếu tố nguy cơ của đợt cấp BPTNMT

đã được công bố, tuy nhiên kết quả của những

nghiên cứu này chưa mang tính thống nhất cao

và toàn diện, đặc biệt là trên nhóm bệnh nhân

nguy cơ cao Xuất phát từ thực tế nêu trên,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm lâm

sàng và yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính nhập viện thường xuyên ở

nhóm nguy cơ cao”

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, phân tích

Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính >40 tuổi thuộc nhóm C, D theo GOLD 2016

vào đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập

viện tại Khoa Hô Hấp bệnh viện Chợ Rẫy từ

tháng 1 năm 2017 đến tháng 4 năm 2017

Các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được

chia làm 2 nhóm: nhóm nhập viện thường xuyên

(có ≥ 2 đợt cấp nhập viện trong năm qua), nhóm

nhập viện không thường xuyên (có 1 đợt cấp

nhập viện trong năm qua)

Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Chẩn đoán BPTNMT theo GOLD 2016 ít

nhất 1 năm

- Thuộc nhóm BPTNMT nguy cơ cao, tức

nhóm C và D theo GOLD 2016 (thỏa 1 trong 3

tiêu chí: FEV1 < 50% giá trị dự đoán; có ≥ 2 đợt

cấp trong một năm, có ≥ 1 đợt cấp nhập viện

trong năm qua)

- Chẩn đoán đợt cấp BPTNMT theo GOLD

2016 dựa vào biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên

cứu

- Chẩn đoán hen phế quản, suy tim sung huyết, lao phổi tiến triển

- Thay đổi chẩn đoán trong quá trình nằm viện

- Bệnh nhân không thu thập được thông tin cần thiết theo mẫu số liệu

KẾT QUẢ

Đặc điểm lâm sàng

- Tuổi nhập viện trung bình của bệnh nhân là 72,59±11,38 tuổi

- Nam giới chiếm tỉ lệ cao 90,3% Tỉ lệ nam:nữ là 9,3:1

- Tỉ lệ bệnh nhân hút thuốc lá 91,7%, 22,9% bệnh nhân còn đang hút thuốc lá, số gói-năm trung bình cao 38,76±11,34

- 60,4% bệnh nhân có ít nhất một bệnh đồng mắc, trong đó bệnh lý tim mạch là bệnh đồng mắc thường gặp nhất, tiếp theo là đái tháo đường típ 2

- Ho và khó thở là các triệu chứng hiện diện

ở tất cả bệnh nhân

- Đợt cấp nặng chiếm 74,3%, đợt cấp trung bình chiếm 25,7%, không có đợt cấp nhẹ

Các yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp BPTNMT nhập viện thường xuyên ở nhóm nguy cơ cao

Phân tích đơn biến cho thấy BMI < 18,5 kg/m2, thời gian phát hiện bệnh > 5 năm, còn hút thuốc lá, không tuân thủ điều trị thuốc, không tái khám định kỳ, không sinh hoạt câu lạc bộ BPTNMT và sử dụng dụng cụ hít không đúng

kỹ thuật liên quan có ý nghĩa thống kê với nhập viện thường xuyên do đợt cấp

Chúng tôi đưa 7 yếu tố này vào mô hình hồi quy đa biến thì có 3 yếu tố: thời gian phát hiện bệnh > 5 năm (OR = 2,63), không tuân thủ điều trị thuốc (OR = 3,42) và sử dụng dụng cụ

Trang 4

hít không đúng kỹ thuật (OR = 3,94) liên quan

độc lập và gia tăng tỉ lệ nhập viện thường

xuyên do đợt cấp ở bệnh nhân BPTNMT nhóm nguy cơ cao

Bảng 1 Mối liên quan giữa các yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp BPTNMT nhập viện thường xuyên ở nhóm

nguy cơ cao qua phân tích đơn biến

Yếu tố Nhập viện thường

xuyên n(%)

Nhập viện không thường xuyên n(%) OR (KTC 95%) p

>75 40 (44,4) 18 (33,3) 3,5 (1,16 – 10,48) 0,022

Thời gian phát hiện

BPTNMT (năm)

> 5 39 (43,3) 13 (24,1) 2,41(1,14 – 5,11) 0,02

Tuân thủ điều trị

thuốc

Không 34 (37,8) 5 (9,3) 5,95 (2,16–16,40) < 0,001

Sinh hoạt câu lạc bộ

15,48 (1,88-127,55) 0,001

Không đúng

kỹ thuật 44 (48,9) 6 (11,1) 7,65 (2,98–19,67) <0,001

Bảng 2 Mối liên quan giữa các yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp BPTNMT nhập viện thường xuyên ở nhóm nguy cơ

cao qua phân tích đa biến

BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung

bình của bệnh nhân BPTNMT nhóm nguy cơ cao

là 72,59 ± 11,38 tuổi, có đến 87,5% bệnh nhân có

độ tuổi ≥ 60 Từ đó có thể thấy độ tuổi của các

đối tượng trong nghiên cứu này khá cao Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước khác(10,11) Theo y văn, BPTNMT là một bệnh mạn tính khởi phát âm thầm khi bệnh nhân còn trẻ, đến khi bệnh nhân lớn tuổi thì các triệu chứng lâm sàng mới bắt đầu biểu hiện rõ rệt kèm theo các đợt kịch phát xảy

Trang 5

ra thường xuyên Ngoài ra, nguy cơ mắc

BPTNMT sẽ tăng lên gấp đôi sau mỗi 10 năm

tuổi đời ở bất kỳ đối tượng nào(18)

Nam giới chiếm hầu hết trong dân số nghiên

cứu với tỉ lệ cao 90,3%, nữ giới chỉ chiếm tỉ lệ

9,7% Tỉ lệ nam mắc BPTNMT cao hơn nữ đã

được ghi nhận trong hầu hết các nghiên cứu trên

thế giới và Việt Nam(10,15) Điều này được giải

thích bằng một số nguyên nhân: nam hút thuốc

lá nhiều hơn nữ, nam thường tiếp xúc với các

yếu tố nguy cơ bụi nghề nghiệp nhiều hơn nữ

Hút thuốc lá chủ động là yếu tố nguy cơ

chính của BPTNMT Tỉ lệ hút thuốc lá ở Việt

Nam rất cao, ở thời điểm năm 2010 có 23,8%

những người Việt Nam tuổi từ 15 trở lên (bao

gồm 47,4% nam giới và 1,4% nữ giới) đang hút

thuốc(12) Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ

bệnh nhân hút thuốc lá rất cao, chiếm 91,7% số

bệnh nhân nhập viện, trong đó 22,9% bệnh

nhân nhập viện vẫn còn đang hút thuốc lá Số

gói-năm trung bình của dân số nghiên cứu là

38,76 ± 11,34

Có 60,4% bệnh nhân của chúng tôi có ≥ 1

bệnh đồng mắc Tỉ lệ này khá cao do đối tượng

bệnh nhân chúng tôi nghiên cứu chủ yếu là

những bệnh nhân lớn tuổi và tình trạng

BPTNMT nặng nên nguy cơ mắc các bệnh đồng

mắc cao hơn Bệnh đồng mắc đi kèm phổ biến

nhất là bệnh tim mạch chiếm tỉ lệ 50,7% Theo y

văn, bệnh tim mạch là bệnh đồng mắc chính và

có thể là bệnh thường gặp nhất và quan trọng

nhất với BPTNMT(5)

Trong số 144 bệnh nhân, bệnh nhân thuộc

phân nhóm C chiếm 43,1%, nhóm D chiếm

56,9% Số đợt cấp nhập viện trung bình 12

tháng qua của mẫu nghiên cứu là 1,9 ± 0,87

thay đổi từ 1 đến 5 đợt cấp Kết quả chúng tôi

tương đồng với kết quả của tác giả trong và

ngoài nước khác(2,19)

Theo nghiên cứu của chúng tôi, ho và khó

thở là triệu chứng gặp ở 100% bệnh nhân, các

triệu chứng chiếm tỉ lệ cao tiếp theo là ran rít, ran

ngáy 88,9%, khạc đờm 82,6%, đờm mủ 75,7%,

ran ẩm, nổ 68,1% và co kéo cơ hô hấp phụ với tỉ

lệ lần lượt là 67,4%, các triệu chứng khác có tỉ lệ thấp hơn như sốt, lồng ngực hình thùng Theo y văn, đây là những triệu chứng chính hiện diện ở bệnh nhân vào đợt cấp BPTNMT Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những bệnh nhân vào đợt cấp với mức độ từ vừa đến nặng, nhập viện do đó các triệu chứng ho, khó thở và khạc đờm gần như hiện diện ở tất cả bệnh nhân Các nghiên cứu khác cũng cho kết quả ho, khó thở và khạc đờm là triệu chứng chiếm tỉ lệ cao nhất ở đợt cấp BPTNMT(2,16)

Bệnh nhân thuộc phân loại đợt cấp nặng chiếm 74,3%, trung bình chiếm 25,7%, không có đợt cấp nhẹ Tác giả Anthonisen phân loại độ nặng đợt cấp BPTNMT dựa trên sự hiện diện của các triệu chứng lâm sàng mà 3 tiêu chuẩn chính là tăng khó thở, tăng ho khạc đờm và tăng đờm mủ(1), các tiêu chuẩn này chiếm tỉ lệ cao ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu như đã trình bày ở trên (khó thở 100%, khạc đờm 82,6%, đờm mủ 75,7%) Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi không có đợt cấp nhẹ nhập viện do nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện Chợ Rẫy, nơi tiếp nhận 70% bệnh nhân đợt cấp BPTNMT nặng từ tuyến dưới chuyển đến, tình trạng quá tải thường xuyên dẫn đến tiêu chuẩn nhập viện khá gắt gao

Các yếu tố thúc đẩy vào đợt cấp BPTNMT nhập viện thường xuyên ở nhóm nguy cơ cao

Suy dinh dưỡng có liên quan đến sự suy giảm sức mạnh và sức bền của cơ hô hấp, làm gia tăng sự giới hạn đường thở của bệnh nhân BPTNMT Theo nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân với BMI < 18,5 kg/m2 có nguy cơ nhập viện thường xuyên cao hơn 3,34 lần so với bệnh nhân với BMI ≥ 18,5 kg/m2, điều này có ý nghĩa thống

kê với p = 0,001, tương đồng với một số nghiên cứu trong và ngoài nước khác(10,16)

Theo y văn, BPTNMT là bệnh lý tiến triển, nặng dần theo thời gian Các đợt cấp ban đầu thưa, về sau càng lúc càng gần hơn Từ đó có thể thấy, nguy cơ nhập viện vì đợt cấp tăng tỉ lệ

Trang 6

thuận với thời gian phát hiện bệnh BPTNMT

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ thời gian

phát hiện bệnh giữa hai nhóm nhập viện thường

xuyên và không thường xuyên khác nhau có ý

nghĩa thống kê với p = 0,02, bệnh nhân với thời

gian phát hiện bệnh > 5 năm có nguy cơ nhập

viện cao hơn 2,41 lần so với bệnh nhân có thời

gian phát hiện bệnh ≤ 5 năm Kết quả nghiên cứu

này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của

một số tác giả khác(3,10,15)

Hút thuốc lá chủ động là yếu tố nguy cơ

chính của BPTNMT Theo y văn, khi ngưng hút

thuốc lá, chức năng hô hấp của bệnh nhân sẽ hồi

phục một phần, đặc biệt khi đó tốc độ giảm chức

năng hô hấp hàng năm sẽ giảm về gần giới hạn

tốc độ giảm của người không hút thuốc lá Trong

các biện pháp ngăn ngừa tình trạng tiến triển của

bệnh thì cai thuốc lá là can thiệp hiệu quả nhất,

kinh tế nhất Kết quả nghiên cứu của chúng tôi

cho thấy nhóm đang hút thuốc lá có nguy cơ

nhập viện thường xuyên cao hơn 4,5 lần so với

nhóm không hút thuốc lá, cao hơn 3,3 lần so với

nhóm đã từng hút thuốc lá, có ý nghĩa thống kê

với p lần lượt là 0,033 và 0,012 Kết quả này phù

hợp với một số nghiên cứu trước đây(7,8)

Tuân thủ điều trị trong BPTNMT đã được

chứng minh là tối ưu hóa hiệu quả điều trị, giảm

chi phí điều trị đồng thời nâng cao chất lượng

sống cho bệnh nhân và việc bỏ thuốc điều trị

duy trì BPTNMT là một trong những nguyên

nhân dẫn đến đợt cấp Tuy nhiên so với các bệnh

mạn tính khác, tuân thủ trong điều trị BPTNMT

thấp hơn đáng kể(9,15) Theo nghiên cứu của

chúng tôi, tỉ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều

trị thuốc trong dân số mẫu chiếm 27,1%, và bệnh

nhân không tuân thủ điều trị thuốc có nguy cơ

nhập viện cao hơn 5,95 so với bệnh nhân tuân

thủ điều trị thuốc, sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p = 0,001

Việc tái khám thường xuyên theo hẹn là

cần thiết ở bất kỳ giai đoạn nào của BPTNMT

cũng như bệnh mạn tính khác Thông qua việc

tái khám bệnh nhân được theo dõi, đánh giá

lại tình trạng bệnh tại thời điểm tái khám từ

đó giúp điều chỉnh trị liệu phù hợp hơn, phát hiện ra các biểu hiện nguy cơ diễn tiến nặng

để can thiệp kịp thời Với một bệnh mạn tính điều trị bằng nhiều loại thuốc và dụng cụ hít phức tạp như BPTNMT, việc tái khám cũng giúp người thầy thuốc kiểm tra, duy trì việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân và hướng dẫn các kỹ thuật sử dụng thuốc đúng cho bệnh nhân Theo nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân không tái khám định kỳ theo hẹn có nguy cơ nhập viện thường xuyên cao hơn 5,36 lần so với bệnh nhân có tái khám định kỳ theo hẹn, có ý nghĩa thống kê với p=0,001

Câu lạc bộ BPTNMT được thành lập ở các bệnh viện, trung bình sinh hoạt một lần mỗi tháng với những chủ đề gần gũi, thiết thực liên quan đến BPTNMT Đây là cơ hội để những bệnh nhân BPTNMT, người thân của bệnh nhân

và những người quan tâm đến bệnh trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với nhau, cũng như trao đổi các bác sĩ chuyên khoa hô hấp về những chủ đề liên quan đến việc phòng ngừa, theo dõi cũng như điều trị bệnh ngoài thời gian tiếp xúc còn tương đối ngắn ở bệnh viện Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhân không sinh hoạt câu lạc bộ BPTNMT có nguy cơ nhập viện thường xuyên cao hơn 15,48 lần so với bệnh nhân có sinh hoạt câu lạc bộ BPTNMT Có nhiều

lí do bệnh nhân không tham gia sinh hoạt câu lạc

bộ BPTNMT: không biết có câu lạc bộ BPTNMT, điều kiện kinh tế, đi lại khó khăn, phụ thuộc vào người thân, bệnh nặng Bên cạnh đó, câu lạc bộ BPTNMT chưa được tổ chức đồng bộ và thường xuyên ở các tỉnh trong khi có đến 89,6% bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi cư ngụ ở tỉnh

Trong phác đồ điều trị BPTNMT ở giai đoạn

ổn định, các thuốc dạng hít đóng vai trò quan trọng vì hiệu quả cao và ít tác dụng toàn thân Mỗi thuốc dạng hít đều có kỹ thuật sử dụng riêng qua nhiều bước, do đó bệnh nhân cần phải

sử dụng đúng kỹ thuật để đạt hiệu quả tối đa Tuy nhiên sai sót trong việc sử dụng dụng cụ hít

ở bệnh nhân BPTNMT hiện nay rất phổ

Trang 7

biến(13,14,17) Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả

34,7% bệnh nhân sử dụng dụng cụ hít không

đúng kỹ thuật Bệnh nhân sử dụng MDI thường

sai kỹ thuật ở các bước như quên lắc hộp thuốc

trước khi ấn xịt, phối hợp ấn hộp thuốc và hít

vào thật sâu chưa tốt, không nín thở tối đa sau

khi hít thuốc Bệnh nhân sử dụng DPI thường sai

ở các bước thở ra hết sức trước khi hít, hít không

đủ sâu và không nín thở tối đa sau khi hít thuốc

Cũng theo nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân

sử dụng dụng cụ hít không đúng kỹ thuật có

nguy cơ nhập viện cao gấp 7,65 lần so với nhóm

sử dụng dụng cụ hít đúng kỹ thuật

Phân tích đơn biến cho thấy có 7 yếu tố: BMI

< 18,5 kg/m2, thời gian phát hiện bệnh > 5 năm,

còn hút thuốc lá, không tuân thủ điều trị thuốc,

không tái khám định kỳ, không sinh hoạt câu lạc

bộ BPTNMT và sử dụng dụng cụ hít không

đúng kỹ thuật liên quan có ý nghĩa thống kê với

nhập viện thường xuyên do đợt cấp Chúng tôi

đưa 7 yếu tố này vào mô hình hồi quy đa biến

thì có 3 yếu tố: thời gian phát hiện bệnh > 5 năm,

không tuân thủ điều trị thuốc và sử dụng dụng

cụ hít không đúng kỹ thuật liên quan độc lập và

gia tăng tỉ lệ nhập viện thường xuyên do đợt cấp

ở bệnh nhân BPTNMT nhóm nguy cơ cao

KẾT LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận

thấy những bệnh nhân vào đợt cấp BPTNMT

thuộc nhóm nguy cơ cao đa phần là những

bệnh nhân lớn tuổi, tỉ lệ bệnh đồng mắc và

suy dinh dưỡng cao, ý thức tuân thủ điều trị

chưa tốt, còn gặp nhiều sai sót trong việc sử

dụng thuốc điều trị ngoại trú, thiếu điều kiện

tái khám cũng như tiếp cận các hoạt động giáo

dục sức khỏe thường xuyên Thời gian phát

hiện bệnh > 5 năm, không tuân thủ điều trị

thuốc, và sử dụng dụng cụ hít không đúng kỹ

thuật có liên quan độc lập đến việc gia tăng tỉ

lệ nhập viện thường xuyên do đợt cấp ở bệnh

nhân BPTNMT nhóm nguy cơ cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anthonisen NR, Manfreda J, Warren CP, et al (1987)

"Antibiotic therapy in exacerbations of chronic obstructive

pulmonary disease" Ann Intern Med, 106 (2), 196-204

2 Cao Văn Hội (2008) "Vi trùng học trong đợt kịch phát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương",

Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

3 Cao Z, Ong KC, Eng P, et al (2006) "Frequent hospital readmissions for acute exacerbation of COPD and their

associated factors" Respirology, 11 (2), 188-195

4 Đinh Ngọc Sỹ, Nguyễn Viết Nhung và cộng sự (2010)

"Nghiên cứu dịch tễ tình hình bệnh phổi tắc nghẽn mạn

tính ở Việt Nam" Y học thực hành, 704 (2), 8-11

5 Feary JR, Rodrigues LC, Smith CJ, et al (2010) "Prevalence of major comorbidities in subjects with COPD and incidence of myocardial infarction and stroke: a comprehensive analysis

using data from primary care" Thorax, 65 (11), 956-962

6 Garcia-Aymerich J, Monso E, Marrades RM, et al (2001)

"Risk factors for hospitalization for a chronic obstructive

pulmonary disease exacerbation EFRAM study".Am J Respir

Crit Care Med, 164 (6), 1002 -1007

7 Godtfredsen NS, Vestbo J, Osler M, et al (2002) "Risk of hospital admission for COPD following smoking cessation

and reduction: a Danish population study" Thorax, 57 (11),

967-972

8 Josephs L, Culliford D, Johnson M, et al (2017) "Improved outcomes in ex-smokers with COPD: a UK primary care

observational cohort study" Eur Respir J, 49 (5)

9 Kardas P., Lewek P and Strzondala M (2015) "Adherence

to treatment in asthma and COPD patients in their doctors'

assessment" Pneumonol Alergol Pol, 83 (6), 436-444

10 Kim M.H, Lee K., Kim K.U et al (2010) "Risk Factors Associated with Frequent Hospital Readmissions for

Exacerbation of COPD" Tuberculosis and Respiratory Diseases,

69 (4)

11 Lê Thị Huyền Trang (2006) "Đánh giá bước đầu áp dụng thông khí áp lực dương không xâm lấn trong điều trị bệnh

phổi tắc nghẽn mạn tính", Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y

Dược thành phố Hồ Chí Minh

12 Lương Ngọc Khuê và Hoàng Văn Minh (2011) "Nghiên cứu

tần suất và mức độ hút thuốc lá ở người Việt Nam", Y học

TP Hồ Chí Minh, 15 (2), 94-100

13 Melani AS, Bonavia M, Cilenti V, et al (2011) "Inhaler mishandling remains common in real life and is associated

with reduced disease control" Respir Med, 105 (6), 930-938

14 Nguyễn Hoài Thu (2016) "Đánh giá tuân thủ điều trị và kỹ thuật sử dụng các thuốc dạng hít trên bệnh nhân bệnh phổi

tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện Bạch Mai", Luận văn Thạc

sĩ Dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội

15 Nguyễn Tấn Bảy (2011) "Khảo sát các yếu tố nguy cơ nhập

viện trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính", Luận văn

Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

16 Nguyễn Trung Thành (2015) "Khảo sát đặc điểm lâm sàng

và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân bệnh phổi tắc

nghẽn mạn tính nhập bệnh viện Nguyễn Tri Phương", Luận

án Chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí

Minh

Trang 8

17 Pothirat C, Chaiwong W., Phetsuk N., et al (2015)

"Evaluating inhaler use technique in COPD patients" Int J

Chron Obstruct Pulmon Dis, 10, 1291-1298

18 Pride N.B (2005) "Ageing and changes in lung mechanics"

Eur Respir J, 26 (4), 563-565

19 Wilkinson T.M, Patel I.S, Wilks M et al (2003) "Airway

bacterial load and FEV1 decline in patients with chronic

obstructive pulmonary disease" Am J Respir Crit Care Med,

167 (8), 1090-1095

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w