1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phục hồi chức năng rối loạn nuốt sau đột quỵ não

5 113 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 259,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ rối loạn nuốt dao động từ 19% đến 65% trong giai đoạn cấp sau đột quỵ. Rối loạn nuốt làm tăng tỷ lệ tử vong, biến chứng và thời gian nằm viện do làm tăng nguy cơ hít sặc, viêm phổi và suy dinh dưỡng. Do đó, quy trình tiếp cận chẩn đoán và can thiệp phục hồi chức năng rối loạn nuốt là rất quan trọng. Mục tiêu của bài là cập nhật điều trị và phục hồi chức năng tối ưu hiện nay đối với rối loạn nuốt sau đột quỵ.

Trang 1

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG RỐI LOẠN NUỐT SAU ĐỘT QUỴ NÃO

Nguyễn Thị Phương Nga*

TÓM TẮT

Tỷ lệ rối loạn nuốt dao động từ 19% đến 65% trong giai đoạn cấp sau đột quỵ Rối loạn nuốt làm tăng tỷ lệ

tử vong, biến chứng và thời gian nằm viện do làm tăng nguy cơ hít sặc, viêm phổi và suy dinh dưỡng Do đó, quy trình tiếp cận chẩn đoán và can thiệp phục hồi chức năng rối loạn nuốt là rất quan trọng Mục tiêu của bài là cập nhật điều trị và phục hồi chức năng tối ưu hiện nay đối với rối loạn nuốt sau đột quỵ

Từ khóa: rối loạn nuốt, đột quỵ

ABSTRACT

MANAGEMENT AND REHABILITATION OF POST-STROKE DYSPHAGIA

Nguyen Thi Phuong Nga

Poststroke dysphagia (PSD), defined here as difficulty in swallowing after a stroke, is a common complication In acute stroke, the prevalence of dysphagia has been reported as between 19% and 65% Dysphagia

is is associated with increased mortality and morbidity due in part to aspiration, pneumonia, and malnutrition Management and Rehabilitation of dysphagia is necessary to optimize functional recovery in the remainders The aim of this article is to update the current optimal management and rehabilitation, including diagnosis, investigation and treatment for post-stroke dysphagia

Keywords: dysphagia, dysphagia

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn nuốt (dysphagia) là tình trạng

khiếm khuyết hoặc rối loạn các giai đoạn của

quá trình nuốt

Tỷ lệ rối loạn nuốt dao động từ 19% đến

65% trong giai đoạn cấp sau đột quỵ, tùy

thuộc vào vị trí của tổn thương đột quỵ, thời

điểm đánh giá và phương pháp đánh giá(3,11)

Rối loạn nuốt làm tăng tỷ lệ tử vong, biến

chứng và thời gian nằm viện ½ số bệnh nhân

rối loạn nuốt sau đột quỵ bị hít sặc

(aspiration), 1/3 số bệnh nhân bị viêm phổi(10)

Nguy cơ viêm phổi tăng gấp 3 lần ở bệnh

nhân rối loạn nuốt Viêm phổi sau đột quỵ khá

phổ biến ước tính từ 5% đến 26% tùy thuộc vào

tiêu chuẩn chẩn đoán Bệnh nhân rối loạn nuốt

có thể không nhận được đầy đủ năng lượng, dẫn

đến suy dinh dưỡng 90% rối loạn nuốt hồi phục

sau 2 tuần Tuy nhiên, thời gian từ lúc đột quỵ đến lúc hồi phục có thể đến 2 – 3 tháng(10)

Sinh lý nuốt

Hoạt động nuốt bao gồm 3 giai đoạn: giai đoạn miệng, hầu họng và thực quản Giai đoạn miệng bao gồm: pha A (chuẩn bị) gồm hoạt động nhai, trộn tạo thành viên thức ăn; và pha B vận chuyển thức ăn đến hầu Giai đoạn hầu là một phản xạ không tự ý, dây thần kinh hướng tâm là V, IX và ly tâm là V, IX, X và XII Các sóng nhu động của giai đoạn thực quản được điều khiển bởi dây IX, X và đám rối thần kinh Auerbach ở thực quản nhằm đưa thức ăn xuống

dạ dày(2)

Cơ chế và các yếu tố nguy cơ của rối loạn nuốt sau đột quỵ

Các yếu tố làm tăng nguy cơ rối loạn nuốt sau đột quỵ gồm tuổi cao, tiền sử đột quỵ, độ nặng của đột quỵ đánh giá bằng thang điểm

*Khoa Nội Thần kinh BV Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BSCKII Nguyễn Thị Phương Nga ĐT: 0918086162 Email: phuongnga2910@yahoo.com

Trang 2

NIHSS, rối loạn ý thức, thể tích tổn thương càng

lớn, và vị trí tổn thương(14,8) Các nghiên cứu

phân tích điểm ảnh (voxel) trên cộng hưởng từ

cho thấy có mối liên quan giữa biểu hiện của rối

loạn nuốt và vị trí tổn thương Thời gian vận

chuyển thức ăn ở miệng kéo dài có liên quan các

tổn thương ở thùy trán dưới và hồi trước trung

tâm (precentral gyrus); thời gian pha hầu kéo dài

chủ yếu do tổn thương ở hạch nền và vành tia

bán cầu phải; tổn thương ở bèo sẫm (putamen)

bên phải thường liên quan hít sặc(8) Đột quỵ

thân não có tỷ lệ mắc rối loạn nuốt cao hơn đột

quỵ bán cầu Hiểu biết về liên quan giữa vị trí

tổn thương và rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ

giai đoạn mạn tính là bước quan trong đầu tiên

để dự đoán rối loạn nuốt lâu dài sau đột quỵ,

cung cấp thông tin về hiệu quả của các can thiệp

điều trị và dự phòng rối loạn nuốt sau đột quỵ

Hệ thống cơ hầu họng được chi phối bởi cả 2

bán cầu nhưng không đối xứng Các nghiên cứu

theo dõi điểm ảnh kích thích từ trường xuyên sọ

(TMS mapping) hoặc hình ảnh cộng hưởng từ

chức năng cho thấy sự bù trừ và hoạt hóa vỏ não

bên lành ở bệnh nhân rối loạn nuốt do tổn

thương bán cầu Sự tái tổ chức của bán cầu

không tổn thương (neuroplasticity) có vai trò

trong hồi phục chức năng nuốt(7,9)

Biến chứng của rối loạn nuốt sau đột quỵ

Rối loạn nuốt là nguy cơ của hít sặc Hít sặc

im lặng “silent” aspiration chiếm tỷ lệ 40% các

trường hợp hít sặc được chẩn đoán xác định

bằng nội soi ống mềm đánh giá nuốt hoặc đánh

giá nuốt bằng XQ có cản quang Rối loạn nuốt có

liên quan với khiếm khuyết cảm giác hầu họng,

100% bệnh nhân rối loạn nuốt có mất cảm giác

hầu họng 1 hay 2 bên(16,1) Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất của rối loạn nuốt Hít sặc (nguy cơ tương đối = 11,56; 95% CI 3,36-9,77), vệ sinh răng miệng kém, giảm miễn dịch là các yếu tố nguy cơ của viêm phổi sau đột quỵ Viêm phổi thường xuất hiện trong tuần đầu sau đột quỵ Bệnh nhân viêm phổi có nguy cơ tử vong và sống phụ thuộc cao hơn, thời gian điều trị dài hơn Bệnh nhân rối loạn nuốt dễ bị thiếu nước và suy dinh dưỡng, giảm chất lượng cuộc sống và cô lập xã hội(19)

Vai trò của đơn vị đột quỵ

Điều trị đột quỵ cần sự can thiệp đa chuyên khoa (multiprofessional) Đơn vị đột quỵ mang lại những lợi ích đáng kể trong việc cải thiện hoạt động sống hàng ngày và giảm tàn phế So với các đơn vị phục hồi chức năng (PHCN) tổng quát, phục hồi chức năng trong đơn vị đột quỵ (ĐVĐQ) làm giảm tỷ lệ tử vong và thời gian nằm viện, tăng khả năng độc lập về chức năng và chất lượng cuộc sống Trong ĐVĐQ, PHCN được thực hiện bởi một đội liên chuyên khoa được huấn luyện và có kiến thức điều trị đột quỵ (bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, chuyên viên vật lý trị liệu, lao động trị liệu, âm ngữ trị liệu …) chuyên chăm sóc bệnh nhân đột quỵ, và thường là trong một vùng địa lý Cho mỗi 100 bệnh nhân được điều trị phục hồi chức năng nội trú đa chuyên khoa thì có thêm 5 bệnh nhân xuất viện với tình trạng độc lập(15) Thành viên đội đột quỵ cần biết cách tầm soát, đánh giá và xử trí can thiệp bệnh nhân có rối loạn nuốt Do đó, một quỵ trình đánh giá và can thiệp chuẩn để thống nhất thực hiện là cần thiết(20)

Dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn nuốt

Bảng 1: Dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn nuốt

Tồn đọng miệng

Chảy nước dãi

Rơi vãi thức ăn

Hho sặc ngay sau khi nuốt Khó bắt đầu nuốt, nuốt chậm Thức ăn vướng họng

Thay đổi giọng nói

Trào ngược miệng – mũi Sụt cân, thay đổi thói quen ăn uống

Viêm phổi tái đi tái lại

Tthức ăn vướng họng hoặc sau xương ức Ssụt cân, thay đổi thói quen ăn uống Vviêm phổi tái đi tái lại Ttrào ngược dạ dày – thực quản

Trang 3

Đánh giá rối loạn nuốt

Các nghiệm pháp tầm soát tại giường

Các nghiệm pháp tầm soát cần được thực

hiện sớm trước khi cho bệnh nhân ăn uống, bởi

bởi điều dưỡng được huấn luyện(13) Các nghiệm

pháp này chủ yếu đánh giá giai đoạn miệng và

hầu, giúp xác định bệnh nhân có thể hay không

thể nuốt an toàn, tức là có nguy cơ hít sặc hay

không Các nghiệm pháp tầm soát có thể bỏ sót

đến 40% hít sặc do đó không giúp xác định có hít

sặc hay không, và do đó thường chưa đủ để đưa

ra quyết định can thiệp Một số nghiệm pháp

được áp dụng rộng rãi, được công nhận thực

hiện bởi điều dưỡng được huấn luyện gồm

nghiệm pháp tầm soát rối loạn nuốt sau đột quỵ

của Bênh viện Barnes Jewish (Barnes Jewish

Hospital Stroke Dysphagia Screen) còn được gọi

là nghiệm pháp tầm soát rối loạn nuốt sau đột

quỵ cấp (Acute Stroke Dysphagia Screen),

nghiệm pháp 3 oz nước (3 oz Water Test), Yale

Swallow Protocol Nghiệm pháp Gugging

Swallow Screen cũng được công nhận rộng rãi,

có thể giúp đưa ra quyết định can thiệp ban đầu

nhưng nghiệm pháp này được thực hiện bởi

chuyên viên âm ngữ và kết hợp với đáh giá nuốt

chi tiết(15)

Lượng giá chi tiết bởi chuyên viên âm ngữ

Lượng giá chi tiết được thực hiện khi các

nghiệm pháp tầm soát cho thấy có rối loạn nuốt,

và được thực hiện bởi chuyên viên âm ngữ Nội

dung lượng giá bao gồm(6):

Khám thần kinh V, VII, IX, X, XII về vận

động, cảm giác, thức tỉnh, vệ sinh răng miệng

Dùng các loại thức ăn có kết cấu khác nhau

và kỹ thuật hổ trợ nuốt khác nhau

Quan sát các dấu hiệu hít sặc: ho, hắng

giọng, thay đổi giọng, khó phát âm, ảnh hưởng

hô hấp (SpO2)

Xác định các rối loạn nuốt ở pha miệng-hầu

Lựa chọn can thiệp thích hợp Nếu bệnh

nhân nuốt an toàn có hay không cần thay đổi kết

cấu thức ăn và cách nuốt thì cho bệnh nhân ăn

và theo dõi, cho chỉ định các chẩn đoán thăm dò chức năng nếu cần xác định hít sặc Nếu bệnh nhân nuốt không an toàn thì không cho ăn đường miệng và tiếp tục theo dõi đánh giá

Chẩn đoán thăm dò chức năng

Hai thăm dò duy nhất giúp phát hiện hít sặc một cách đáng tin cậy là đánh giá nuốt bằng XQ nuốt cản quang (Videofluoroscopy, VFS) và nội soi ống mềm (fiberoptic endoscopic examination

of swallowing, FEES) Trong đó đánh giá nuốt bằng XQ có nuốt cản quang là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán rối loạn nuốt Các thăm dò chẩn đoán này được thực hiện bởi chuyên viên âm ngữ và

kỹ thuật viên(6) Đánh giá nuốt bằng cản quang dưới XQ (VFS) được thực hiện bằng cách đánh giá khiếm khuyết các giai đoạn nuốt ở miệng, hầu, phần trên thực quản trên XQ khi bệnh nhân uống thuốc cản quang với các kết cấu thức ăn khác nhau Phương pháp này là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán hít sặc, nhưng hạn chế là không thể thực hiện thường quy, khó làm lại, bệnh nhân phải chịu tia X, làm tại phòng XQ, bệnh nhân ngồi(6) Nội soi ống mềm đánh giá nuốt (FEES) đánh giá tốc độ và khả năng di chuyển thức ăn qua hầu, tồn đọng tại hạ hầu, phát hiện hít sặc Tuy nhiên, phương pháp này có thể bỏ sót hít sặc, không quan sát giai đoạn miệng và thực quản,

kỹ thuật viên cần có kinh nghiệm, không phổ biến Ưu điểm là có thể thực hiện tại giường, thực hiện khi bệnh nhân không ngồi được, không tiếp xúc tia XQ(16)

Phục hồi chức năng rối loạn nuốt

Chuyên viên âm ngữ xác định khiếm khuyết trong quá trình nuốt, từ đó lựa chọn và phối hợp các biện pháp can thiệp nhằm phục hồi chứ năng nuốt Các biện pháp can thiệp gồm các kỹ thuật

bù trừ (compensation), các bài tập nuốt (swallowing exercises), các biện pháp hổ trợ PHCN, thủ thuật điều trị xâm nhập

Các kỹ thuật bù trừ

Giúp nuốt an toàn (tránh hít sặc) và hiệu quả (tránh tồn đọng thức ăn), có hiệu quả ngay

Trang 4

nhưng không lâu dài(17) Các kỹ thuật này gồm tư

thế thích hơp khi nuốt, kỹ thuật tăng nhận thức

cảm giác, thay đổi kết cấu thức ăn, thể tích ngụm

thức ăn, làm đặc đồ uống, các kỹ thuật nín thở

(breath-holding techniques)

Tư thế thích hợp khi nuốt gồm gập cằm và

quay đầu về bên liệt Gập cằm áp dụng khi chậm

nuốt pha hầu và giảm bảo vệ đường thở, nhằm

làm hẹp đường vào thanh quản, giảm khoảng

cách giữa nắp thanh môn và vách hầu giúp nắp

thanh môn đóng kín hơn Quay đầu về bên liệt

giúp dồn thức ăn sang bên lành(5)

Hầu hết bệnh nhân rối loạn nuốt có mất cảm

giác hầu họng 1 hay 2 bên Kỹ thuật tăng nhận

thức cảm giác bao gồm thay đổi nhiệt độ thức

ăn, carbonate hóa thức uống, thức ăn chua nhằm

cải thiện cảm giác miệng – hầu, giảm thời gian

vận chuyển của giai đoạn miệng, tăng khởi động

giai đoạn hầu, giảm xâm nhập đường thở

Tùy thuộc mức độ rối loạn nuốt mà có chế

độ ăn thích hợp Mức độ 1: chế độ ăn nhão

(Dysphagia Pureed); Mức độ 2: chế độ ăn mềm

không bao gồm thành phần rắn (Dysphagia

Mechanically Altered); Mức độ 3: chế độ ăn

mềm, bao gồm thành phần rắn (Dysphagia

Advanced); Mức độ 4: chế độ ăn bình thường

(regular)(12)

Một số kỹ thuật nín thở khi nuốt là Nuốt trên

thanh môn (supraglottic swallow), nuốt siêu trên

thanh môn (super-supraglottic swallow) Kỹ

thuật nuốt trên thanh môn giúp làm sạch họng

và đóng thanh môn, thực hiện bằng cách yêu cầu

bệnh nhân làm theo trình tự nín thở, nuốt, ho

mạnh, nuốt, sau đó tiếp tục hít vào Ở kỹ thuật

nuốt siêu trên thanh môn giúp tăng cường đóng

thanh môn, yêu cầu bệnh nhân thực hiện theo

trình tự nín thở, gắng sức nuốt, ho, nuốt, ho,

nuốt, tiếp tục hít vào(17)

Các bài tập nuốt

Được lựa chọn thích hợp tùy khiếm khuyết

trong quá trình nuốt, thực hiện ngoài bữa ăn và

cho hiệu quả lâu dài

Tập lưỡi với kháng lực (Lingual Resistance

Exercises), tập cơ môi, hàm đối với rối loạn nuốt

do giai đoạn miệng Đối với khiếm khuyết giai đoạn hầu có các bài tập Masako (Masako Maneuver), tập súc miệng (Gargling), tập nuốt gắng sức (Effortful Swallow), bài tập Mendelsohn (Mendelsohn Maneuver) … Các bài tập này nhằm tăng cường các cơ lưỡi, cơ vùng hầu, bảo vệ đường thở, giảm tồn đọng thức ăn Bài tập nhóm cơ hổ trợ nuốt (Shaker Exercise) gồm cơ ức đòn chũm và cơ bám da

cổ(17) Bài tập Masako được thực hiện bằng cách yêu cầu bệnh nhân đưa lưỡi ra trước, và giữ cố định giữa 2 hàm răng đồng thời thực hiện động tác nuốt

Các biện pháp phối hợp hổ trợ phục hồi chức năng (PHCN) nuốt

Gồm châm cứu, thuốc (metoclopramide), kích thích điện thần kinh-cơ (NMES), kích thích điện vùng hầu (pharyngeal electrical stimulation), kích thích điện xuyên sọ (tDCS), kích thích từ xuyên sọ (transcranial magnetic stimulation)(17,18,20)

Các thủ thuật điều trị xâm nhập

Nên đặt ống thông dạ dày trong 7 ngày đầu sau đột quỵ cho bệnh nhân không thể nuốt an toàn ngay cả khi thay đổi kết cấu thức ăn và cách nuốt Đặt ống thông dạ dày sớm làm giảm tỷ lệ

tử vong ở bệnh nhân không thể ăn uống bằng miệng Ngoài ra, dùng ống thông mũi-dạ dày giúp hổ trợ dinh dưỡng trong thời gian ngắn (từ

2 - 3 tuần) cho bệnh nhân không thể nuốt Nên

mở dạ dày ra da cho bệnh nhân không thể nuốt kéo dài để đảm bảo nuôi dưỡng đầy đủ(17,20)

KẾT LUẬN

Rối loạn nuốt là khiếm khuyết thần kinh thường gặp sau đột quỵ, làm tăng nguy cơ viêm phổi, tử vong và kéo dài thời gian nằm viện Quy trình tiếp cận rối loạn nuốt bao gồm tầm soát, lượng giá chi tiết và lên kế hoạch can thiệp Phục hồi chức năng rối loạn nuốt sau đột quỵ nên phối hợp đa chuyên ngành bao gồm điều dưỡng

và chuyên viên âm ngữ trị liệu Phối hợp các biện pháp can thiệp giúp tăng cường hiệu quả

Trang 5

phục hồi chức năng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aviv J, et al (1996) Silent laryngopharyngeal sensory deficits

after stroke Ann Otol Rhinol Laryngol, 105:92–97

2 Dodds WJ (1989) Physiology of swallowing Dysphagia,

3(4):171-8

3 Donovan NJ, et al (2013) Dysphagia screening: state of the art:

invitational conference proceeding from the State-of-the-Art

Nursing Symposium, International Stroke Conference 2012

Stroke, 44:e24–e31

4 Fedder WN (2017) Review of Evidenced-Based Nursing

Protocols for Dysphagia Assessment Stroke, 48:e99-e101

5 Fraser S, Steele CM (2012) Dysphagia Management in Stroke

Rehabilitation Can J Speech Lang Pathol Aud, 36:142–8

6 González-Fernánde M, et al (2013) Dysphagia after Stroke: an

Overview Curr Phys Med Rehabil Rep Sep, 1(3):187–196

7 Hamdy S and Aziz Q (1998) Recovery of swallowing after

dysphagic stroke relates to functional reorganization in the

intact motor cortex Gastroenterology, 115: 1104–1112

8 Jang S, et al (2017) Lesion Characteristics of Chronic Dysphagia

in Patients With Supratentorial Stroke Ann Rehabil Med,

41(2):225-230

9 Li S, et al (2009) Functional magnetic resonance imaging study

on dysphagia after unilateral hemispheric stroke: a preliminary

study J Neurol Neurosurg Psychiatry, 80:1320–1329

10 Mann G, Hankey G and Cameron D (1999) Swallowing

function after stroke prognosis and prognostic factors at 6

months Stroke, 30:744–748

11 Mann G, Hankey GJ and Cameron D (2000) Swallowing disorders following acute stroke: prevalence and diagnostic

accuracy Cerebrovasc Dis, 10: 380–386

12 National Dysphagia Diet Task Force (2002) National Dysphagia

Diet: Standardization for Optimal Care Chicago, IL: American

Dietetic Association

13 Powers WJ, et al (2018) Guidelines for the Early Management

of Patients With Acute Ischemic Stroke Stroke, 49:e46–e99

14 Rofes L et al https://doi.org/10.1111/nmo.13338

natural habitat Stroke, 38:1886–1892.

16 Smith C, et al (1999) Incidence and patient characteristics associated with silent aspiration in the acute care setting

Dysphagia, 14: 1–7

17 Smithard DG (2016) Dysphagia Management and Stroke

Units Curr Phys Med Rehabil Rep, 4:287–294

18 Sproson L, et al (2018) Combined electrical stimulation and exercise for swallow rehabilitation post-stroke: a pilot

randomized control trial Int J Lang Commun Disord, 53(2):405–417

19 Westendorp W, et al (2011) Post-stroke infection: a systematic

review and meta-analysis BMC Neurol, 11:110

20 Winstein CJ, et al (2016) Guidelines for Adult Stroke

Rehabilitation and Recovery Stroke, 47:e98–e169

Ngày nhận bài báo: 15/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 02/07/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 15:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w