1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm viêm màng não phế cầu tại khoa nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong 5 năm

7 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 284,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

S. pneumoniae là một trong những tác nhân hàng đầu gây viêm màng não ở trẻ em với tỉ lệ tử vong cao cũng như để lại những di chứng thần kinh nặng nề. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm của viêm màng não phế cầu ở trẻ em.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM VIÊM MÀNG NÃO PHẾ CẦU TẠI KHOA NHIỄM

BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TRONG 5 NĂM

Trần Thị Thùy Trang *, Nguyễn Huy Luân**, Nguyễn An Nghĩa**

TÓM TẮT

Mở đầu: S pneumoniae là một trong những tác nhân hàng đầu gây viêm màng não ở trẻ em với tỉ lệ tử

vong cao cũng như để lại những di chứng thần kinh nặng nề

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm của viêm màng não phế cầu ở trẻ em

Đối tượng - phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi hồi cứu lại các ca viêm màng não phế cầu ở trẻ từ 1

tháng – 15 tuổi, điều trị tại khoa Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 1-TpHCM, từ 01/01/2012 đến 31/03/2017 Các số liệu của bệnh nhi, bao gồm đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, và điều trị, được thu thập và phân tích

Kết quả: Tổng cộng, có hơn 55 bệnh nhi được đưa vào nghiên cứu trong 5 năm 78,2% trường hợp (n = 43)

có kết quả cấy dịch não tủy dương tính với phế cầu; 83,6% trường hợp (n = 46) có kết quả latex/dịch não tủy dương tính với phế cầu; và 61,8% cấy máu dương tính với phế cầu Lý do nhập viện thường gặp là sốt (n = 25; 45,5%); và co giật (n = 24; 43,6%) Kháng sinh thường chọn lựa là ceftriaxone/ cefotaxime và vancomycin, và/ hoặc rifampicin.Thời gian điều trị trung bình là 21 ngày Tỉ lệ tử vong chiếm 10,9% (n = 6)

Kết luận: Viêm màng não do phế cầu vẫn là một tác nhân hàng đầu gây viêm màng não vi khuẩn ở trẻ em

Bệnh thường gây biến chứng nặng nề và gây gánh nặng cho ngành y tế

Từ khóa: viêm màng não phế cầu

ABSTRACT

CHACTERISTICS OF PNEUMOCOCCAL MENINGTITIS AT CHILDREN’S HOSPITAL 1

Tran Thi Thuy Trang, Nguyen Huy Luan, Nguyen An Nghia

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 346 - 352

Background: Streptococcus pneumoniae is known as one of the major causes of meningitis in children

leading to high mortality rate and severe neurologic sequelae

Objectives: This study determined the characteristics of pneumococcal meningitis in children

Methods: pneumococcal meningtitis casesoccuring from January 2012 to March 2017 at Children’s Hospital

1 were review retrospectively The records of all patients, including data on epidemiology, clinical fetures, laboratory and treatment informations, were obtained and analyzed

Results: in total, the cases of 55 pediatric patients seen over a 5-year period were analyzed 78.2%of these

cases (n=43) had a cerebral spinal fluid culture positive with pneumococcus; 83.6% (n= 46) had a latex of cerebral spinal fluid positive with pneumococcus, and 61.8 % had a blood culture positive with pneumococcus The common chief complaint was seizure (n=24; 43.6%), and fever (n=25; 45.5%) The most common initial antibiotic treatments were ceftriaxone, vancomycin, and/ or rifampicin The treatment duration was 21 days The mortality rate was 10.9% (n = 6)

Conclusion: Streptococcus pneumonia is not only a main pathogen of pediatric meningitis but also the reason of numerousneurologic sequelae Pneumococcal meingititis is the burden of the healthcare sector

* Bệnh viện Nhi Đồng 1, TPHCM, ** Bộ môn Nhi – Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

Keywords: pneumococcal meningitis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm màng não vi khuẩn vẫn là một trong

những bệnh lý nhiễm trùng quan trọng có khả

năng dẫn đến tử vong và di chứng Tuy nhiên,

bệnh lý này vẫn chưa được đánh giá toàn diện ở

nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt

Nam trong các tác nhân gây bệnh, Streptococcus

pneumoniae là nguyên nhân hàng đầu của viêm

màng não vi khuẩn ở trẻ em, nhất là sau khi

vắc-xin Haemophilus influenzae type b được triển khai

ở nhiều quốc gia làm giảm đáng kể H influenzae

type b Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã mô

tả chi tiết các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận

lâm sàng, diễn tiến cũng như điều trị viêm màng

não do S.pneumoniae nhằm đưa ra cái nhìn tổng

quan để giúp định hướng, chẩn đoán và điều trị

viêm màng não do S.pneumoniae(10)

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng,

cận lâm sàng, diễn tiến và điều trị của viêm

màng não do phế cầu ở trẻ em từ 1 tháng đến 15

tuổi tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ

tháng 01/2012 đến tháng 3/ 2017

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhi từ 1 tháng đến 15 tuổi

nhập khoa Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 1 từ

01/01/2012 đến 31/03/2017 được chẩn đoán xác

định viêm màng não vi khuẩn với xét nghiệm vi

khuẩn học dương tính

Tiêu chuẩn chọn vào

Lâm sàng gợi ý viêm màng não: sốt và hội

chứng màng não, và dịch não tủy có ≥ 10 BC/

mm3, và xét nghiệm vi khuẩn học dương tính:

kháng nguyên hòa tan ngưng kết, và/ hoặc cấy

DNT dương tính

Tiêu chuẩn loại trừ

Giai đoạn hồi cứu từ 01/01/2012 đến

30/09/2016: có bệnh lý ác tính đi kèm, hoặc có bệnh lý tự miễn đi kèm hoặc suy giảm miễn dịch

đi kèm hoặc bệnh án có ít hơn 80% thông tin cần thu thập và giai đoạn tiến cứu từ 01/10/2016 đến 31/03/2017: các trường hợp viêm màng não vi khuẩn mà người nhà không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Tại khoa Vi sinh bệnh viện Nhi Đồng 1, chúng tôi thu thập các trường hợp bệnh nhi có xét nghiệm vi khuẩn học dịch não tủy dương tính nhập viện tại khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01/01/2012 đến 30/09/2016 Tại khoa Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 1, chúng tôi tiến hành thu thập các trường hợp viêm màng não từ 01/10/2016 đến 31/03/2017 thỏa tiêu chuẩn nhận vào Chúng tôi ghi nhận gián tiếp từ hồ sơ bệnh

án các dữ liệu về dịch tễ học, tiền sử, bệnh sử, triệu chứng lâm sàng, quá trình diễn tiến, các giá trị cận lâm sàng và quá trình điều trị theo phiếu thu thập số liệu Số liệu được nhập bằng phần mềm Excel và được xử lý bằng phần mềm thống

kê SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Tỉ lệ viêm màng não phế cầu

Từ 01/01/2012 đến 31/3/2017, tại khoa Nhiễm bệnh viện Nhi Đồng 1 có 114 trường hợp viêm màng não có tác nhân vi khuẩn được xác lập, trong đó có 55 trường hợp viêm màng não phế cầu chiếm tỉ lệ 48,24%

Bảng 1: Tỉ lệ viêm màng não vi khuẩn

Streptococcus pneumoniae 55 (48,24)

Escherichia coli 29 (25,43)

Streptococcus agalactiae 6 (5,26)

Haemophilus influenzae 15 (13,15)

Nesseria meningtidis b 2 (1,75)

Đặc điểm dịch tễ

Trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận tuổi trung vị: 14 tháng (6,25 tháng- 29,75 tháng) Tuổi nhỏ nhất: 2 tháng tuổi, tuổi lớn nhất: 9 tuổi, trong

Trang 3

đó nhóm tuổi chiếm ưu thế là từ 3 tháng đến 12

tháng với 26 trường hợp (47,3%) Tỉ lệ nam/ nữ là

1,29 Tiền căn chủng ngừa phế cầu: có 2 trẻ chích

ngừa phế cầu, trong đó có 1 trường hợp

β-Thalassemia 7 tuổi có chỉ định cắt lách nên

chủng ngừa phế cầu

Đặc điểm lâm sàng

96,4% trường hợp viêm màng não phế cầu

đều có sốt tại thời điểm nhập viện và trong số đó

có 43,6% trường hợp co giật kèm theo Số ngày

khởi bệnh đến lúc nhập viện 3 (2 ngày-7 ngày)

Thời gian khởi bệnh ngắn nhất là 1 ngày, dài

nhất là 16 ngày Chúng tôi ghi nhận có 4 ca có

dấu thần kinh định vị với 1 ca yếu nửa người

bên trái, 3 ca có dấu sụp mi phải với đồng tử

dãn, phản xạ ánh sáng âm tính Chúng tôi ghi

nhận trong nghiên cứu 9 ca sốc nhiễm trùng

được điều trị dịch chống sốc, vận mạch chiếm

16,4% Trong đó 10,9% ca từ 3 tháng -12 tháng,

3,6 % ≥ 5 tuổi Các trường hợp viêm màng não

đều được đánh giá tri giác lúc nhập viện và

chúng tôi ghi nhận các trường hợp không có rối

loạn tri giác 30 trường hợp (54,5%), hôn mê nhẹ

đánh giá theo thang điểm Glassgow với 11

trường hợp (20%), hôn mê nặng với 7 ca (12,7%),

ngủ gà với 3,6%

Đặc điểm cận lâm sàng

Dịch não tủy: bạch cầu trung vị 681

(170-2.034) tế bào/mm3, với 47,3% trường hợp có

bạch cầu từ 100 - 1.000 tế bào, đạm trung vị

2,31 (1,26-3,53) (g/L) với đạm > 1 g/L chiếm ưu

thế với 85,5%, lactate ≥ 3 mmol/L chiếm đa số

với 92,7% Tỉ lệ latex ngưng kết dương tính

chiếm 83,6%, cao hơn tỉ lệ cấy dịch não tủy

dương tính là 78,2%, tỉ lệ cấy máu dương tính

phế cầu thấp nhất là 61,8%, tỉ lệ cấy máu

dương tính với vi khuẩn khác là 3,6% Trong

55 trường hợp viêm màng não phế cầu, 34

trường hợp được chẩn đoán dựa vào phản

ứng kháng nguyên ngưng kết dương tính với

S.pneumoniae và cấy dịch não tủy S.pneumoniae

dương tính (61,8%), 12 trường hợp viêm màng

não phế cầu chỉ có phản ứng kháng nguyên

ngưng kết dương tính với S.pneumoniae trong

khi cấy dịch não tủy âm tính (21,8%), 9 trường hợp chẩn đoán dựa vào cấy dịch tủy dương

tính với S.pneumoniae trong khi phản ứng

kháng nguyên ngưng kết âm tính (16,4%) CT-scan não ghi nhận 52,7% bất thường với nhồi máu não (18,2%), tụ dich dưới màng cứng (14,5%)

Kháng sinh đồ dịch não tủy: 43 trường hợp cấy dương tính thì 100% nhạy với vancomycin, chưa ghi nhận tình trạng trung gian hay kháng với vancomycin Tỉ lệ kháng với penicillin là 69,1%; kháng với ceftriaxone 14,5%, kháng với

chloramphenicom là 9,1% Ngoài ra, chúng tôi ghi nhận có 40% ca kháng 3 loại kháng sinh trở lên, 30,9% ca kháng 2 loại kháng sinh, 7,3% kháng 1 loại kháng sinh

Đặc điểm điều trị

Điều trị lúc đầu khi nhập viện đơn trị liệu với 17 trường hợp thường là ceftriaxone/ cefotaxime (30,9%) Điều trị phối hợp 2 loại kháng sinh chiếm ưu thế với 31 trường hợp (56,4%) với meropenem và vancomycin (13 trường hợp- 23,6%), thứ hai là ceftriaxone/ cefotaxime và vancomycin (6 trường hợp - 10,9%) Điều trị phối hợp 3 loại kháng sinh là 9 trường hợp (16,4%) thường là ceftriaxone/ cefotaxime và vancomycin và rifampicin Đối với

17 trường hợp điều trị ban đầu với ceftriaxone/cefotaxime thì ghi nhận lúc xuất viện được đổi sang phối hợp ceftriaxone/ cefotaxime, vancomycin và rifampicin chiếm 8 trường hợp (47,1%); kết hợp 2 loại ceftriaxone/cefotaxime và vancomycin hay meropenem và vancomycin, và/ hoặc rifampicin lần lượt là 2 trường hợp (11,8%) Trong tất cả các trường hợp, 2 trường hợp sử dụng đơn trị ceftriaxone trong quá trình điều trị chiếm 3,6%

Thời gian nằm viện trung vị 22 (15-34) ngày Chúng tôi ghi nhận (9,1%) trường hợp di chứng thần kinh là não úng thủy, động kinh triệu chứng, phẫu thuật dẫn lưu não thất- màng bụng

Trang 4

Cuối cùng, 6 (10,9%) ca tử vong và bệnh nặng

xin về, trong đó 3 ca từ 3 tháng đến 12 tháng

(5,4%), 1 ca nhỏ hơn 3 tháng

Khi so sánh nhóm viêm màng não phế cầu

tử vong và nhóm còn sống thì các yếu tố liên

quan đến tử vong chúng tôi ghi nhận tình trạng

hôn mê nặng, dấu thần kinh định vị (dãn đồng

tử, yếu nửa người), sốc nhiễm trùng, thở máy

BÀN LUẬN

Trong thời đại phát triển mạnh mẽ các loại

vắc-xin, dịch tễ học viêm màng não vi khuẩn có

sự thay đổi lớn, S pneumonia trở thành tác nhân

gây viêm màng não hàng đầu ở nhiều nơi trên

thế giới Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi

nhận tỉ lệ viêm màng não phế cầu chiếm tỉ lệ

48,24% trong tổng số ca viêm màng não vi khuẩn

tác nhân được xác lập Khi so sánh với các

nghiên cứu khác trên thế giới khá tương đồng

như theo nghiên cứu của Nigrovic và các cộng

sự khảo sát trên 231 trẻ 1 tháng-19 tuổi từ năm

2001-2004 thì tỉ lệ viêm màng não do phế cầu là

33,3%(21,20), tương tự nghiên cứu tại Ai Cập,

Pakistan tỉ lệ này lần lượt là 30% và 27%(1,13)

Chúng tôi ghi nhận tỉ lệ chủng ngừa phế cầu rất

thấp, 2 trong số 55 ca (3,67%) Điều này có thể

giải thích là vắc-xin chủng ngừa phế cầu mặc dù

được được đưa vào chương trình tiêm chủng

quốc gia ở Hoa Kỳ năm 2000, nhưng tại Việt

Nam vắc-xin mới được chấp thuận vào năm

2015 và chưa đưa vào chương trình tiêm chủng

mở rộng Lứa tuổi mắc bệnh thường gặp trẻ 3

tháng -24 tháng tuổi theo nghiên cứu của chúng

tôi cũng như trong các nghiên cứu khác nhưng

vắc-xin phế cầu khuyến cáo trong nhóm tuổi này

hiện tại ở Việt Nam là Synflorix ngừa 10 chủng

phế cầu thì giá thành tương đối cao, không phổ

biến rộng rãi tại các tỉnh thành khác nên người

dân chưa có sự quan tâm thực sự đến chủng

ngừa phế cầu

Xét riêng triệu chứng co giật thì số trường

hợp viêm màng não phế cầu co giật trước nhập

viện chiếm tỉ lệ cao với 44,4%, tiếp theo co giật

trong vòng 72 giờ nhập viện với 38,2% Theo y

văn, khoảng 20 % trẻ viêm màng não vi khuẩn

có co giật trước nhập viện và 26% co giật trong

1-2 ngày đầu nhập viện(4,11,2) Mặc dù thời gian xảy

ra co giật trước hay sau vài ngày đầu nhập viện, không có giá trị tiên lượng phát triển động kinh

về sau Nhưng đặc điểm co giật khó kiểm soát hay xảy ra sau ngày thứ 4 nhập viện hay xuất hiện trễ hơn, hay co giật khu trú liên quan đến di chứng não(17,22) Các trường hợp viêm màng não

có rối loạn tri giác chiếm 45,5%, trong khi đó có thời gian khởi bệnh ngắn 3 (2 ngày-7 ngày) nên diễn tiến khá nhanh và nặng nề tại thời điểm nhập viện Điều này chứng tỏ tác nhân phế cầu

có động lực mạnh gây tổn thương nhanh, nặng nề; bên cạnh đó là các trường hợp điều trị tuyến trước không đáp ứng có rối loạn tri giác chuyến lên bệnh viện Nhi Đồng 1

Bạch cầu dịch não tủy trên >1000 TB chiếm 40%, bạch cầu từ 100- ≤ 1.000 TB có tỉ lệ 47,3%, trong đó thành phần neutrophil >50% chiếm ưu thế với 85,5% Kết quả này của chúng tôi khi so sánh với 2 nghiên cứu viêm màng não phế cầu tại Hoa Kỳ năm 1998 và 2011 thì số lượng bạch cầu trung vị nhỏ hơn(10,2) Nghiên cứu viêm màng não vi khuẩn năm 2008 cho kết quả trung vị bạch cầu dịch não tủy cao hơn 1.058 (207-3.562) TB/mm3 cao hơn so với kết quả của chúng tôi(20) Nhưng thành phần neutrophil trong dịch não tủy chiếm ưu thế thì khá tương đồng giữa các nghiên cứu(20,10,5) Điều này phù hợp và được ghi nhận trong y văn, bạch cầu dịch não tủy tăng cao thể hiện đáp ứng cơ thể với tình trạng nhiễm trùng(10,20) Đạm trong dịch não tủy > 1 g/L chiếm

ưu thế (85,5%) Kết quả đạm dịch não tủy khá cao khi so sánh với các nghiên cứu viêm màng não phế cầu khác(10,20) Lượng đạm tăng cao phản ánh gián tiếp tình trạng viêm nhiễm nặng Lactate dịch não tủy ≥ 3 mmol/L chiếm ưu thế (92,7%) Kết quả của chúng tôi khá tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung năm

2004, lactat dịch não tủy trung bình cao ở cả 2 nhóm viêm màng não đáp ứng điều trị hoàn toàn và không hoàn toàn lần lượt là 6,8 ± 2,45 mmol/L và 7,87± 2,43 mmol/l Ngoài ra lactate

Trang 5

dịch não tủy có giá trị đánh giá mức độ viêm

nhiễm, và diễn tiến của lactate giúp đánh giá

đáp ứng điều trị và tiên lượng(1,19,18)

Kết quả kháng sinh đồ: chúng tôi ghi nhận

tình trạng kháng Penicilline cao 69,1% trong tổng

số ca viêm màng não phế cầu, kháng với

ceftriaxone là 14,5%, kháng với cefotaxime là

18,2%, kháng với chloramphelicol là 9,1%

Nghiên cứu 14 trung tâm tại 6 nước châu Á

trong 2 năm 2000-2001 về độ nhạy cảm kháng

sinh của S pneumoniae với bệnh phẩm khác nhau

thì kết quả chung tại châu Á 52,4% trường hợp

không nhạy với penicillin, 23% ca trung gian với

penicillin, 29,4% ca kháng với penicilline, riêng

tại Việt Nam tỉ lệ kháng cao nhất với 71,4%,

trung gian là 20,6% với MIC > 2mg/L(24) Điều này

khá tương đồng khi so sánh với kết quả nghiên

cứu của chúng tôi, mặc dù tỉ lệ kháng penicillin

của chúng tôi thấp hơn, có thể giải thích do bệnh

phẩm của chúng tôi là dịch não tủy, khác với

bệnh phẩm của nghiên cứu từ nhiều nguồn Hơn

nữa năm 2013, nghiên cứu mới về kháng

penicillin tại châu Á cho những trường hợp viêm

màng não phế cầu là 57,5% với MIC ≥0,12 µg/ml

theo tiêu chuẩn CLSI(12) Vấn đề S pneumoniae

kháng penicillin cao cũng được ghi nhận từ năm

1999(9) Cũng theo nghiên cứu đa trung tâm tại

châu Á, ghi nhận được tình trạng kháng

ceftriaxone ở những ca viêm màng não là 4,1%

với MIC ≥ 2mg/L; hơn nữa tại Việt Nam ghi

nhận tình trạng chủng phế cầu kháng

ceftriaxone cao với MIC ≥ 8mg/L(24) Kết quả

kháng ceftriaxone của chúng tôi cao hơn Điều

này báo động cho tình trạng kháng kháng sinh

ngày càng cao của S pneumoniae tại Việt Nam

trong những năm gần đây Thêm vào đó, số ca

ghi nhận đa kháng tức là kháng 3 loại kháng

sinh khác nhau trở lên trong nghiên cứu của

chúng tôi là 40%, khá tương đồng với nghiên

cứu với tỉ lệ MDR tại Hàn Quốc là 34,7%(14),

nhưng thấp hơn so với nghiên cứu tại Việt Nam

khi tỉ lệ MDR là 71,4%(24) Cũng theo nghiên cứu

tại châu Á năm 2013 ghi nhận tỉ lệ MDR 59,4%(12)

Điều này có thể giải thích do nghiên cứu của

chúng tôi về viêm màng não phế cầu ở trẻ em, bệnh lý phế cầu xâm lấn, bệnh phẩm là dịch não tủy nên có sự chênh lệch do độ tuổi, cách chọn mẫu, loại bệnh phẩm giữa các nghiên cứu Nghiên cứu tại Braxin, ghi nhận 55,8% trường hợp đề kháng ít nhất 1 loại kháng sinh trở lên, báo động tình trạng đa kháng sinh ở nhiều nơi trên thế giới(3)

Cuối cùng, chúng tôi ghi nhận 100% nhạy với vancomycin, chưa ghi nhận tình trạng kháng hay trung gian với vancomycin Điều này được ghi nhận trong các nghiên cứu(14,24,8) Tương tự điều này cũng được ghi nhận trong y văn, mặc

dù có đề cập đến tình trạng dung nạp vacomycin

của Streptococcus pneumoniae(23,15,25,6) Vì vậy, kháng sinh vancomycin thích hợp điều trị viêm màng não phế cầu nặng, có biến chứng

Theo nghiên cứu giải phẫu bệnh của những trường hợp tử vong do viêm màng não phế cầu, cho thấy tổn thương mạch máu là chủ yếu gây ra tổn thương não mà biểu hiện chủ yếu là nhồi máu não, viêm não thất, thuyên tắc(7) Mặc dù, chúng tôi không ghi nhận hình ảnh viêm não, có thể do chúng tôi tiến chụp CT-scan não không khảo sát MRI não nên hình ảnh trên CT-scan não không ghi nhận hình ảnh viêm não Vì vậy, biến chứng nhồi máu não thường gặp nhất, biến chứng khó được nhận biết trên siêu âm não ban đầu, nên cần chụp CT-scan não hay MRI não để kiểm tra và phát hiện ra biến chứng sớm khi có triệu chứng gợi ý Biến chứng nội sọ được phát hiện trên xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh giải thích phần nào tình trạng rối loạn tri giác lúc nhập viện, độc lực mạnh của tác nhân phế cầu Hơn 19 năm qua, đã có thay đổi về mức độ kháng kháng sinh của chủng phế cầu đối với từng loại kháng sinh, đặc biệt theo nghiên cứu năm 2004, kháng penicillin ở Việt Nam cao 71,4% với MIC > 2mg/L(24) Vì vậy, penicillin không sử dụng để điều trị, tại khoa Nhiễm thường điều trị phối hợp 2 loại kháng sinh, và không dùng vancomycin đơn độc để điều trị Kết hợp ceftriaxone/ cefotaxime, vancomycin và rifampicin chiếm tỉ lệ cao nhất 52,7% trường

Trang 6

hợp, với thời gian điều trị 17 (14-22) ngày; công

thức kháng sinh này được khuyến cáo trong y

văn, và có hiệu quả điều trị khá cao Đối với các

trường hợp nặng, kém đáp ứng điều trị ban đầu

thì điều trị kết hợp chloramphenicol với thời

gian điều trị kéo dài, dù ban đầu đã được kết

hợp kháng sinh 2 loại Điều này phản ánh gián

tiếp phần nào diễn tiến phức tạp và đáp ứng lâm

sàng ban đầu với kháng sinh ở những ca viêm

màng não ở nghiên cứu của chúng tôi Mặc dù

đã thay đổi điều trị loại và phương thức điều trị

trong những năm gần đây nhưng viêm màng

não phế cầu vẫn gây tổn thương nặng nề

Khi so sánh nhóm viêm màng não phế cầu

tử vong và nhóm còn sống thì các yếu tố liên

quan đến tử vong chúng tôi ghi nhận tình trạng

hôn mê nặng, dấu thần kinh định vị (dãn đồng

tử, yếu nửa người), sốc nhiễm trùng, thở máy

Khá tương đồng với nghiên cứu năm 2007 cũng

tương đồng khi ghi nhận sốc, hôn mê, thở máy là

3 trong 5 yếu tố tiên lượng tử vong

KẾT LUẬN

Phế cầu là tác nhân gây viêm màng não vi

khuẩn thường gặp ở trẻ em hiện nay với bệnh

cảnh nặng nề nhanh chóng với sốt cao, co giật và

phản ứng viêm cao, tỉ lệ tử vong cao Tỉ lệ chủng

ngừa phế cầu còn rất thấp nên cần tuyên truyền

người dân về chương trình phòng ngừa Kháng

sinh ban đầu đối với các trường hợp nặng, phản

ứng viêm cao cần chú ý tác nhân phế cầu nên

điều trị kháng sinh cần bao phủ Kết hợp kháng

sinh sớm với vancomycin nên được khuyến cáo

trước tình hình kháng thuốc ngày càng cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abro AH, et al (2009) "CSF lactate level: a useful diagnostic

tool to differentiate acute bacterial and viral meningitis" J Pak

Med Assoc, 59(8):pp.508-11

2 Arditi M, et al (1998) "Three-Year Multicenter Surveillance of

Pneumococcal Meningitis in Children: Clinical Characteristics,

and Outcome Related to Penicillin Susceptibility and

Dexamethasone Use" Pediatrics, 102(5):pp.1087-97

3 Azevedo J, et al (2016) "Genetic profiles and antimicrobial

resistance of Streptococcus pneumoniae non-PCV10 serotype

isolates recovered from meningitis cases in Salvador, Brazil"

Journal of Medical Microbiology, 65(10):pp.1164-70

4 Carla GG, George HM (2012) “Acute Bacterial Meningitis beyond the Neonatal Period” In: Chery J (eds) Principles and practice of pediatric infectious diseases, 4th ed, pp.272-78 Elsevier, Philadelpha, PA

5 Edward NJ, Daniel MM (2015) “Streptococcus pneumoniae”.In: Bennett JE (eds) Mandell, Douglas, and Bennett’s principles and practice of infectious diseases, 8th ed,

pp 2310-27 Elsevier, Philadelphia, PA

6 Engelen JY, et al (2016) "Pneumococcal meningitis: clinical-pathological correlations " Acta Neuropathol Commun,

10:pp.4:26

7 Fasola EL, et al (1997) "Variation in erythromycin and clindamycin susceptibilities of Streptococcus pneumoniae by four test methods" Antimicrobial Agents and Chemotherapy,

41(1):pp.129-34

8 Goldstein FW (1999) "Penicillin-resistant Streptococcus

pneumoniae: selection by both β-lactam and non-β-lactam

antibiotics" Journal of Antimicrobial Chemotherapy,

44(2):pp.141-44

9 Gouveia EL, et al (2011) "Clinical outcome of pneumococcal

meningitis during the emergence of pencillin-resistant

Streptococcus pneumoniae: an observational study" BMC

Infectious Diseases, 11(1):pp.323

10 Green SM, et al (1993) "Can seizures be the sole manifestation

of meningitis in febrile children?" Pediatrics, 92(4):pp.527-34

11 Kang C, Song J (2013) "Antimicrobial Resistance in Asia:

Current Epidemiology and Clinical Implications" Infect

Chemother, 45(1):pp.22-31

12 Khowaja AR, et al (2013) "Mortality and neurodevelopmental

outcomes of acute bacterial meningitis in children aged <5

years in Pakistan" J Pediatr, 163(1):pp.86-91

13 Kim SH, et al (2016) "Serotype Distribution and Antimicrobial Resistance of Streptococcus pneumoniae Isolates Causing Invasive

and Noninvasive Pneumococcal Diseases in Korea from 2008

to 2014" BioMed Research International, 2016

14 Kwang S (2014) “Bacterial Meningitis Beyond the Neonatal Period” In: Bennett JE (eds) Feigin & Cherry’s Textbook of Pediatric Infectious Diseases, 7th ed,, pp.425-62 Elsevier Health Sciences, Philadelphia, PA

15 Mekitarian-Filho E, et al (2014) "Cerebrospinal fluid lactate

level as a diagnostic biomarker for bacterial meningitis in

children" International Journal of Emergency Medicine, 7:pp.14-14

16 Nigrovic LE, et al (2008) "Effect of antibiotic pretreatment on

cerebrospinal fluid profiles of children with bacterial

meningitis" Pediatrics, 122(4):pp.726-30

17 Nigrovic LE, Kuppermann N, Malley R (2008) "Children with bacterial meningitis presenting to the emergency department

during the pneumococcal conjugate vaccine era" Acad Emerg

Med, 15(6):pp.522-8

18 Pomeroy SL, et al (1990) "Seizures and other neurologic sequelae of bacterial meningitis in children" New England

Journal of Medicine, 323(24):pp.1651-57

19 Prober CG, Mathew R (2015) “Acute Bacterial Meningitis Beyond the Neonatal Period” In Kliegman RM (eds) Nelson textbook of pediatrics, 20th ed, pp 2938-46 Elsevier Health Sciences,Philadelphia, PA

20 Song JH, et al (2004) "High prevalence of antimicrobial resistance among clinical Streptococcus pneumoniae isolates in Asia (an ANSORP study)" Antimicrobial Agents and

Chemotherapy, 48(6):pp.2101-07

Trang 7

21 Stephen IP, Michael RJ (2014) “Pneumococcal Infections” In

Chery J (eds) Feigin & Cherry’s Textbook of Pediatric

Infectious Diseases, 7th ed, pp.1198-246 Elsevier Health

Sciences,

22 Thabet F, et al (2007) "Pneumococcal meningitis mortality in

children Prognostic factors in a series of 73 cases" Arch Pediatr,

14(4):pp.334-7

23 Trần Thị Mỹ Dung (2004) Vai trò của lactate dịch não tủy

trong đánh giá đáp ứng điều trị và tiên lượng viêm màng não

mủ tại bệnh viện Nhi Đồng 1 Luận Văn Tốt Nghiệp Nội Trú,

chuyên ngành nhi khoa, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, TP

Hồ Chí Minh

24 Viallon A, Botelho-Nevers E, Zeni F (2016) "Clinical decision

rules for acute bacterial meningitis: current insights" Open

Access Emergency Medicin: OAEM, 8:pp.7-16

25 Youssef FG, et al (2004) "Etiology, antimicrobial susceptibility

profiles, and mortality associated with bacterial meningitis

among children in Egypt" Annals of Epidemiology,

14(1):pp.44-48

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 15:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm