Phẫu thuật cắt dạ dày làm sạch có thể kéo dài tiên lượng sống thêm sau mổ, giảm các triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển nhưng cho đến nay vẫn chưa có đồng thuận rõ ràng về chiến lược điều trị phù hợp nhất. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả trước mắt và lâu dài của phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển.
Trang 1KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT GIẢM THIỂU TẾ BÀO TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN
Thị Mỹ Yến * , Trần Thiện Trung **
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt dạ dày làm sạch có thể kéo dài tiên lượng sống thêm sau mổ, giảm các triệu
chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển nhưng cho đến nay vẫn chưa có đồng thuận rõ ràng về chiến lược điều trị phù hợp nhất Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả trước mắt và lâu dài của phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang Đối tượng nghiên cứu gồm 101 bệnh
nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển được điều trị phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư, từ tháng 01/2010 đến tháng 6/2015 tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả: Tỷ lệ tai biến trong mổ là 2% và biến chứng sớm sau mổ là 8% Thời gian sống trung bình sau mổ
là 14,3 ± 13,9 tháng Tỷ lệ sống chung 5 năm là 14,9%, tỷ lệ sống 1 năm, 3 năm, 5 năm lần lượt là 39,1%; 6,9%
và 3,4% Yếu tố di căn hạch, mức độ biệt hóa của tế bào ung thư có ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian sống sau
mổ của bệnh nhân
Kết luận: Phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư dù mang ý nghĩa điều trị triệu chứng và biến chứng
nhưng vẫn phần nào cải thiện thời gian sống thêm cho bệnh nhân Chiến lược điều trị đa mô thức với hiệu quả điều trị tốt hơn cho người bệnh đang là mục tiêu của những nghiên cứu tương lai
Từ khóa: Cắt dạ dày giảm thiểu tế bào ung thư, Ung thư dạ dày, Thời gian sống còn
ABSTRACT
RESULT OF PALLIATIVE GASTRECTOMY FOR ADVANCED GASTRIC CANCER
Thi My Yen, Tran Thien Trung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 57 - 63
Background: Although many investigations have reported palliative gastrostomy for patients with advanced
gastric cancer have improved the overall survival rate, reducing symptoms and enhancing the quality of life There
is still not a clear consensus on the most suitable surgical treatment strategy This study was performed to immediate and long-term results of palliative gastrostomy for advanced gastric cancer
Methods and Materials: A cross-sectional, descriptive, retrospective study of 101 patients with advanced
gastric cancer underwent palliative gastrostomy at The Gastrointestinal Surgery Department in University Medical Center Ho Chi Minh city from January 2010 to June 2015
Results: The intraoperative complications are 2% and the early postoperative complications are 8% The
average survival time of postoperative was 14.3 ± 13.9 months The 5-year overall survival rate was 14.9%, 1-years, 3-years and 5-years survival rates were 39.1%; 6.9%; 3.4% respectively Lymph node metastasis, the degree of differentiation of cancer cells has the factor directed influence on postoperative survival time of patients
Conclusions: Although palliative gastrostomy for advanced gastric cancer meaning to treated symptoms
and complications, but still somewhat improved survival time for patients Treatment strategy with effective multi-model high and better treatment is the target of the research towards the future
Trang 2Key word: Palliative gastrostomy, gastric cancer, survival time
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) là bệnh rất thường
gặp, chiếm hàng thứ tư trong các bệnh ung thư
với hơn 70% trường hợp xảy ra ở các nước đang
phát triển Đây là bệnh thường gặp nhất ở châu
Á sau ung thư vú và phổi và là nguyên nhân
phổ biến thứ hai tử vong ở cả hai giới trên toàn
thế giới chỉ sau ung thư phổi Mặc dù tỷ lệ mắc
và tử vong đang giảm dần tại nhiều nước châu Á
nhưng vẫn còn là một vấn đề sức khỏe cộng
đồng phải quan tâm Năm 2012, theo quỹ nghiên
cứu ung thư quốc tế (World Cancer Research
Fund International)(5) có 952.000 trường hợp
UTDD được phát hiện, trong số này Đông Nam
Á chiếm 24,2%
Ở Việt Nam theo Nguyễn Mạnh Hùng(12),
bệnh nhân ung thư dạ dày vào viện thường ở
giai đoạn muộn Tại bệnh viện Việt Đức khoảng
87% bệnh nhân UTDD vào viện ở giai đoạn III
và giai đoạn IV, trong đó có 23,8% - 32% không
còn cắt được dạ dày
Biến chứng hẹp môn vị xảy ra khi ung thư ở
hang môn vị đủ lớn gây bít tắc lối ra của dạ dày
Đây là biến chứng thường gặp nhất của UTDD
vì có 2/3 trường hợp UTDD nằm ở vùng hang
môn vị Theo Trần Thiện Trung(17) điều trị hẹp
môn vị do ung thư chủ yếu phẫu thuật cắt bán
phần dưới dạ dày hoặc nối vị tràng, hoặc mở
thông hỗng tràng
Theo hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư dạ
dày Nhật Bản (JGCA) khuyến cáo có thể cắt dạ
dày ở những bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn
nếu không có hẹp môn vị Phẫu thuật cắt dạ dày
điều trị ung thư dạ dày được coi là nguyên tắc,
tuy nhiên đối với ung thư dạ dày giai đoạn tiến
triển phẫu thuật vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau
Cắt dạ dày giảm thiểu tế bào ung thư ở bệnh
nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển có thể
giúp người bệnh ăn được qua đường miệng, làm
giảm các triệu chứng của hẹp môn vị và chảy
thêm sau mổ, giảm các triệu chứng, giảm thiểu
tế bào ung thư và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Nhưng vẫn chưa có đồng thuận
rõ ràng về chiến lược điều trị phù hợp nhất Liệu nghiên cứu phẫu thuật cắt dạ dày giảm thiểu tế bào ung thư có cần thiết ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển hay không?
và kết quả lâu dài của người bệnh, thời gian sống thêm sau mổ là bao lâu? Đó là lý do để chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Hồi cứu cắt ngang mô tả
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thực hiện tại khoa Ngoại Tiêu hóa - Gan mật Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
Minh Thời gian từ 01/2010 đến tháng 6/2015 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tất cả bệnh nhân có kết quả giải phẫu bệnh
là ung thư dạ dày được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật cắt dạ dày giảm thiểu tế bào
ung thư
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có một trong những bệnh nội khoa đi kèm làm ảnh hưởng đến tiên lượng như: suy tim, đái tháo đường, xơ gan, suy thận… Bệnh nhân đã phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư trước đây
- Chỉ mổ thám sát hoặc làm phẫu thuật tạm thời như nối vị tràng, mở thông hỗng tràng nuôi ăn…
KẾT QUẢ
Chúng tôi ghi nhận tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh từ 01/2010 đến 6/2015 có 101 bệnh nhân ung thư dạ dày được điều trị phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư
Trang 3Đặc điểm bệnh nhân
Trong số 101 bệnh nhân có 71 nam chiếm
69,6% và 30 bệnh nhân nữ 29,4%, tuổi trung bình
là 59,5 ± 12,5
Bảng 1- Đặc điểm nhóm tuổi
Nhóm tuổi Số BN Tỷ lệ (%)
Bảng 2- Đặc điểm lâm sàng bệnh học
Đặc điểm Bệnh học Số BN (n=101)
Vị trí u
Loại mô bệnh học
Xâm lấn theo chiều sâu
*Di căn xa gồm: gan, phúc mạc, buồng trứng, mạc treo đại
tràng ngang
Tai biến, biến chứng
Bảng 3- Tai biến trong mổ và biến chứng sớm sau mổ
Đặc điểm Thương tổn Số BN (%)
Tai biến trong
mổ
Thủng đại tràng ngang* 1
Biến chứng
sớm
Chảy máu miệng nối dạ dày 1
*Do khi phẫu tích khối u xâm lấn vào đại tràng ngang, xử
trí khâu lại ngay và theo dõi hậu phẫu ổn định
Thời gian sống thêm sau mổ
Trong tổng số 87/101 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển được theo dõi, thời gian sống ngắn nhất là 1 tháng, dài nhất là 73 tháng, trung bình 14,3 ± 13,9 tháng
Bảng 4- Thời gian sống thêm
Thời điểm theo dõi Số BNBN sốngBN chếtTỷ lệ sống (%)
Biểu đồ 1- Thời gian sống còn sau 5 năm
Liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm sau mổ
Bảng 5- Liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến
thời gian sống sau mổ
Các yếu tố Giá trị p
Liên quan giữa các yếu tố gồm mô bệnh học và di căn hạch ảnh hưởng đến thời gian sống thêm sau mổ có ý nghĩa với p
< 0,05
Trang 4BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung
bình là 59,5 ± 12,5 tuổi, bệnh nhân trẻ tuổi nhất là
32 tuổi, và lớn tuổi nhất là 91 tuổi Tỷ lệ nam là
69,6%, và nữ là 29,4%, tỷ lệ nam/nữ là 2,37/1 Kết
quả này của chúng tôi cũng tương tự với các
nghiên cứu trước đây (4,9,14) Việc xuất hiện nhiều
bệnh nhân trẻ tuổi bị ung thư dạ dày có lẽ cần
báo động về tình hình môi trường và thói quen
ăn uống ở nước ta hiện nay
Ung thư dạ dày là một trong số các loại ung
thư mà phẫu thuật là phương pháp điều trị được
chỉ định Ở giai đoạn khối u còn giới hạn tại chỗ
và vùng (T1-T4a), phẫu thuật được lựa chọn là
phương pháp điều trị triệt căn, riêng u T1 có thể
chọn lựa các phương pháp khác như cắt niêm
mạc qua nội soi hoặc cắt dạ dày qua phẫu thuật
nội soi Đối với trường hợp u T4b xâm lấn cấu
trúc lân cận có thể chỉ cắt dạ dày với ý nghĩa làm
sạch hoặc phẫu thuật tạm thời Ở giai đoạn
muộn hơn nữa khi ung thư ở giai đoạn tiến xa và
đã có di căn xa hoặc di căn phúc mạc, phẫu thuật
được coi là phương pháp điều trị triệu chứng có
thể kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân,
hoặc chỉ điều trị nội khoa như hóa trị hoặc điều
trị hướng đích
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 101 bệnh
nhân đều được phẫu thuật cắt dạ dày không triệt
căn, cắt các tạng kèm theo với ý nghĩa làm sạch,
giảm thiểu tế bào ung thư Một số nghiên cứu
cho thấy kết quả ích lợi của phẫu thuật này Bên
cạnh đó, một số nghiên cứu khác chưa cho thấy
bằng chứng chắc chắn trong chiến lược điều trị
ung thư dạ dày khi mà hiệu quả khá tốt của điều
trị hóa trị hiện nay Trong nghiên cứu của
Hartgrink(6), phẫu thuật giảm thiểu tạm thời
không kéo dài tiên lượng sống thêm khi bệnh
nhân có nhiều các yếu tố mà không thể cắt dạ
dày điều trị triệt căn so với bệnh nhân chỉ có một
yếu tố Hiện nay Nhật Bản và Hàn Quốc đang
tiếp tục nghiên cứu so sánh phẫu thuật giảm
thuần ở bệnh nhân và, hoặc có các yếu tố như: di căn gan, di căn phúc mạc hoặc di căn quanh động mạch
Tai biến và biến chứng sớm sau mổ
Ruy (14) định nghĩa biến chứng phẫu thuật: biến chứng trong mổ là những biến chứng cần thực hiện thêm phẫu thuật ngoài dự kiến vì bất
kì lý do nào Biến chứng sớm sau mổ là biến chứng xảy ra trong vòng 30 ngày đầu sau mổ mà cần mổ lại, cần làm thêm thủ thuật, hoặc thời gian nằm viện kéo dài so với những trường hợp
mổ thường quy Biến chứng muộn sau mổ xảy ra sau 30 ngày mà cần phải nhập viện lại hoặc cần làm bất kì một thủ thuật, phẫu thuật lại Mặc dù các tai biến, biến chứng sau mổ và tử vong sau phẫu thuật ung thư dạ dày đã giảm đáng kể trong những năm qua nhưng tỷ lệ tai biến, biến chứng vẫn còn khá cao(15)
Theo Kobayashi (2004)(8), trên 1638 bệnh nhân được phẫu thuật cắt dạ dày trong 7 năm ở bệnh viện trung tâm ung thư quốc gia miền Đông Nhật Bản, tỷ lệ biến chứng sau mổ từ 17,8% đến 33%, rò tụy là biến chứng hay gặp nhất Một nghiên cứu khác của Saidi (2004)(16)
cũng ghi nhận tỷ lệ biến chứng sau mổ là 33,3%
ở 18 bệnh nhân trên 70 tuổi và dưới 70 tuổi Trong nghiên cứu của chúng tôi do bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn III-IV, khối u to,
có thể xâm lấn các tạng lân cận nên việc phẫu tích sẽ khó khăn, tỷ lệ tai biến trong mổ là 2%, gồm 1 trường hợp tổn thương cuống lách nên cắt lách; 1 trường hợp thủng đại tràng khi phẫu tích
do khối u xâm lấn vào đại tràng, xử trí khâu lại ngay và theo dõi hậu phẫu ổn định Biến chứng trong 30 ngày đầu hậu phẫu là 8% bao gồm chảy máu ở miệng nối dạ dày 1%, nhiễm trùng vết mổ 2%, tụ dịch dưới gan 2%, viêm phổi 2% và chảy máu lại sau khi BN được khâu cầm máu cực dưới lách là 1%
Thời gian sống thêm sau phẫu thuật
Phẫu thuật điều trị triệt căn UTDD là phẫu
Trang 5nhân sống 5 năm sau mổ, có thể sống không
bệnh hoặc sống toàn bộ, có thể sống di căn hoặc
tái phát(13)
Thời gian sống thêm sau mổ phản ánh kết
quả của phẫu thuật, là tiêu chuẩn cơ bản để đánh
giá việc tầm soát, phát hiện và chẩn đoán sớm
ung thư dạ dày vì có liên quan chặt chẽ đến giai
đoạn tiến triển hoặc tiến xa của bệnh Trong 87
trường hợp chúng tôi theo dõi được trong 5 năm,
hiện 13 bệnh nhân còn sống, 74 trường hợp còn
lại đã tử vong Trong số các trường hợp tử vong
trước thời gian nghiên cứu, thời gian sống ngắn
nhất là 1 tháng, dài nhất là 62 tháng sau khi bệnh
nhân được chẩn đoán và điều trị Nguyên nhân
tử vong do tuổi cao, ung thư di căn, tái phát Tỷ
lệ sống thêm 5 năm chung là 14,9% Tỷ lệ sống
thêm 1 năm, 3 năm, 5 năm lần lượt là 39,1%,
6,9%, 3,4%
Các yếu tố về đặc điểm bệnh nhân ảnh
hưởng đến thời gian sống thêm sau phẫu
thuật
Theo Medina-Franco(10), có sự khác biệt về
thời gian sống thêm dựa vào vị trí khối u, u ở vị
trí đoạn xa tương ứng 1/3 dưới thường có tiên
lượng sống sau mổ tốt hơn Một nghiên cứu của
Kunisaki(9), so sánh kết quả phẫu thuật cắt bán
phần dưới dạ dày kèm nạo hạch D2 điều trị ung
thư dạ dày ở người trẻ và trung niên, tỷ lệ sống 5
năm theo vị trí khối u ở nghiên cứu này cao trên
60% Tác giả Diệp Bảo Tuấn(2), tổng kết 358 bệnh
nhân UTDD ghi nhận nhóm bệnh nhân ung thư
ở 1/3 dưới dạ dày có tỷ lệ sống 5 năm là 54%
Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi, 50%
bệnh nhân có u ở cả 3 vị trí (1/3 trên, giữa, dưới)
thời gian sống sau phẫu thuật cắt dạ dày giảm
thiểu trung bình khoảng 11 tháng, tỷ lệ sống 5
năm sau mổ chỉ có 4,6%, sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm bệnh
nhân có kết quả giải phẫu bệnh ung thư biểu mô
tuyến dạ dày có biệt hóa và không biệt hóa có
thời gian sống gần như nhau trung bình 12
tháng, 2 trường hợp lymphoma có thời gian sống
trung bình là 32 tháng Dùng phương pháp phân tích phương sai 1 yếu tố cho thấy sự khác biệt không ý nghĩa thống kê (p = 0,1) Tỷ lệ sống 5 năm theo phân loại mô bệnh học trong nghiên cứu của chúng tôi nhỏ hơn 5%, sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa (p = 0,04), nhưng so với các nghiên cứu khác, tỷ lệ sống 5 năm của chúng tôi
là rất thấp
Theo Đỗ Đình Công(3), trên 175 trường hợp ung thư biểu mô tuyến dạ dày có biệt hóa và nhóm không biệt hóa, tác giả ghi nhận 50% bệnh nhân thuộc nhóm biệt hóa có thời gian sống trung bình là 24 tháng, nhóm không biệt hóa là
21 tháng
Theo Zamudio(21), tiên lượng sống 5 năm của bệnh nhân phụ thuộc vào giai đoạn và phương pháp điều trị Giai đoạn I là 93,7%, giai đoạn II là 55% và 25% ở giai đoạn III Khi phẫu thuật cắt làm sạch thì tỉ lệ sống 5 năm là 37,1% Tỉ lệ sống
5 năm 92,3% ở nhóm không di căn hạch và 41,3%
ở nhóm có di căn hạch
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có sự khác biệt về thời gian sống thêm sau mổ của nhóm có
và không có di căn hạch, nhóm có di căn hạch có thời gian sống trung bình sau mổ là 10 tháng, nhóm không di căn hạch là 16 tháng Tỷ lệ sống thêm 5 năm sau mổ của các bệnh nhân trong nghiên cứu là thấp, có sự khác biệt (p = 0,02), và thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu khác (3,4%) Có sự khác biệt trên, vì đa số nghiên cứu của các tác giả này phẫu thuật cắt bán phần dưới hay cắt toàn bộ dạ dày đều kèm theo nạo hạch D2 và bờ cắt dạ dày R0 tức là không để sót lại thương tổn ung thư trên vi thể Còn trong nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh nhân chỉ cắt giảm thiểu khối u, không nạo vét hạch Theo chúng tôi, di căn hạch là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống sau mổ của bệnh nhân, nhưng nó còn phụ thuộc vào phương pháp phẫu thuật triệt để hay không triệt để
Các tác giả trong nước, theo Đỗ Đình Công(3),
so sánh thời gian sống thêm trong 157 trường hợp theo phẫu thuật làm sạch và triệt căn, nhóm
Trang 6được cắt dạ dày làm sạch có 50% bệnh nhân chết
trong vòng 17 tháng, ngắn hơn so với 28 tháng
nhóm bệnh nhân được mổ cắt dạ dày triệt căn
Theo Trịnh Hồng Sơn(18), thời gian sống trung
bình của nhóm phẫu thuật nạo hạch D1 không
triệt để là 8 tháng, triệt để là 27 tháng, nạo hạch
D2 không triệt để là 9 tháng, triệt để là 32,45
tháng Diệp Bảo Tuấn(6) ghi nhận nhóm bệnh
nhân được phẫu thuật cắt bán phần dưới dạ dày
kèm nạo hạch D2 có tỷ lệ sống 5 năm là 80,9%,
cắt dạ dày triệt căn có tỷ lệ sống 5 năm là 58,7%
Các tác giả nước ngoài, theo nghiên cứu của
Yoshihiro Kakeji(20), nhóm bệnh nhân ung thư dạ
dày được phẫu thuật kèm nạo hạch D1 có tỷ lệ
sống 5 năm là 10%, nạo hạch D2 và D3 là 45%
Theo Xiang-Fu(19), nhóm bệnh nhân ung thư dạ
dày được phẫu thuật kèm nạo hạch D1 có tỷ lệ
sống 5 năm là 34,5%, D2 là 53,5% và D3 là 50,8%
Theo Moriguchi(11) thì khả năng sống thêm 3 năm
ở những bệnh nhân được điều trị cắt dạ dày nói
chung là khoảng 40%, riêng cắt dạ dày triệt căn
thì tỷ lệ này lên đến 75%
Liên quan đến hoá trị, trong nghiên cứu của
chúng tôi có 27 trường hợp không hóa trị, 12
trường hợp hóa trị được 1-2 chu kỳ, 7 trường
hợp hóa trị 3-4 chu kỳ, 9 trường hợp hóa trị 5-6
chu kỳ, 32 trường hợp hóa trị hơn 8 chu kỳ Tất
cả bệnh nhân được hóa trị bằng Capecitabine
(Xeloda), không có chỉ định đặc biệt cho những
bệnh nhân hóa trị Nhóm bệnh nhân không
tham gia hóa trị và có tham gia hóa trị sau mổ có
thời gian sống trung bình sau mổ lần lượt là
12,39 ± 3,02 tháng và 15,21 ± 1,68 tháng 50%
bệnh nhân có hóa trị hỗ trợ sau mổ có thời gian
sống là 12 tháng dài hơn so với 7 tháng nhóm
bệnh nhân không được hóa trị hỗ trợ sau mổ,
tuy nhiên kết quả theo dõi sống thêm 5 năm sau
mổ khác nhau giữa các nhóm không có ý nghĩa
thống kê (p > 0,05)
Một hướng đi mới hiện nay đang được quan
tâm là hóa trị tân hỗ trợ Theo hướng dẫn điều trị
và hạ giai đoạn của ung thư cũng như nhằm giảm kích thước khối u ở bệnh nhân ung thư dạ dày, từ đó giúp điều trị triệt căn
Như vậy, điều trị ung thư dạ dày phải căn cứ vào từng giai đoạn và vào từng trường hợp cụ thể bệnh nhân Việc phối hợp các phương pháp trong điều trị ung thư dạ dày hay điều trị đa mô thức là một triển vọng mới đầy hứa hẹn nhưng cũng cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá trong những công trình tiếp theo
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu cho thấy yếu tố di căn hạch, mức độ biệt hóa của tế bào ung thư có ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian sống thêm sau mổ của bệnh nhân
Phẫu thuật cắt giảm thiểu tế bào ung thư dù mang ý nghĩa điều trị triệu chứng và biến chứng nhưng phần nào giúp cải thiện thời gian sống thêm sau mổ cho người bệnh
Chiến lược điều trị đa mô thức với hiệu quả điều trị tốt hơn cho người bệnh đang là mục tiêu của những nghiên cứu tương lai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Avital I, Pisters PWT et al (2011) In Cancer: Principles and practice of oncology, Cancer of the Stomach, 9 th edition by Lippincott Williams and Wilkins, a Wolters Kluver
2 Diệp Bảo Tuấn (2005) Ung thư dạ dày: chẩn đoán và điều trị Luận án chuyên khoa II, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
3 Đỗ Đình Công (2003) Đối chiếu lâm sàng, giải phẫu bệnh carcinoma tuyến dạ dày với kết quả sớm sau mổ Luận án Tiến sĩ y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
dạ dày bán phần với nội soi hỗ trợ nạo vét hạch D2 điều trị ung thư dạ dày tiến triển Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 18(1), tr.344-350
5 Ferlay J, Soerjomataram I et al (2012) Global cancer facts and figures 2012 Cancer incidence and mortality worldwide Available from: http://globocan.iarc.fr , accessed on 16/01/2015
Extended lymph node dissection for gastric cancer: who may benefit? Final result of randomized Dutch gastric cancer group trial J Clin Oncol, 22(11), pp 2069-2077
7 Jingxu S, Yongxi S et al (2013) Clinical significance of palliative gastrectomy on the survival of patient with incurable advanced gastric cancer: a system review and meta-analysis BMC Cancer 2013, 13, pp 577
Trang 79 Kunisaki C, Akiyama H, Nomura M et al (2006)
Clinicopathological features of gastric carcinoma in younger
and middle-aged patients: A comparative study J Gastrointest
Surg, 10(7), pp.1023-1032
10 Medina-Franco H, Heslin MJ, Cortes-Gonzalez R (2000)
Clinicopathological characteristics of gastric carcinoma in
young and elderly patients: comparative study Ann Surg
Oncol, 7(7), pp 515-519
11 Moriguchi S, Maehara Y et al (1993) Relationship between age
and the time of surgery and prognosis after gastrectomy for
gastric cancer J Surg Oncol, 52(2), pp 119-123
12 Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Thành Chung (1996) Bước đầu
tìm hiểu liên quan giữa viêm loét dạ dày tá tràng mạn tính với
ung thư dạ dày về mặt mô bệnh học Y học thực hành, (11),
tr.38-39
13 Phạm Duy Hiển (2007) Ung thư dạ dày Nhà xuất bản Y học,
tr 131-132
14 Ruy KW, Kim YW, Lee JH, Nam BH (2008) Surgical
complications and the risk factors of laparoscopy – assisted
distal gastrectomy for advanced gastric cancer Ann Surg
Oncol, 15, pp 1625-1631
15 Sah BK, Chen MM et al (2009) Gastric cancer surgery: Billroth
I or Billroth II for distal gastrectomy? BMC Cancer,
pp.428-437
16 Saidi R W, Bell J L et al (2004) Surgical resection for gastric cancer in elderly patients: Is there a difference in outcome? J Surg research, 118(1), pp 15-20
17 Trần Thiện Trung (2006) Chẩn đoán và điều trị hẹp môn vị Y học thành phố Hồ Chí Minh, 10(1), tr.26-31
18 Trịnh Hồng Sơn (2001) Nghiên cứu nạo vét hạch trong điều trị phẫu thuật ung thư dạ dày Luận án Tiến sĩ y học, Đại học
Y Hà Nội
19 Xiang-Fu Z, Chang-Ming H et al (2004) Surgical treatment and prognosis of gastric cancer in 2613 patients World J Gastr, 10(23), pp 3405-3408
20 Yoshihiro K et al (1998) Long term survival of patients with stage IV gastric carcinoma Department of surgery II, Faculty
of medicine, Kyushu university, Fukuoka, Japan, pp
2307-2310
21 Zamudio JP, Gonzalez LRR (2015) Gastric perforation by MALT lymphoma, Case report Cirugia y Cirujanos, 83(3), pp 217-221
Ngày phản biện nhận xét bài báo 31/8/2016 Ngày bài báo được đăng: 05/10/2016