Khóa luận thực hiện nghiên cứu tìm hiểu về Thực trạng vệ sinh môi trường và công tác quản lý chất thải tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương năm 2011 để xác thực tình hình môi trường tại Công ty với mục tiêu: mô tả thực trạng vệ sinh môi trường của công ty Bia Hà Nội - Hải Dương, đánh giá công tác quản lý chất thải hiện nay của công ty. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC - SỨC KHỎE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Phạm Minh Thu
Y tế công cộng A12669
Hà Nội – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC - SỨC KHỎE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện Chuyên ngành
Mã sinh viên
: : : :
Th.S Vũ Văn Hải Phạm Minh Thu
Y tế công cộng A12669
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Sau khi cuốn khóa luận tốt nghiệp cử nhân y tế công cộng được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Các Thầy, Cô giáo trường Đại học Thăng Long đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
ThS Vũ Văn Hải và thầy giáo Nguyễn Đức Điển, những người thầy với đầy nhiệt huyết đã hướng dẫn cho tôi từ xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương, chia sẻ thông tin và hoàn thành khóa luận này
Ban Lãnh đạo và cán bộ nhân viên Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Dương ; Viện quan trác Môi trường tỉnh Hải Dương nơi tôi tiến hành nghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đỡ và tham gia vào nghiên cứu
Các anh em, bạn bè thân hữu đã khuyến khích tôi trên con đường học tập 4 năm qua
Và cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cám ơn đối với gia đình của tôi, họ đã luôn ở bên động viên, cổ vũ và chăm sóc cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu này
Hà Nội, ngày 7 tháng 7 năm 2012
Sinh viên
Phạm Minh Thu
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1
1.1 Môi trường và bảo vệ môi trường 1
1.2 Chất thải và quản lý chất thải 2
1.2.1 Định nghĩa và phân loại chất thải [20, 22, 33, 34, 43] 2
1.2.2 Quản lý chất thải 3
1.3 Ảnh hưởng của chất thải tới con người và tình hình quản lý chất thải tại các KCN……… 4
1.4 Thực trạng quản lý chất thải tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội-Hải Dương 11 1.4.1 Giới thiệu chung 11
1.4.2 Quy trình sản xuất bia 11
1.4.3 Hiện trạng môi trường Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Dương 15
1.5 Tình hình xử lý chất thải tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương 17
1.5.1 Xử lý khí thải 17
1.5.2 Xử lý nước thải 19
1.5.3 Xử lý chất thải rắn [2, 5, 15] 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng 22
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: 22
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 22
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu 22
2.3 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu 23
2.3.1 Nội dung nghiên cứu 23
2.3.2 Các chỉ số nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin 24
2.5 Phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu: 27
2.6 Tổ chức nghiên cứu 27
2.7 Đạo đức nghiên cứu 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Kết quả điều tra khảo sát hệ thống nước thải tại Công ty 28
Trang 53.3 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị 36
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 37
4.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới các chỉ tiêu vệ sinh nước thải 37
4.2 Thực trạng về các chỉ tiêu nước thải tại Công ty Bia 37
4.3 Hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải của Công ty 40
4.4 Hiệu quả từ việc cung cấp thiết bị lao động cho công nhân viên 41
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC I: 46
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG CÔNG NGHỆ PHÂN HỦY SINH HỌC - AEROTEN 46
PHỤ LỤC II: 49
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC TẾ TẠI CÔNG TY BIA HÀ NỘI - HẢI DƯƠNG 49
Trang 6
Tổng chất rắn lơ lửng Khí Cacbon oxid Khí Cacbon dioxide Khí Sunfur dioxide Khí Nitrogen dioxide Khí Hydro sunfua Amoniac
Hà Nội – Hải Dương Tiêu chuẩn Việt Nam Chất thải rắn công nghiệp Chất thải rắn nguy hại Tài nguyên và Môi trường Đơn vị đo mức độ ồn (đề xi ben A) Tiêu chuẩn cho phép
Môi trường
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Hậu quả bị nhiễm độc khí NO2
Bảng 1.2: Mức tiêu thụ nước tại Công ty Bia
Bảng 1.3: Mức độ gây ồn trong Công ty Bia Hà Nội – Hải Dương
Bảng 1.4: Chất thải rắn không nguy hại tại Công ty Bia
Bảng 3.1: Kết quả phân tích dòng thải tổng trước khi vào hệ thống xử lý nước thải Bảng 3.2 : Mức độ tác động của NH3 đến cơ thể người
Bảng 3.3: Kết quả phân tích đầu ra sau khi qua hệ thống xử lý nước thải
Bảng 3.4 : Kết quả xét nghiệm chỉ tiêu vật lý cảm quan của nước thải trước xử lý Bảng 3.5 So sánh các chỉ tiêu lý học của nước thải trước và sau xử lý
Bảng 3.6: Kết quả phân tích chất lượng nước nguồn tiếp nhận
Bảng 3.7: Kết quả phân tích chất lượng nước thải sinh hoạt
Bảng 3.8: Khối lượng nước thải do hoạt động chuyên môn và sinh hoạt của Công ty Bảng 3.9: Kết quả phân tích nước mưa chảy tràn từ Công ty
Bảng 3.10: Kết quả xét nghiệm chỉ tiêu vi sinh vật của nước thải công nghiệp trước xử lý Bảng 3.11: So sánh các chỉ tiêu vi sinh vật của nước thải trước và sau xử lý
Bảng 3.12 : Các yếu tố vi khí hậu tại Công ty Cổ phần bia HN-HD
Bảng 3.13 : Hiện trạng môi trường không khí Công ty Cổ phần bia HN-HD
Bảng 3.14: Trang thiết bị bảo hộ công nhân trong quá trình làm việc
Trang 8
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 : Hàm lượng BOD5 trong nước thải của một số KCN năm 2008
Biểu đồ 1.2: Hàm lượng Coliform trong nước thải một số KCN năm 2008
Biểu đồ 1.3: Tần suất số lần đo vượt TCVN của một số thông số tại sông Đồng Nai Biểu đồ 1.4: Diễn biến COD trên các sông qua các năm
Biểu đồ 1.5: Hàm lượng NH4+ trên sông Cầu, đoạn chảy qua Thái Nguyên năm 2008 Biểu đồ 1.6: Nồng độ khí SO2 trong khí thải một số nhà máy tại KCN Bắc Thăng Long
(Hà Nội) và KCN Tiên Sơn (Bắc Ninh)
Biểu đồ 1.7: Nồng độ khí SO2 trong không khí xung quanh một số KCN miền Bắc
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Ô nhiễm chất thải rắn
Hình1.2 : Sơ đồ dây chuyền sản xuất bia
Hình 1.3: Sơ đồ mặt bằng Công ty Bia
Hình 1.4: Sơ đồ hệ thống xử lý khí SO2 bằng sữa vôi
Hình 1.5: Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Báo cáo tổng quan môi trường Toàn cầu năm 2000 của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) viết tắt là "GEO - 2000" là một sản phẩm của hơn 850 tác giả trên khắp Thế giới và trên 30 cơ quan môi trường cùng các tổ chức khác của Liên Hợp Quốc đã phối hợp tham gia biên soạn đưa ra báo cáo đánh giá tổng hợp về môi trường Toàn cầu khi bước sang một thiên niên kỷ mới
Thứ nhất: Đó là các hệ sinh thái và sinh thái nhân văn Toàn cầu bị đe dọa bởi
sự mất cân bằng sâu sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hoá và dịch vụ Một tỷ
lệ đáng kể nhân loại hiện nay vẫn đang sống trong sự nghèo khó và xu hướng được dự báo là sự khác biệt sẽ ngày càng tăng giữa những người thu được lợi ích từ sự phát triển kinh tế và công nghệ và những người không bền vững theo hai thái cực: sự phồn thịnh và sự cùng cực đang đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống nhân văn và cùng với nó là môi trường toàn cầu
Thứ hai: Thế giới hiện đang ngày càng biến đổi, trong đó sự phối hợp quản lý môi trường ở quy mô Quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội Những thành quả về môi trường thu được nhờ vào công nghệ và những chính sách mới đang không theo kịp nhịp độ và quy mô gia tăng dân số và phát triển kinh tế Mỗi một phần trên bề mặt Trái Đất được thiên nhiên ban tặng cho các thuộc tính môi trường của riêng mình, mặt khác, lại cũng phải đương đầu với hàng loạt các vấn đề mang tính
Toàn cầu đã và đang nổi lên Những khía cạnh được đề cập tới bao gồm: “ Khí hậu
Toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng, Sự suy giảm tầng Ôzôn (O 3 ), Tài nguyên bị suy thoái, Sự gia tăng dân số, Sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái Đất và Tình trạng ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng”.[44]
Phải thấy rõ rằng, hiện nay, ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường sống đang là mối quan tâm của toàn nhân loại, nó không phải là vấn đề của riêng một ngành hay một quốc gia nào Cùng với các hoạt động phát triển kinh tế con người đang làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường sống ngày một gia tăng tính toàn cầu, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống và sức khỏe loài người Ở nước ta, cùng với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, tình trạng ô nhiễm môi trường đã và đang tăng lên ở mức báo động tại các khu đông dân cư, đô thị, các khu công nghiệp (KCN), nhà máy và xí nghiệp [11,
14, 17]
Theo thống kê, Việt Nam đã có trên 800 cơ sở sản xuất công nghiệp với khoảng
70 khu chế xuất (KCN tập trung) Đóng góp của công nghiệp vào GDP là rất lớn Mặc
Trang 11về tăng trưởng ở khu vực Châu Á, sau Trung Quốc và Ấn Độ 6 tháng đầu năm 2010, GDP của Việt Nam đạt tới mức tăng trưởng 6,4% so với cùng kỳ năm 2009.[7] Quá trình phát triển các KCN cũng bộc lộ một số khiếm khuyết trong việc xử lý chất thải
và đảm bảo chất lượng môi trường
Khoảng 70% trong số hơn một triệu m3 nước thải/ngày từ các KCN được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nước mặt Có tới 57% số KCN đang hoạt động chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Chất lượng nước mặt tại những vùng chịu tác động của nguồn thải từ các KCN đã suy thoái Không khí ở các KCN đang bị ô nhiễm, một số nơi xuất hiện ô nhiễm khí CO, SO2,
NO2 Lượng chất thải rắn tại các KCN ngày càng tăng, trong đó chất thải rắn nguy hại chiếm khoảng 20%, tỷ lệ chất thải rắn có thể tái chế hoặc tái sử dụng khá cao.[32] Cũng giống các ngành chế biến thực phẩm khác, sự tăng trưởng của ngành sản xuất bia tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ Bia đã được sản xuất tại nhà máy Bia Sài Gòn, Hà Nội cách đây trên 100 năm Hiện nay do nhu cầu của thị trường, mức tiêu thụ bia bình quân theo đầu người vào năm 2011 là 28 lít/ người/ năm, bình quân lượng bia tăng 20% mỗi năm.[2] Tuy nhiên, sự tăng trưởng của ngành sản xuất bia cũng lại kéo theo các vấn đề về môi trường Kết quả khảo sát chất lượng của các cơ sở sản xuất bia trong nước như ở Hà Nội, Hải Dương, Hà Tây, Hoà Bình… cho thấy rằng nước thải từ các cơ sở sản xuất bia nếu không được xử lý sẽ có COD, nhu cầu oxy sinh hoá học BOD, chất rắn lơ lửng SS, chúng là những nguồn gây ô nhiễm và nguy hiểm, nó có thể là yếu tố nguy cơ gây bệnh cho nhân viên trong công ty
và những người sống ở khu vực xung quanh.[8, 9, 16] Vậy thực chất các nguồn thải
đó có ảnh hưởng ra sao, đã được xử lý như thế nào?
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu tìm hiểu về:
“Thực trạng vệ sinh môi trường và công tác quản lý chất thải tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Dương năm 2011” để xác thực tình hình môi trường tại Công ty
với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng vệ sinh môi trường của công ty Bia HN – HD
2 Đánh giá công tác quản lý chất thải hiện nay của công ty
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Môi trường và bảo vệ môi trường
Việt Nam hiện đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường do ảnh hưởng của quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và đặc biệt là tốc độ tăng dân số ở mức cao Ô nhiễm môi trường diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau: Ô nhiễm công nghiệp, nông nghiệp, y tế và du lịch
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 đã nhấn mạnh môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật
và sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước, dân tộc và nhân loại [3]
Môi trường là gì?
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên
Hay theo một cách định nghĩa khác: “Môi trường là không gian xung quanh
ta, gần nhất là nơi ta sống, nơi ta làm việc, sinh hoạt hàng ngày, rộng hơn là cả trên trái đất, bầu khí quyển (không khí), vũ trụ” [20, 26, 35, 39]
Ô nhiễm môi trường là gì?
Là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác Ô nhiễm môi trường xảy ra
là do con người và cách quản lý của con người
Để chúng ta có thể sống trong môi trường trong sạch, không có khói bụi, không
có mùi hôi, không có các bào tử nấm gây bệnh, không có vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, sống thoải mái hơn… chúng ta cần phải bảo vệ và chăm sóc sự sống, sự tồn tại cho
môi trường Đó chính là vệ sinh môi trường
Những hoạt động làm ô nhiễm môi trường sống như: vứt rác và chất thải trong sản xuất nông nghiệp (thuốc sâu, phân bón, chăn nuôi ); công nghiệp; y tế (hóa chất) bừa bãi; chặt đốt phá rừng làm tổn hại đến lá phổi của môi trường sống… nếu không được khắc phục, xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng dẫn đến đại dịch bệnh, hiệu ứng nhà kính tăng thêm, làm biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của con người
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
a) Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động
Trang 132
cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
b) Môi trường xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác [24]
1.2 Chất thải và quản lý chất thải
1.2.1 Định nghĩa và phân loại chất thải [20, 22, 33, 34, 43]
Chất thải: là những vật chất được thải bỏ sinh ra trong quá trình hoạt động sản
xuất, ăn uống, sinh hoạt của con người Lưu lượng của nó nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tăng trưởng, phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, gia tăng dân số
Phân loại chất thải:
- Chất thải dạng khí: khí thải nhà máy sản xuất, khói bụi…
+ Theo nguồn phát sinh :
- Chất thải sinh hoạt: phát sinh trong quá trình hoạt động sống thường ngày của con người như túi nilon, hộp đựng thức uống…
- Chất thải công nghiệp: sinh ra trong quá trình sản xuất và mỗi ngành nghề phát sinh những chất thải khác nhau như xi mạ có kim loại, sản xuất xi măng có bụi đất đá
và thành phần những chất thải này phức tạp khó xử lý
- Chất thải nông nghiệp: sinh ra trong quá trình trồng trọt và chăn nuôi…
+ Theo mức độ nguy hiễm :
- Chất thải nguy hại (độc hại): là các chất thải có thể được sinh ra do các hoạt
chất công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp Nó có thể là các chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất sệt
Trong định nghĩa chất thải độc hại không nói đến các chất thải rắn sinh hoạt, nhưng thật ra rất khó phân biệt một cách toàn diện chất thải công nghiệp với chất thải sinh hoạt Chất thải độc hại không bao gồm chất thải phóng xạ vì loại chất thải này đã được hầu hết các nước phân cách và tổ chức quản lý riêng
Trang 14Độ độc hại của các chất thải độc hại rất khác nhau, có chất gây nguy hiểm cho con người như các chất cháy có điểm cháy thấp, các chất diệt côn trùng, các vật liệu clo hoá phân huỷ chậm, có chất gây tác động nhỏ hơn nhưng khối lượng của nó lại là vấn đề lớn như các chất thải hầm mỏ, xỉ, thạch cao phosphate cũ hoặc các sệt hydroxyt khác
Những chất thải có chứa những hoá chất không tương hợp có thể gây nổ, bắt cháy Tiếp xúc với axít hoặc kiềm mạnh gây bỏng da Da hấp thụ một số thuốc trừ sâu
có thể gây ngộ độc cấp tính Những thùng, hòm chứa chất thải hoá chất nếu không được xử lý, để bừa bãi vào nơi không được bảo vệ tốt có thể gây các tai nạn ngộ độc nghiêm trọng
Các chất thải độc hại có thể gây ô nhiễm môi trường trực tiếp như bay hơi hoá chất trong khí quyển hoặc có thể gây ô nhiễm gián tiếp qua vận chuyển của gió hoặc
bề mặt nước, rau quả trồng gần nơi chất thải có thể hấp thụ những độc tố của chất thải
Chất thải độc hại đã được quan tâm như thế nào? Các chất thải độc hại mới
chỉ được quan tâm tới từ 10 đến 15 năm trở lại đây Việc kiểm tra chất thải độc hại thường chỉ được quan tâm sau khi xảy ra một thảm hoạ hoặc sau một đe doạ thảm hoạ
môi trường Sau sự kiện những người dân chết do ăn phải cá bị nhiễm thuỷ ngân trong
nước biển ở Minamata, Nhật là nước đầu tiên đưa ra việc kiểm tra đầy đủ các chất thải
độc hại (1960) Nước Anh, sau sự bất bình của công chúng khi phát hiện những thùng
rỗng có chứa muối xyanua trên đất hoang mà trẻ em đã chơi trên đó thì một Uỷ ban cao cấp kiểm tra chất thải độc hại được thành lập và sau đó đã được pháp luật thông
qua Nước Mỹ, năm 1976, hệ thống kiểm tra chất thải độc hại được thành lập do sự
phản đối của công chúng vì sự ô nhiễm gây nên bởi các đống rác không được kiểm
soát Việc kiểm tra chất thải độc hại cũng gây tốn kém, nhưng kinh nghiệm ở nhiều
nước phát triển cho thấy việc dọn sạch "các lỗi lầm của quá khứ" còn tốn tiền của và thời gian hơn nhiều, có khi gấp từ 10 đến 100 lần [14, 34, 35, 37]
- Chất thải không nguy hại: Chất thải công nghiệp không chứa một trong những yếu tố gây nguy hại của chất thải công nghiệp nguy hại, [8] ví dụ như: giấy, bao
bì carton các loại, vải vụn… Chúng ta có thể phục hồi, tái chế & kinh doanh chúng để phục vụ cho cuộc sống hay đáp ứng cho nhu cầu thị trường Qua thời gian, các nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt, nếu con người không sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả chúng ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn khi tài nguyên khan hiếm
1.2.2 Quản lý chất thải
Quản lý chất thải (tiếng Anh: Waste management) là việc thu gom, vận chuyển,
Trang 154
trò giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường hay tính mỹ quan Quản lý chất thải cũng góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải Quản lý chất thải có thể bao gồm chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất phóng xạ, mỗi loại được quản lý bằng những phương pháp và lĩnh vực chuyên môn khác nhau Cách quản lý chất thải có phần khác nhau tại những quốc gia phát triển và đang phát triển, tại khu vực đô thị và nông thôn, tùy vào loại hình sản xuất dân dụng hay công nghiệp Quản lý chất thải vô hại từ đối tượng hành chính và dân dụng ở các vùng
đô thị thường là trách nhiệm của cơ quan chính quyền địa phương, trong khi quản lý chất thải vô hại từ đối tượng thương mại và công nghiệp thường là trách nhiệm của nhà sản xuất
1.3 Ảnh hưởng của chất thải tới con người và tình hình quản lý chất thải tại các KCN
Trong tất cả các ngành: quảng cáo, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, y tế, xây dựng, du lịch… thì việc sản xuất ra sản phẩm đồng nghĩa với “sản xuất” ra rác thải kèm theo, đó là chưa kể tới những chất thải đưa ra ngoài môi trường trong suốt quá trình diễn ra hoạt động
Theo Công trình khảo sát chất thải toàn cầu của Tổ chức Hàng hải Quốc tế, cứ tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 1 tỉ USD sẽ làm phát sinh khoảng 4.500 tấn chất thải công nghiệp, trong đó 20% là chất thải nguy hại (CTNH).[40]
Hiện nay có nhiều loại công nghệ khác nhau để xử lý chất thải rắn công nghiệp (CTRCN) và chất thải nguy hại Mặc dù vậy, mỗi công nghệ chỉ có khả năng ứng dụng tốt trong một phạm vi nhất định Ở nhiều nước tiên tiến, người ta thường xử lý tập trung 2 loại chất thải này bằng cách kết hợp nhiều quy trình công nghệ khác nhau Theo Chiến lược quản lý chất thải quốc gia, CTRCN và CTNH, phải được xử lý tập trung theo quy trình khép kín Tuy nhiên, do điều kiện chưa cho phép nên hiện tại mỗi địa phương đều phải tự vận động theo cách riêng của mình, dẫn đến việc mất cân đối, gây ảnh hưởng tương hỗ xấu
Chất lượng môi trường ở nhiều KCN đang xuống cấp nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt do khai thác quá mức “ Đã đến lúc cần nhìn nhận lại và thay đổi tư duy phát triển chuyển sang mô hình phát triển mới, có tính bền vững hơn” Đây là nhận định của lãnh đạo Bộ TN & MT tại Hội nghị quốc gia về đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường [5]
Nhận xét của Phó Giám đốc Sở TN&MT Lâm Đồng Lương Văn Ngự, nhiều năm qua, các nhà đầu tư hầu như chỉ chú trọng đến hiệu quả kinh tế, ít quan tâm đến đầu tư các hạng mục công trình xử lý để bảo vệ môi trường, kể cả tình trạng xả nước thải trực tiếp vào nguồn nước, chậm triển khai thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm môi
Trang 16trường Đa số các dự án sau khi có quyết định phê duyệt đánh giá tác động môi trường không xây dựng các công trình xử lý môi trường, hoặc xây dựng với hình thức đối phó không theo quy định và theo cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.[24]
Năm 2009, Bộ TN & MT đã ban hành Thông tư 08/2009/TT-BTNMT quy định
về quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp Do thông tư mới ban hành nên việc triển khai thực tế còn chưa đầy
đủ, bên cạnh đó, bản thân Thông tư cũng chưa giải quyết triệt để các vấn đề liên quan đến mô hình quản lý môi trường KCN.[3][ Thông tư 08/2009/TT-BTNMT]
Phần lớn KCN phát triển sản xuất mang tính đa ngành, đa lĩnh vực, tính phức tạp về môi trường cao, do vậy, yêu cầu đối với công tác xây dựng, thẩm định Báo cáo Đánh giá tác động môi trường và giám sát môi trường các cơ sở sản xuất nói riêng và hoạt động của cả KCN nói chung trong giai đoạn hoạt động sẽ rất khó khăn Cũng chính vì đa ngành, đa lĩnh vực trong KCN nên chất lượng công trình và công nghệ xử lý chất thải cần được đầu tư mang tính đồng bộ Tại nhiều KCN, chất lượng nước thải sau xử lý vẫn chưa đạt quy chuẩn môi trường và chưa ổn định Nguồn thải từ KCN mặc dù tập trung nhưng thải lượng lớn, trong khi đó công tác quản lý cũng như xử lý chất thải KCN còn nhiều hạn chế, do đó phạm vi ảnh hưởng tiêu cực của nguồn thải từ KCN là rất lớn
Trong những năm gần đây, nhiều KCN đã hoàn thành hạng mục xây dựng công
trình xử lý nước thải tập trung Tuy nhiên, tỷ lệ này còn rất thấp (khoảng 43,3% các
KCN đang hoạt động) và hiệu quả hoạt động không cao, dẫn đến tình trạng nước thải của KCN vẫn được thải ra ngoài với thải lượng ô nhiễm cao, điển hình là lượng BOD5
có mặt trong nước thải.[5, 6, 12]
Biểu đồ 1.1 : Hàm lượng BOD5 trong nước thải của một số KCN năm 2008
Nguồn: TCMT, 2009
Trang 176
Lượng Coliform trong nước thải ở mức rất cao so với QCVN
Biểu đồ 1.2: Hàm lượng Coliform trong nước thải một số KCN năm 2008
Nguồn: TCMT,
2008
Biểu đồ 1.3: Tần suất
số lần đo vượt TCVN của một số thông số tại sông Đồng Nai
Nguồn: Sở TNMT
Đồng Nai, 2008
Biểu đồ 1.4: Diễn biến COD trên các sông qua các năm
Nguồn: TCMT, 2009
Trang 18Biểu đồ 1.5: Hàm lượng NH4+
trên sông Cầu, đoạn chảy quan Thái Nguyên năm 2008
Nguồn: TCMT,
2009
Tại không ít KCN, hệ thống xử lý khí thải của các cơ sở sản xuất còn hạn chế,
sơ sài, phần lớn chỉ mang tính hình thức đối phó Khí thải không thể giải quyết tập trung giống như nước thải mà cần xử lý ngay tạo nguồn Khí thải do các cơ sở sản xuất thải ra môi trường chứa nhiều chất độc hại nếu không được quản lý, kiểm soát tốt tại
cơ sở sản xuất sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của cộng đồng xung quanh.[18, 25]
Biểu đồ 1.6: Nồng độ khí SO2 trong khí thải một số nhà máy tại KCN Bắc Thăng Long (Hà Nội) và KCN Tiên Sơn (Bắc Ninh)
Nguồn: Đại Học Bách Khoa Hà Nội, 2009
Biểu đồ 1.7: Nồng độ khí SO2 trong không khí xung quanh một số KCN miền Bắc năm 2006-2008
Nguồn: TCMT, 2009
Trang 198
Biểu đồ 1.8: Nồng độ
NH3 trong không khí xung quanh KCN Bắc Thăng Long (Hà Nội) năm 2006-2008
Bảng 1.1: Hậu quả bị nhiễm độc khí NO2
150 – 200 ppm dưới 1h gây phá huỷ dây khí quản, gây tử
vong nếu thời gian nhiễm độc kéo dài 3 – 5 tuần
500 ppm hay lớn hơn 2 – 10 ngày gây tử vong
Việc hít phải NO2 lẫn trong các hỗn hợp khí khi đốt xenlulozo và phim nitro xenluloz dẫn tới tử vong Đã xẩy ra sự cố hai người bị chết và 5 người bị thương khi hít phải NO2 rò rỉ khi phóng tên lửa vượt đại dương Titan II ở Rock Kansas (Hoa Kỳ) vào ngày 24/8/1978 NO2 lỏng được dùng trong tên lửa như là chất oxy hoá N2H2
Cơ chế hoá sinh cụ thể giải thích tính độc của NO2 vẫn chưa được làm rõ Người ta cho rằng có thể một số hệ enzim của tế bào bị phá huỷ bởi NO2.[40]
Các chất như SO2, NO, NO2, N2O4 do con người thải ra là nguồn chủ yếu gây lắng đọng acid trong bầu khí quyển Chúng có thể kết với khói hay bụi tạo thành bụi acid lưu lại trong khí quyển Chúng có thể nhận nguyên tử oxygen trong khí quyển và sau đó hoà tan vào nước mưa tạo acid sulfuric H2SO4 và acid nitric HNO3, rơi xuống
Trang 20dưới dạng các trận "mưa acid", tác động xấu đến sức khỏe con người nói riêng và đời sống sinh vật nói chung.[40, 42]
Quá trình thu gom và vận chuyển chất thải rắn đa phần do trực tiếp từng doanh nghiệp trong KCN thực hiện Còn nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc công tác phân loại chất thải rắn Chất thải rắn công nghiệp còn bị đổ lẫn với rác thải sinh hoạt, chất thải nguy hại còn chưa phân loại và vận chuyển đúng quy định Nhiều KCN chưa có khu vực lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại và qua khảo sát một số KCN cho thấy, trong thành phần chất thải rắn, tỷ lệ chất thải nguy hại thường chiếm dưới 20% nếu không được phân loại tốt.[2] Thành phần của chất thải rắn ở các KCN phụ thuộc vào loại hình của các cơ sở công nghiệp trong KCN, không những vậy nó còn phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của KCN Trong giai đoạn xây dựng KCN, chất thải rắn chủ yếu là phế thải xây dựng: đất, đá, gạch, xi măng, sắt thép hư hỏng, bao bì, phế thải… còn trong giai đoạn đi vào hoạt động, phế thải xây dựng mặc dù phát sinh không nhiều nhưng vẫn được thu gom lẫn với chất thải công nghiệp
Trang 221.4.1 Giới thiệu chung
Trong 10 năm trở lại đây ngành công nghiệp sản xuất bia đã có những bước tăng trưởng nhảy vọt Bên cạnh các nhà máy bia mới hình thành có rất nhiều dự án đầu tư
mở rộng nâng công suất bia như Tổng công ty Bia Rượu nước giải khát Sài Gòn, Tổng công ty Bia Rượu nước giải khát Hà Nội, các nhà máy bia địa phương Bên cạnh đó, chất lượng của sản phầm bia ngày một được nâng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng không những trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu, các tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, chứng chỉ ISO 9000, ISO 14000… đang được các nhà máy đưa vào triển khai áp dụng.[2]
Tuy nhiên, ngành sản xuất bia nói riêng và ngành đồ uống nói chung đang đối mặt với những vấn đề về ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nguồn nước thải Do nó chứa hàm lượng chất hữu cơ cao nên khi thải vào môi trường gây ô nhiễm nguồn tiếp nhận,
hệ sinh thái đất và khu vực chứa nước thải Vì vậy, việc quản lý và giám sát chất lượng môi trường khu vực xung quanh các cơ sở này là một yêu cầu thực tế cần thiết và cấp bách [33]
1.4.2 Quy trình sản xuất bia
Mô tả quy trình sản xuất [2, 16]
Nguyên liệu sản xuất bao gồm: malt, đại mạch, một phần là gạo, hoa Houblon và một số chất phụ gia khác Tỷ lệ của các thành phần trong nguyên liệu tùy thuộc vào chủng loại bia sẽ được sản xuất
Các công đoạn sản xuất chính:
Trang 2312
Hình1.2 : Sơ đồ dây chuyền sản xuất bia
Malt
Ngâm (đường hóa)
Lọc trong thu hồi dịch đường
Đun sôi với hoa Houblon
Lên men phụ và tàng trữ
Lắng trong
Làm lạnh
Lên men chính
Dịch hóa
Lọc trong bia tươi
Thanh trùng
Chiết chai Rửa khử trùng
Dán nhãn, xếp thùng, hộp Chai
Nấu chín
Chiết keg
Xuất xưởng
Nguyên liệu thay thế
Hoa Houblon
Trang 24Chuẩn bị:
Malt và gạo (gọi tắt là nguyên liệu) được đưa đến bộ phận nghiền nguyên liệu thành các mảnh nhỏ, sau đó chuyển sang nồi gạo và nồi malt để ngâm, tạo điều kiện cho quá
trình chuyển hóa nguyên liệu và trích ly tối đa các chất hòa tan trong nguyên liệu
Nấu: Gồm 4 giai đoạn:
- Nấu-đường hóa: Nguyên liệu sau khi xay nghiền tiếp tục được chuyển tới thùng chứa để chuyển vào hồ hóa và đường hóa bằng cách sử dụng hợp nước gia nhiệt cùng với hệ enzyme thích hợp chuyển hóa các chất khô hòa tan thành đường, acid amin và các chất hòa tan khác sau đó được đưa qua lọc hèm để tách đường và các chất hòa tan khỏi bã bia
- Lọc: Dịch đường hóa được đưa qua bộ phận lọc khung bản nhằm tách bã hèm
ra khỏi nước mout Tổng thời gian của quá trình lọc (lọc, rửa, vệ sinh) khoảng 1h30 phút
- Đun sôi với hoa Houblon: Dịch đường sau khi lọc được hòa trộn với hoa Houblon và đun sôi trong 90 phút (dùng hơi nước để gia nhiệt) Mục đích của quá trình nhằm ổn định thành phần của dịch đường, tạo cho sản phẩm có mùi thơm đặc trưng
- Lắng: Dịch sau khi nấu được đưa qua bồn, lắng xoáy nhằm tách cặn hoa, tổng thời gian của quá trình lắng là 1h30 phút
Lên men:
Làm lạnh và bổ sung oxy: Dịch sau lắng có nhiệt độ khoảng 85-95oC được đem
hạ nhiệt độ nhanh đến 10oC và bổ sung oxy với nồng độ 0,6-0,8 mg O2/lít
Chuẩn bị men giống: Nấm men giống được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, tiến hành nhân giống trong các điều kiện thích hợp nhằm tăng số lượng nấm men trước khi đưa vào thùng lên men
- Lên men chính: Nước nha được cấp bổ sung oxy, làm lạnh đến nhiệt độ thích hợp để tiến hành quá trình lên men chính với thời gian và điều kiện phù hợp Khí CO2
sinh ra trong quá trình lên men được thu hồi Thời gian lên men chính là 7 ngày
- Lên men phụ: Dịch sau khi kết thúc giai đoạn lên men chính được chuyển sang giai đoạn lên men phụ để hoàn thiện chất lượng bia (tạo hương và vị đặc trưng) Quá trình lên men này diễn ra chậm, tiêu hao một lượng đường không đáng kể, bia được lắng trong và bão hòa CO2 Thời gian lên men từ 14-18 ngày tùy thuộc vào yêu cầu của từng loại bia
- Lọc: Bia sau lên men được đem lọc để làm bia có độ trong theo yêu cầu
Trang 25
- Khẩu rửa ban đầu:
Các bồn chứa và đường ống được rửa bằng nóng để loại các chất bẩn bám trên
bề mặt Nước rửa không được tái sử dụng mà thải ra hệ thống xử lý nước thải
- Khâu rửa bằng chất tẩy rửa:
Sau khi kết thúc quá trình rửa ban đầu, các bồn chứa và đường ống được súc rửa bằng dung dịch tẩy rửa nóng ở nhiệt độ 70-85oC để tẩy sạch các chất bẩn còn bám
ở bề mặt Chất tẩy rửa được thu hồi để dùng lại hoặc được dùng cho khâu tẩy rửa sơ
bộ
- Khâu súc rửa cuối cùng:
Các bồn và đường ống được súc rửa lần cuối với dung dịch nước ở nhiệt độ môi trường để làm sạch các chất tẩy rửa còn lại Phần nước này được thu hồi và tái sử dụng cho khâu súc rửa sơ bộ
Do vậy, ngoài khả năng đảm bảo mức độ vệ sinh thực phẩm, quy trình súc rửa tái sử dụng cho phép tiết kiệm tài nguyên nước và hóa chất sử dụng
Trang 261.4.3 Hiện trạng môi trường Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải Dương
Hình 1.3: Sơ đồ mặt bằng Công ty Bia
1.4.3.1 Môi trường không khí
Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương nằm trong vùng có dân cư xen kẽ, gần
đường giao thông và nhà máy sản xuất Do vậy, chất lượng không khí trong môi
trường Công ty bị ảnh hưởng do hoạt động của các phương tiện giao thông cũng như
các hoạt động sản xuất công nghiệp Các chất gây ô nhiễm môi trường không khí của
KHU NỒI HƠI
TỔ NGHIỀN
KHU NẤU
NHÀ KHO
KHU XỬ LÝ NƯỚC THẢI
KHU LÊN MEN, LỌC, CHIẾT
KHU VỰC BÁN BIA
NHÀ ĐIỀU HÀNH
LÊN MEN
Trang 2716
- Quá trình sản xuất bia: NH3 từ hệ thống máy lạnh, CO2 từ quá trình lên men Sinh ra từ các tăng lên men:
Cơ chế: C6H12O6→ 2C2H5OH + 2CO2 + H2O
Do hệ thống tăng lên men kín, lượng CO2 được thu hồi để đóng chai nên CO2
thải vào không khí được hạn chế
1.4.3.2 Môi trường nước
Bảng 1.2: Mức tiêu thụ nước tại Công ty Bia
Sau khi sử dụng được tuần hoàn
1 lượng nhỏ bị tổn thất
do bay hơi, chảy tràn, rò rỉ khi thoát ra ngoài có dầu mỡ
Nước rửa Nguyên liệu, thiết bị,
6.000 m3/năm
Dự trữ Phòng cháy chữa cháy 20 m3
Nguồn: Báo cáo tác động Môi trường
Các kết quả tính toán cho thấy tỉ lệ nước sử dụng tính cho 1 lít sản phẩm bia là
10 lít nước /lít bia
Kết luận: Tổng lượng nước thải sản xuất của Công ty hiện tại là 210.000
m3/năm khi hệ thống mới đi vào hoạt động tổng khối lượng nước thải dự báo là 360.000 m3/năm tương ứng 1200 m3/ngày đêm Không tính đến lượng nước mưa
1.4.3.3 Tiếng ồn
Tiếng ồn đối với các nhà máy bia nói chung và Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương nói riêng đều ở mức độ không cao Nhưng do nằm gần khu dân cư và hoạt động cả ban đêm nên cần xem xét, đánh giá đầy đủ nhằm hạn chế những tác động ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân vận hành, giảm thiểu các bệnh nghề nghiệp.[2]
Trang 28Bảng 1.3: Mức độ gây ồn trong Công ty Bia Hà Nội - Hải Dương
Bộ phận nghiền malt Máy nghiền với cơ cấu là đầu
búa, trục nghiền và đập
50-58 dbA
Nguồn: Báo cáo tác động Môi trường, 2006
1.4.3.4 Chất thải rắn
Bảng 1.4: Chất thải rắn không nguy hại tại Công ty Bia
Bã men: quá trình lên men một lượng nấm men
nhất định sẽ bị chết và chìm xuống đáy bồn
70 kg/ngày đêm
Vỏ chai, bao bì đựng nguyên liệu 148.160 vỏ bao bì
Mảnh chai vỡ, nắp kim loại hỏng, giấy nhãn hỏng,
zoăng cao su
243 chai
100-120kg Hộp giấy carton hỏng, giấy gói, bìa palet 25kg/ngày
Các keg bia, loại xe chuyên dùng cỡ nhỏ, kệ gỗ 100 kệ gỗ/năm
1.5 Tình hình xử lý chất thải tại Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương
Trang 2918
Cán bộ nhân viên đã được nắm rõ các yếu tố nguy cơ khi tham gia lao động qua các hoạt động hội diễn, hội nghị, thực địa, thực tập trong Công ty nên họ đã tự ý thức được cách phòng tránh tốt nhất Và biện pháp đeo khẩu trang, kính bảo vệ, quần áo và
mũ bảo hộ phải được thực hiện trong toàn bộ quy trình sản xuất, đặc biệt là khu ngoài trời
Xử lý SO2 bằng vôi: là phương pháp áp dụng rất rộng rãi trong công nghiệp vì hiệu quả xử lý cao, nguyên liệu rẻ tiền và có sẵn mọi nơi
Các phản ứng xảy ra trong quá trình xử lý như sau:
H2O; CaSO4.2H2O và 1 lượng tro bụi còn sót lại sau bộ lọc tro bụi, do đó cần tách các tinh thể nói trên ra khỏi dung dịch bằng bộ phận tách tinh thể 2 Thiết bị số 2 là 1 bình rỗng cho phép dung dịch lưu lại 1 thời gian đủ để hình thành các tinh thể sunfit và sunfatcanxi Sau bộ phận tách tinh thể 2, dung dịch 1 phần đi vào tưới cho tháp ướt, phần còn lại đi qua bình lọc chân không 3, tại đây các tinh thể bị giữ lại dưới dạng cacbon và được thải ra ngoài, đá vôi được đập vụn và được nghiền thành bột qua các thiết bị 6, 7 rồi cho vào thùng 5 để pha trộn dung dịch loãng chảy từ bộ phận lọc chân không số 3 cùng với 1 lượng nước bổ sung để được dung dịch sữa vôi mới
Trang 30Hình 1.4: Sơ đồ hệ thống xử lý khí SO2 bằng sữa vôi
Hiệu quả hấp thu SO2 bằng sữa vôi đạt 90%
Lượng đá vôi cần xử lý tính cho 1 tấn than đá là: 13,80 kg CaO/1 tấn than đá
1.5.2 Xử lý nước thải
Công ty đã chọn hệ thống xử lý theo phương pháp sinh học hiếu khí kết hợp với
kỵ khí (UASB) để xử lý nước thải đạt TCVN 5945-2005 (cột B) và thỏa mãn các yếu tố: công nghệ xử lý hiện đại, chi phí đầu tư thấp, hiệu quả xử lý cao, giá thành xử lý thấp, diện tích xây dựng nhỏ, quy trình vận hành đơn giản [2]
Hệ thống xử lý nước thải có độ ô nhiễm hữu cơ cao, sau khi xử lý để đạt được loại A thì Công ty đã áp dụng quy trình sau:
Trang 3120
Hình 1.5: Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải
Tính năng của các bể được Công ty sử dụng:
- Hố bơm: để tận dụng hết thể tích của bể cân bằng, thiết kế của phương thức trên đã chọn phương án dùng hố bơm thu nước thải từ nhà máy về sau đó dùng bơm bơm lên
bể cân bằng Trước hố bơm một song chắn rác được đặt để thu gom rác trong dòng nước thải
- Bể cân bằng: để trung hòa cân bằng nước thải trước khi nước đi vào hệ thống xử lý
- Tháp lọc nước nhỏ giọt: dùng để đánh bóng nước thải
- Bể lắng: sau khi phân hủy hiếu khí thì bùn hoạt tính sinh ra lớn, để tách bùn ra khỏi nước thải thì một hệ thống lắng là cần thiết Thường sau một thời gian khoảng 6 tháng
Tái xử lý nước thải
Dùng cho vệ sinh nhà, xưởng, cống rãnh, làm hệ thống mát
mái nhà tôn