1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy trước và sau điều trị tấn công tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học thành phố Hồ Chí Minh

6 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 400,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng quy trình kỹ thuật Real time – PCR định lượng gen WT1 trong bệnh bạch cầu cấp dòng tủy. Áp dụng để đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy (BN BCCDT) trước và sau khi điều trị tấn công tại Bệnh viện Truyền máu huyết học thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ BIỂU HIỆN GEN WT1 TRÊN BỆNH NHÂN

BẠCH CẦU CẤP DÒNG TỦY TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ TẤN CÔNG TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC TP HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Thu Lý * , Cao Văn Động ** , Nguyễn quốc Dũng ** , Phan Cao Thanh Thảo ** , Nguyễn Đình

Tuyến ***, Phan Thị Xinh **,**** , Vũ Quang Huy ****,*****,******

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xây dựng quy trình kỹ thuật Real time – PCR định lượng gen WT1 trong bệnh bạch cầu cấp

dòng tủy Áp dụng để đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy (BN BCCDT) trước và sau khi điều trị tấn công tại Bệnh viện Truyền máu huyết học thành phố Hồ Chí Minh

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện trên 20 BN BCCDT tại Bệnh viện Truyền máu

Huyết học thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9/2018 đến tháng 5/2019 Sử dụng phương pháp tạo dòng trong T-Vector để xây dựng đường chuẩn các gen WT1 và ABL Phản ứng Real-time PCR được ứng dụng để định lượng

số bản sao gen WT1 ở bệnh nhân

Kết quả: Xây dựng thành công đường chuẩn gen WT1 và gen ABL1, ứng dụng và thiết lập được điều kiện

tối ưu cho phản ứng Real-time PCR định lượng số bản sao gen WT1 với 1 cặp mồi và đoạn dò đặc hiệu Có 19 trong số 20 bệnh nhân biểu hiện quá mức gen WT1 và 01 bệnh nhân không biểu hiện quá mức Mười hai trong

số 19 bệnh nhân biểu hiện quá mức gen WT1 có đáp ứng ở mức sinh học phân tử sau quá trình điều trị ứng với giảm ≥2-log tỉ số biểu hiện WT1/ABL1

Kết luận: Phản ứng Real-time quantitative PCR được tối ưu hóa có thể sử dụng để đánh giá sự thay đổi

biểu hiện gen WT1 trước và sau quá trình điều trị tấn công ở BN BCCDT

Từ khóa: bạch cầu cấp dòng tủy, biểu hiện gen

ABSTRACT

WILMS TUMOR EXPRESSION EVALUATION IN ACUTE MYELOID LEUKEMIA PATIENT AT PRE-TREATMENT AND POST-PRE-TREATMENT IN BLOOD TRANSFUSION AND HEMATOLOGY

HOSPITAL HO CHI MINH CITY

Phan Thi Thu Ly, Cao Van Dong, Nguyen Quoc Dung, Phan Cao Thanh Thao, Nguyen Dinh Tuyen,

Phan Thi Xinh, Vu Quang Huy

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 214 - 219

Objectives: This study is conducted to implementing technical process of WT1 detection and applicating

technical process on WT1 expression evaluation in acute myeloid leukemia patients at pre-treatment and post-treatment

Methods: Twenty patients in Blood Transfusion and Hematology Hospital Ho Chi Minh city, who had

chronic myeloid leukemia, participated in the real-time quantitative PCR to estimating WT1 and ABL1 concentration change by designing primers and probes based on WT1 and ABL1 gene sequences and the calibration curve was established to determine WT1 and ABL1 concentration

*Khoa Xét nghiệm - Trường Cao Đẳng Y tế Quảng Nam

**Bệnh viện truyền máu Huyết học Thành phố Hồ Chí Minh

***Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi ****Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

*****Bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh ******Trung tâm kiểm chuẩn chất lượng Y học

Tác giả liên lạc: CN Phan Thị Thu Lý ĐT: 0908471459 Email: phanlyxn@gmail.com

Trang 2

Results: Standard curve for WT1 and ABL realtime quantitative PCR are meeting quality criteriaion and

apllicated on optimal conditions for WT1 and ABL realtime quantitative PCR using specific probes and primers Twelve of 19 patients, who have WT1 overexpression, meet the molecular biology responses at post-treatment corresponding to ≥ 2-log reduction In which 1 of 20 patients did not overexpress WT1

Conclussions: The real-time quantitative PCR after optimization can be used to evaluate WT1 expression in

acute myeloid leukemia patients at pre-treatment and post-treatment

Keywords: acute myeloid leukaemia, gen expression

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (BCCDT) là

một trong những bệnh ung thư phổ biến trên

thế giới, đặc trưng bởi sự tăng sinh các tế bào

dòng tủy chưa trưởng thành Các bệnh nhân sẽ

được điều trị tấn công sau khi phát hiện bệnh

Tuy nhiên, tỷ lệ tồn lưu tế bào ác tính cao sau

điều trị dẫn đến nguy cơ tái phát cao Vì vậy,

việc tìm ra các dấu ấn cho phép dự đoán tái

phát, đáp ứng điều trị và hướng dẫn can thiệp

điều trị là rất cần thiết Các dấu ấn được sử

dụng để theo dõi điều trị (hay theo dõi bệnh

tồn lưu tối thiểu _ MRD) trong BCCDT chủ yếu

là các bất thường di truyền thường gặp như

PML/RARA, AML1/ETO, CBFB/MYH11 hay

MLL/AF9 Song, đối với những BN không

mang các bất thường di truyền thường gặp cần

có một chỉ dấu sinh học khác để theo dõi hiệu

quả điều trị Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ

ra rằng mức độ biểu hiện gen WT1 thấp hay

cao đi kèm với mức độ lui bệnh hay tái phát

tương ứng(1,17) Do đó, WT1 là một yếu tố tiên

lượng quan trọng và là mục tiêu theo dõi điều

trị trong bệnh BCCDT Gen WT1 là một gen ức

chế khối u, có biểu hiện quá mức trong bệnh

BCCDT, với tỷ lệ lên đến hơn 90% bệnh nhân(1)

Gen WT1 nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc

thể 11, ở người bình thường xuất hiện với tỷ lệ

rất thấp trong tủy xương và không tìm thấy ở

máu ngoại vi(1,17) Đây là gen liên quan đến sinh

bệnh học của bệnh bạch cầu khi ngăn chặn sự

phát triển và biệt hóa của tế bào bằng cách

ngăn chặn sự nhân đôi, nhiều nghiên cứu đã

chỉ ra rằng tiên lượng ở bệnh nhân ung thư

máu liên quan nghịch với biểu hiện của

WT1(3,11) Do đó, sự biểu hiện quá mức của WT1

trong bệnh bạch cầu cấp dòng tủy có thể đại diện cho một dấu ấn độc lập theo dõi MRD Với việc định lượng chính xác số bản sao của gen, Real-time PCR là một giải pháp có độ nhạy cao, chuyên biệt và đáng tin cậy Do đó, chúng tôi đã tiến hành xây dựng đường chuẩn, thiết lập quy trình kỹ thuật, thiết kế đoạn mồi

và dò phù hợp trên gen WT1 và gen ABL để đánh giá biểu hiện của gen WT1 trên bệnh

nhân BCCDT trước và sau khi điều trị tấn công tại bệnh viện Truyền máu Huyết học Thành Phố Hồ Chí Minh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán BCCDT và điều trị tấn công theo phác đồ 7 ngày Cytarabine và

3 ngày Daunorubicin tại bệnh viện Truyền máu Huyết học thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả loạt ca

Phương pháp tiến hành

Ly trích RNA, tổng hợp cDNA

Mẫu tủy xương hoặc máu ngoại biên của

20 BN BCCDT được lấy trong chống đông EDTA tại thời điểm bệnh mới được chẩn đoán

và sau điều trị tấn công Thực hiện tách chiết RNA bằng Invitrap Spin Universal RNA Mini Kit theo hướng dẫn của nhà sản xuất cDNA (complement DNA) được tổng hợp từ 1 µg RNA với bộ hóa chất PrimeScript RT Master Mix của TaKaRa cDNA sau đó được pha loãng

về nồng độ 50 ng/ L, làm mẫu cho các phản

ứng tiếp theo

Trang 3

Xây dựng đường chuẩn bằng phương pháp tạo

dòng T-vector

Từ trình tự chuẩn mang mã số

NM_001198551.1 gen WT1 trong Genbank,

chúng tôi thiết kế cặp mồi khuếch đại đoạn gen

WT1 từ mẫu cDNA tại vị trí exon 7 đến exon 10

có kích thước 350 bp làm sản phẩm cho quy

trình tạo dòng T-Vectơ Tương tự, chúng tôi

thiết kế 1 cặp mồi khuếch đại cho gen ABL

mang mã số NM_007313.2 Phản ứng PCR

được thực hiện với Phusion Hot Start II

High-Fidelity DNA Polymerase, tiến hành nối vòng

sử dụng T-vector từ bộ kit pGEM®-T Vector

Systems (Promega – Mỹ) với thể tích phản ứng

là 10 µL theo hướng dẫn của nhà sản xuất Hỗn

hợp được ủ 16 – 18 giờ ở 4oC trước khi biến nạp

plasmid T-vector vào tế bào vi khuẩn E.coli khả

nạp (DH5α) bằng phương pháp sốc nhiệt Vi

khuẩn sau biến nạp được nuôi trong môi

trường LB với thời gian 90 phút ở 37oC, lắc nhẹ

Cấy dịch nuôi cấy trên đĩa LB agar có kháng

sinh ampicilin và chọn lọc khóm trắng/xanh

bằng Isopropyl β-D-1-thiogalactopyranoside

(IPTG)/X-gal Ủ đĩa đã cấy ở 37oC qua đêm,

chọn khóm trắng để giải trình tự chuỗi DNA

bằng phương pháp Sanger khẳng định kết quả

tạo dòng, đồng thời nhân sinh khối, thu sản

phẩm tạo dòng Ly trích DNA plasmid bằng

Wizard® Plus SV Minipreps DNA Purification

Systems Kit Tiến hành đo mật độ quang để xác

định nồng độ và độ tinh sạch DNA Số bản sao

gen WT1 và ABL trong mỗi đơn vị thể tích (ký

hiệu C0, đơn vị copies/L) được tính dựa trên

công thức:

Trong đó độ dài mạch bằng tổng độ dài

plasmid (3015 bp) và đoạn gen WT1 (350 bp)

Sau khi xác định được số bản sao DNA,

dãy nồng độ tuyến tính được thiết lập bằng

cách pha loãng để có các nồng độ mong muốn

lần lượt là C2=102, C3=103, C4=104, C5=105 (copies/L)

Thiết lập điều kiện Real-Time PCR Dựa vào trình tự chuỗi của gen ABL mang accession number NM_007313.2 và gen WT1

mang accession number NM_001198551.1 trong GenBank, thiết kế đoạn dò chuyên biệt

gắn huỳnh quang (Bảng 1)

Bảng 1: Các đoạn mồi và probe dùng trong nghiên

cứu (1)

Tên mồi Trình tự chuỗi (5’-3’)

Q.ABL-Probe FAM-GCG CTC TCG CTT TGA TTT

CG-TAMRA

AGC T

CTC A

GAA GCA CAC TG-TAMRA

Phản ứng Real-Time PCR được thiết lập với 2X PrimeTime® Gene Expression Master Mix (Integrated DNA Technologies_Mỹ) theo hướng dẫn của nhà sản xuất Nhiệt độ bắt cặp của mồi, probe được thử nghiệm theo gradient nhiệt độ từ 58oC đến 65oC để tìm ra điều kiện tối ưu nhất cho phản ứng Chương trình cụ thể: biến tính ban đầu ở 95oC trong 5 phút, 50 chu

kỳ tiếp theo với các bước biến tính 95oC trong

10 giây, tổng hợp 30 giây ở nhiệt độ thử nghiệm từ 58oC – 65oC

Đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân BCCDT trước và sau điều trị

Phản ứng Real-time quantitative PCR được thực hiện với các mẫu cDNA của bệnh nhân BCCDT được thu thập ở 2 thời điểm trước và sau khi điều trị tấn công cùng các mẫu nồng độ

chuẩn Biểu hiện gen WT1 được xác định thông

qua tỉ số biểu hiện trình bày ở dạng 100 x

WT1/ABL Sự biểu hiện quá mức WT1 được xác

định trong nghiên cứu này là ≥50 bản sao

WT1/104ABL đối với mẫu máu ngoại biên và

≥250 bản sao WT1/10 4ABL đối với mẫu tủy(1)

Dữ liệu được nhập và phân tích trên phần mềm Excel 2013 Sử dụng trung vị và phạm vi

từ cực tiểu đến cực đại để mô tả tỉ số biểu hiện

Trang 4

gen WT1 Tần số và tỉ lệ được sử dụng để mô tả

các trường hợp biểu hiện quá mức gen WT1

KẾT QUẢ

Từ tháng 9/2018 đến tháng 5/2019, chúng

tôi đã ly trích RNA từ 40 mẫu máu hoặc tủy

của bệnh nhân (trước và sau điều trị tấn công)

và tổng hợp cDNA thành công Tất cả các mẫu

đều cho kết quả định lượng bản sao gen ABL

trên 104 copies/L (Bảng 2)

Bảng 2: Bảng tổng hợp bản sao ABL phản ánh chất

lượng mẫu nghiên cứu

Thời điểm

lấy mẫu

Trung bình số bản

sao ABL (copies/uL)

Khoảng bản sao ABL1 (copies/uL)

Sau tấn

Plasmid mang các gen được tạo dòng sau

đó ly trích và giải trình tự để khẳng định tính

chính xác của gen mục tiêu, kiểm tra độ tinh

sạch Kết quả cho thấy sản phẩm đạt độ tinh

sạch cao (Bảng 3) Chúng tôi pha loãng thành

công nồng độ bản sao các gen để có các nồng

độ mong muốn lần lượt là C2=102, C3=103,

C4=104, C5=105, C6=106 (copies/L)

Bảng 3: Kết quả đo mật độ quang các mẫu DNA

plasmid

Mẫu Abs@260 Abs@280 Abs

ratio

Nồng độ (g/ml)

Bảng 4: Phương trình đường chuẩn

Khảo

nghiệm Intercept Slope

PCR efficiency (%)

Standard Deviation R

2

Kết quả thử điều kiện phản ứng Real-time

quantitative PCR với các đường chuẩn là các

nồng độ tuyến tính đã pha cùng các điều kiện

nhiệt độ bắt cặp, tổng hợp chuỗi của mồi và

probe cho thấy nhiệt độ tối ưu cho bắt cặp,

tổng hợp chuỗi của mồi và probe là 60oC trong

30 giây Các đường chuẩn đạt độ tuyến tính

cao với R2>0,99 ở tất cả các khảo nghiệm Khảo

nghiệm cho giá trị slope dao động từ -2,896 đến

-3,388 Hệ số hiệu quả PCR được xác định nằm

trong khoảng 97% đến 103% (Bảng 4)

Đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân BCCDT trước và sau điều trị

Mẫu bệnh nhân BCCDT chọn vào nghiên cứu gồm 19 trường hợp được lấy mẫu tủy trước và sau điều trị; 1 trường hợp còn lại được lấy mẫu máu trước điều trị và sau điều trị Trong tổng số 20 bệnh nhân, có 13 nam và 07

nữ, số bệnh nhân dưới 15 tuổi là 05 Trong khi

độ tuổi trung bình là 23,4 ở khoảng tuổi từ 02 –

45 tuổi Kết quả phân tích biểu hiện gen WT1 được mô tả trong (Bảng5)

Bảng 5: Biểu hiện gen WT1 ở bệnh nhân BCCDT

Biểu hiện

gen WT1

Trung bình số bản sao

(copies/uL)

Khoảng bản sao

(copies/uL)

Biểu hiện quá mức

Số ca (tỷ

lệ %)

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng

kỹ thuật RT-PCR khuếch đại đoạn gen WT1

vùng từ exon 7 đến exon 10 với Phusion Hot Start II High-Fidelity DNA Polymerase là enzyme xúc tác cho phản ứng Đây là một polymerase có độ trung thực cao và có khả năng tạo ra sản phẩm PCR có đầu 3’A overhangs thuận lợi cho ứng dụng tạo dòng trong T-vector Kết quả phân tích giải trình tự trên mẫu khuẩn lạc cho thấy chúng tôi đã tạo

dòng gen WT1 thành công, làm tiền đề rất quan

trọng trong việc xây dựng và thiết lập phản ứng Real-time PCR đường chuẩn định lượng

gen WT1

Ghi nhận từ các thử nghiệm phản ứng Real-time PCR, các thông số của các đường chuẩn thu được cho thấy phản ứng có độ nhạy

và độ tin cậy cao với ngưỡng cut off của WT1 là 40,6 chu kỳ và ABL là 38 chu kỳ trong điều kiện

nhiệt độ bắt cặp mồi và khuếch đại là 60oC Do

đó, chúng tôi chọn điều kiện tối ưu cho phản ứng Real-time PCR đường chuẩn định lượng

gen WT1 như sau: biến tính ban đầu ở 95oC trong 5 phút, 42 chu kỳ tiếp theo với các bước

Trang 5

biến tính 95oC trong 10 giây, tổng hợp 30 phút

ở nhiệt độ 60oC

Gen WT1 là một gen ức chế khối u có liên

quan đến Wilms Tumor và các hội chứng liên

quan khác như WAGR và Denys-Drash(2)

Trong tủy xương bình thường, các tế bào tiền

tạo máu biểu hiện gen WT1 rất thấp và giới

hạn Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy có

thể thấy sự tăng biểu hiện của WT1 trong

BCCDT, bạch cầu cấp dòng lympho, hội chứng

loạn sinh tủy và giai đoạn tiến triển của bạch

cầu mạn dòng tủy(5) Đặc biệt, phần lớn bệnh

nhân BCCDT biểu hiện giá trị rất cao của WT1

khi chẩn đoán, việc đánh giá biểu hiện WT1 là

một phương pháp hữu hiệu để theo dõi MRD

sau khi hóa trị hoặc ghép tủy xương hoặc trong

quá trình điều trị(1)

Gen WT1 được biểu hiện ở hơn 90% bệnh

nhân BCCDT trong cả mẫu máu ngoại biên và

mẫu tủy(1) Sự biểu hiện quá mức WT1 được sử

dụng như một dấu ấn định lượng MRD, đặc biệt đối với những bệnh nhân không phát hiện bất thường NST hoặc phân tử (khoảng 50%)(1,19)

Trong nghiên cứu này, kết quả phân tích

cho thấy tại thời điểm chẩn đoán (Bảng 6), có 19

trong số 20 bệnh nhân BCCDT biểu hiện quá

mức gen WT1, chiếm 95% Có 01 bệnh nhân có

tỉ số biểu hiện thấp, bằng 0,6 và được xem như không biểu hiện quá mức Kết quả của chúng tôi tương tự như các nghiên cứu khác Trong một nghiên cứu của Kwon M và các cộng sự năm 2012 cho thấy, hơn 90% bệnh nhân

BCCDT có biểu hiện quá mức gen WT1 Kết quả định lượng gen WT1 trước và sau khi ghép

của bệnh nhân cùng với kết quả chimerism đã được so sánh với kết quả của tế bào dòng chảy

của nhóm tác giả đã chỉ ra rằng biểu hiện WT1

ở bệnh nhân BCCDT có liên quan đến bệnh tồn lưu ác tính(16)

Bảng 6: Biểu hiện gen WT1 theo phân nhóm các tổ hợp gen thường gặp

Bất thường gen/ tổ

hợp gen

Số mẫu (n)

Số bản sao WT1/104ABL (copies/uL)

trước điều trị Trung bình (khoảng)

Số bản sao WT1/104ABL (copies/uL)

sau điều trị Trung bình (khoảng)

Đáp ứng sinh học phân tử (n)

*Trong đó có 01 BN mang đồng thời đột biến FLT3 và tổ hợp gen CBFB-MYH11

Phân nhóm kết quả định lượng gen WT1

(Bảng 6) cho thấy có 12 trong tổng số 20 bệnh

nhân có đáp ứng ở mức sinh học phân tử tương

đương với giảm trên 2-log biểu hiện gen WT1(1),

chiếm 60% Kết quả này phù hợp với các kết quả

theo dõi điều trị dựa trên bất thường các tổ hợp

gen trên mỗi bệnh nhân Cụ thể, trường hợp

bệnh nhân BCCDT thể tiền tủy bào, mang tổ hợp

gen PML/RARA có tiên lượng tốt và cho kết quả

MRD bằng tổ hợp gen âm tính tại thời điểm sau

điều trị tấn công Trong khi đó, kết quả định

lượng gen WT1 tại thời điểm chẩn đoán cho thấy

bệnh nhân biểu hiện quá mức với 146055 bản

sao và tại thời điểm sau tấn công chúng tôi ghi nhận là 232 bản sao Như vậy, bệnh nhân này đã

giảm biểu hiện gen WT1 trên 2-log, được xem

như đạt đáp ứng ở mức sinh học phân tử Trên

01 bệnh nhân khác mang tổ hợp gen MLL/AF9,

kết quả theo dõi điều trị bằng RT-PCR tổ hợp

gen MLL/AF9 cho thấy bệnh nhân không đạt lui

bệnh sau giai đoạn điều trị tấn công Định lượng

số bản sao của bênh nhân này ghi nhận, tại thời điểm chẩn đoán bệnh nhân biểu hiện quá mức

WT1 với 10070 bản sao và sau điều trị tấn công

số bản sao WT1 là 696 bản sao Bệnh nhân này

chưa giảm đạt được đến mức 2-log số bản sao

Trang 6

WT1 lúc chẩn đoán (100,7 bản sao), do đó không

đạt lui bệnh ở mức phân tử Điều này phù hợp

với kết quả theo dõi MRD bằng tổ hợp gen

MLL/AF9

Trong mỗi phân nhóm theo bất thường các

tổ hợp gen, các bệnh nhân khác nhau có biểu

hiện gen WT1 khác nhau và đáp ứng điều trị

cũng khác nhau Điều này có thể giải thích do

các bệnh nhân khác nhau, ở mỗi giai đoạn mức

độ tiến triển bệnh khác nhau do đó mức độ biểu

hiện mRNA của gen WT1 cũng khác nhau(8)

KẾT LUẬN

Nghiên cứu xác định 95% bệnh nhân

BCCDT có biểu hiện quá mức gen WT1 tại thời

điểm chẩn đoán Phản ứng real-time PCR đường

chuẩn được tối ưu hóa có thể đánh giá sự thay

đổi biểu hiện gen WT1 trước và sau quá trình

điều trị giúp theo dõi BTLTT ở bệnh nhân bạch

cầu cấp dòng tủy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ayatollahi H, Sadeghian M H, Naderi M, et al (2017)

"Quantitative assessment of Wilms tumor 1 expression by

real-time quantitative polymerase chain reaction in patients with

acute myeloblastic leukemia" J Res Med Sci, 22:54

2 Barragán E, Cervera J, Bolufer P, et al (2004) Prognostic

implications of Wilms ’ tumor gene (WT1) expression in

patients with de novo acute myeloid leukemia Haematologica,

89:926-33

3 Bergmann L, Miething C, Maurer U, et al (1997) High levels of

Wilms’ tumor gene (WT1) mRNA in acute myeloid leukemias

are associated with a worse long-term outcome Blood; 90:1217-25

4 Brieger J, Weidmann E, Maurer U, et al (1995) The Wilms’

tumor gene is frequently expressed in acute myeloblastic

leukemias and may provide a marker for residual blast cells

detectable by PCR Ann Oncol; 6:811-6

5 Candoni A, Tiribelli M, Toffoletti E, et al (2009) Quantitative

assessment of WT1 gene expression after allogeneic stem cell

transplantation is a useful tool for monitoring minimal residual

disease in acute myeloid leukemia Eur J Haematol; 82:61-8

6 Cilloni D, Renneville A, Hermitte F, et al (2009) "Real-time

quantitative polymerase chain reaction detection of minimal

residual disease by standardized WT1 assay to enhance risk

stratification in acute myeloid leukemia: a European

LeukemiaNet study" J Clin Oncol, 27(31):5195-5201

7 Cilloni D, Saglio G (2003) Usefulness of quantitative assessment

of Wilms tumor suppressor gene expression in chronic myeloid

leukemia patients undergoing imatinib therapy Semin Hematol;

40(2):37-41

8 Di Stasi A, Jimenez AM, Minagawa K, et al (2015) Review of the

results of WT1 peptide vaccination strategies for

myelodysplastic syndromes and acute myeloid leukemia from

nine different studies Front Immunol; 6:36

9 Dohner H, Estey EH, Amadori S, et al (2010) "Diagnosis and management of acute myeloid leukemia in adults: recommendations from an international expert panel, on behalf

of the European LeukemiaNet" Blood, 115(3):453-474

10 Grimwade D, Hills RK, Moorman AV, et al (2010) "Refinement

of cytogenetic classification in acute myeloid leukemia: determination of prognostic significance of rare recurring chromosomal abnormalities among 5876 younger adult patients treated in the United Kingdom Medical Research Council trials" Blood, 116 (3):354-365

11 Hirose M (1999), the role of Wilms’ tumor genes J Med Invest;

46:130-40

12 Hokland P, Ommen HB, Mule MP, et al (2015) "Advancing the Minimal Residual Disease Concept in Acute Myeloid

Leukemia" Semin Hematol, 52 (3):184-192

13 Jacobsohn DA, Loken MR, Fei M, et al (2018) "Outcomes of MeasurABL1e Residual Disease in Pediatric Acute Myeloid Leukemia before and after Hematopoietic Stem Cell Transplant: Validation of Difference from Normal Flow Cytometry with Chimerism Studies and Wilms Tumor 1 Gene Expression”

Blood Marrow Transplantt, 24(10):2040-2046

14 Jiang Y, Liu L, Wang J, et al (2017) "The Wilms' tumor gene-1 is

a prognostic factor in myelodysplastic syndrome: A meta analysis, 9(22):16205-16212

15 Koizumi Y, Furuya D, Endo T, et al (2018) "Quantification of Wilms' tumor 1 mRNA by digital polymerase chain reaction"

Int J Hematol, 107(2):230-234

16 Kwon M, Martínez-Laperche C, Infante M, et al (2012) Evaluation of minimal residual disease by real-time quantitative PCR of Wilms’ tumor 1 expression in patients with acute myelogenous leukemia after allogeneic stem cell transplantation: Correlation with flow cytometry and

chimerism Biol Blood Marrow Transplant; 18:1235-42

17 Ostergaard M, Olesen LH, Hasle H, et al (2004) "WT1 gene expression: an excellent tool for monitoring minimal residual disease in 70% of acutemyeloid leukaemia patients - results

from a single-centre study" British Journal of Haematology,

125(5):590-600

18 Petiti J, Rosso V, Lo Iacono M, et al (2018) "Prognostic significance of The Wilms' Tumor-1 (WT1) rs16754

polymorphism in acute myeloid leukemia" Leuk Res, 67:6-11

19 Polák J, Hájková H, Maalaufová-Soukupová J, et al (2012) Estimation of molecular upper remission limit for monitoring minimal residual disease in peripheral blood of

acute myeloid leukemia patients by WT1 expression Exp

Ther Med; 3:129-33

20 Rossi G, Minervini MM, Carella AM, et al (2016) Wilms' Tumor Gene (WT1) Expression and Minimal Residual Disease in Acute Myeloid Leukemia In: van den Heuvel-Eibrink MM (Ed) Wilms Tumor Codon Publications Copyright: The Authors, Brisbane (AU)

Ngày nhận bài báo: 15/05/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 02/07/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm