Xây dựng quy trình kỹ thuật Real time – PCR định lượng gen WT1 trong bệnh bạch cầu cấp dòng tủy. Áp dụng để đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy (BN BCCDT) trước và sau khi điều trị tấn công tại Bệnh viện Truyền máu huyết học thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 1ĐÁNH GIÁ BIỂU HIỆN GEN WT1 TRÊN BỆNH NHÂN
BẠCH CẦU CẤP DÒNG TỦY TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ TẤN CÔNG TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC TP HỒ CHÍ MINH
Phan Thị Thu Lý * , Cao Văn Động ** , Nguyễn quốc Dũng ** , Phan Cao Thanh Thảo ** , Nguyễn Đình
Tuyến ***, Phan Thị Xinh **,**** , Vũ Quang Huy ****,*****,******
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xây dựng quy trình kỹ thuật Real time – PCR định lượng gen WT1 trong bệnh bạch cầu cấp
dòng tủy Áp dụng để đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy (BN BCCDT) trước và sau khi điều trị tấn công tại Bệnh viện Truyền máu huyết học thành phố Hồ Chí Minh
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện trên 20 BN BCCDT tại Bệnh viện Truyền máu
Huyết học thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9/2018 đến tháng 5/2019 Sử dụng phương pháp tạo dòng trong T-Vector để xây dựng đường chuẩn các gen WT1 và ABL Phản ứng Real-time PCR được ứng dụng để định lượng
số bản sao gen WT1 ở bệnh nhân
Kết quả: Xây dựng thành công đường chuẩn gen WT1 và gen ABL1, ứng dụng và thiết lập được điều kiện
tối ưu cho phản ứng Real-time PCR định lượng số bản sao gen WT1 với 1 cặp mồi và đoạn dò đặc hiệu Có 19 trong số 20 bệnh nhân biểu hiện quá mức gen WT1 và 01 bệnh nhân không biểu hiện quá mức Mười hai trong
số 19 bệnh nhân biểu hiện quá mức gen WT1 có đáp ứng ở mức sinh học phân tử sau quá trình điều trị ứng với giảm ≥2-log tỉ số biểu hiện WT1/ABL1
Kết luận: Phản ứng Real-time quantitative PCR được tối ưu hóa có thể sử dụng để đánh giá sự thay đổi
biểu hiện gen WT1 trước và sau quá trình điều trị tấn công ở BN BCCDT
Từ khóa: bạch cầu cấp dòng tủy, biểu hiện gen
ABSTRACT
WILMS TUMOR EXPRESSION EVALUATION IN ACUTE MYELOID LEUKEMIA PATIENT AT PRE-TREATMENT AND POST-PRE-TREATMENT IN BLOOD TRANSFUSION AND HEMATOLOGY
HOSPITAL HO CHI MINH CITY
Phan Thi Thu Ly, Cao Van Dong, Nguyen Quoc Dung, Phan Cao Thanh Thao, Nguyen Dinh Tuyen,
Phan Thi Xinh, Vu Quang Huy
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 214 - 219
Objectives: This study is conducted to implementing technical process of WT1 detection and applicating
technical process on WT1 expression evaluation in acute myeloid leukemia patients at pre-treatment and post-treatment
Methods: Twenty patients in Blood Transfusion and Hematology Hospital Ho Chi Minh city, who had
chronic myeloid leukemia, participated in the real-time quantitative PCR to estimating WT1 and ABL1 concentration change by designing primers and probes based on WT1 and ABL1 gene sequences and the calibration curve was established to determine WT1 and ABL1 concentration
*Khoa Xét nghiệm - Trường Cao Đẳng Y tế Quảng Nam
**Bệnh viện truyền máu Huyết học Thành phố Hồ Chí Minh
***Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ngãi ****Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
*****Bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh ******Trung tâm kiểm chuẩn chất lượng Y học
Tác giả liên lạc: CN Phan Thị Thu Lý ĐT: 0908471459 Email: phanlyxn@gmail.com
Trang 2Results: Standard curve for WT1 and ABL realtime quantitative PCR are meeting quality criteriaion and
apllicated on optimal conditions for WT1 and ABL realtime quantitative PCR using specific probes and primers Twelve of 19 patients, who have WT1 overexpression, meet the molecular biology responses at post-treatment corresponding to ≥ 2-log reduction In which 1 of 20 patients did not overexpress WT1
Conclussions: The real-time quantitative PCR after optimization can be used to evaluate WT1 expression in
acute myeloid leukemia patients at pre-treatment and post-treatment
Keywords: acute myeloid leukaemia, gen expression
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (BCCDT) là
một trong những bệnh ung thư phổ biến trên
thế giới, đặc trưng bởi sự tăng sinh các tế bào
dòng tủy chưa trưởng thành Các bệnh nhân sẽ
được điều trị tấn công sau khi phát hiện bệnh
Tuy nhiên, tỷ lệ tồn lưu tế bào ác tính cao sau
điều trị dẫn đến nguy cơ tái phát cao Vì vậy,
việc tìm ra các dấu ấn cho phép dự đoán tái
phát, đáp ứng điều trị và hướng dẫn can thiệp
điều trị là rất cần thiết Các dấu ấn được sử
dụng để theo dõi điều trị (hay theo dõi bệnh
tồn lưu tối thiểu _ MRD) trong BCCDT chủ yếu
là các bất thường di truyền thường gặp như
PML/RARA, AML1/ETO, CBFB/MYH11 hay
MLL/AF9 Song, đối với những BN không
mang các bất thường di truyền thường gặp cần
có một chỉ dấu sinh học khác để theo dõi hiệu
quả điều trị Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ
ra rằng mức độ biểu hiện gen WT1 thấp hay
cao đi kèm với mức độ lui bệnh hay tái phát
tương ứng(1,17) Do đó, WT1 là một yếu tố tiên
lượng quan trọng và là mục tiêu theo dõi điều
trị trong bệnh BCCDT Gen WT1 là một gen ức
chế khối u, có biểu hiện quá mức trong bệnh
BCCDT, với tỷ lệ lên đến hơn 90% bệnh nhân(1)
Gen WT1 nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc
thể 11, ở người bình thường xuất hiện với tỷ lệ
rất thấp trong tủy xương và không tìm thấy ở
máu ngoại vi(1,17) Đây là gen liên quan đến sinh
bệnh học của bệnh bạch cầu khi ngăn chặn sự
phát triển và biệt hóa của tế bào bằng cách
ngăn chặn sự nhân đôi, nhiều nghiên cứu đã
chỉ ra rằng tiên lượng ở bệnh nhân ung thư
máu liên quan nghịch với biểu hiện của
WT1(3,11) Do đó, sự biểu hiện quá mức của WT1
trong bệnh bạch cầu cấp dòng tủy có thể đại diện cho một dấu ấn độc lập theo dõi MRD Với việc định lượng chính xác số bản sao của gen, Real-time PCR là một giải pháp có độ nhạy cao, chuyên biệt và đáng tin cậy Do đó, chúng tôi đã tiến hành xây dựng đường chuẩn, thiết lập quy trình kỹ thuật, thiết kế đoạn mồi
và dò phù hợp trên gen WT1 và gen ABL để đánh giá biểu hiện của gen WT1 trên bệnh
nhân BCCDT trước và sau khi điều trị tấn công tại bệnh viện Truyền máu Huyết học Thành Phố Hồ Chí Minh
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được chẩn đoán BCCDT và điều trị tấn công theo phác đồ 7 ngày Cytarabine và
3 ngày Daunorubicin tại bệnh viện Truyền máu Huyết học thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả loạt ca
Phương pháp tiến hành
Ly trích RNA, tổng hợp cDNA
Mẫu tủy xương hoặc máu ngoại biên của
20 BN BCCDT được lấy trong chống đông EDTA tại thời điểm bệnh mới được chẩn đoán
và sau điều trị tấn công Thực hiện tách chiết RNA bằng Invitrap Spin Universal RNA Mini Kit theo hướng dẫn của nhà sản xuất cDNA (complement DNA) được tổng hợp từ 1 µg RNA với bộ hóa chất PrimeScript RT Master Mix của TaKaRa cDNA sau đó được pha loãng
về nồng độ 50 ng/ L, làm mẫu cho các phản
ứng tiếp theo
Trang 3Xây dựng đường chuẩn bằng phương pháp tạo
dòng T-vector
Từ trình tự chuẩn mang mã số
NM_001198551.1 gen WT1 trong Genbank,
chúng tôi thiết kế cặp mồi khuếch đại đoạn gen
WT1 từ mẫu cDNA tại vị trí exon 7 đến exon 10
có kích thước 350 bp làm sản phẩm cho quy
trình tạo dòng T-Vectơ Tương tự, chúng tôi
thiết kế 1 cặp mồi khuếch đại cho gen ABL
mang mã số NM_007313.2 Phản ứng PCR
được thực hiện với Phusion Hot Start II
High-Fidelity DNA Polymerase, tiến hành nối vòng
sử dụng T-vector từ bộ kit pGEM®-T Vector
Systems (Promega – Mỹ) với thể tích phản ứng
là 10 µL theo hướng dẫn của nhà sản xuất Hỗn
hợp được ủ 16 – 18 giờ ở 4oC trước khi biến nạp
plasmid T-vector vào tế bào vi khuẩn E.coli khả
nạp (DH5α) bằng phương pháp sốc nhiệt Vi
khuẩn sau biến nạp được nuôi trong môi
trường LB với thời gian 90 phút ở 37oC, lắc nhẹ
Cấy dịch nuôi cấy trên đĩa LB agar có kháng
sinh ampicilin và chọn lọc khóm trắng/xanh
bằng Isopropyl β-D-1-thiogalactopyranoside
(IPTG)/X-gal Ủ đĩa đã cấy ở 37oC qua đêm,
chọn khóm trắng để giải trình tự chuỗi DNA
bằng phương pháp Sanger khẳng định kết quả
tạo dòng, đồng thời nhân sinh khối, thu sản
phẩm tạo dòng Ly trích DNA plasmid bằng
Wizard® Plus SV Minipreps DNA Purification
Systems Kit Tiến hành đo mật độ quang để xác
định nồng độ và độ tinh sạch DNA Số bản sao
gen WT1 và ABL trong mỗi đơn vị thể tích (ký
hiệu C0, đơn vị copies/L) được tính dựa trên
công thức:
Trong đó độ dài mạch bằng tổng độ dài
plasmid (3015 bp) và đoạn gen WT1 (350 bp)
Sau khi xác định được số bản sao DNA,
dãy nồng độ tuyến tính được thiết lập bằng
cách pha loãng để có các nồng độ mong muốn
lần lượt là C2=102, C3=103, C4=104, C5=105 (copies/L)
Thiết lập điều kiện Real-Time PCR Dựa vào trình tự chuỗi của gen ABL mang accession number NM_007313.2 và gen WT1
mang accession number NM_001198551.1 trong GenBank, thiết kế đoạn dò chuyên biệt
gắn huỳnh quang (Bảng 1)
Bảng 1: Các đoạn mồi và probe dùng trong nghiên
cứu (1)
Tên mồi Trình tự chuỗi (5’-3’)
Q.ABL-Probe FAM-GCG CTC TCG CTT TGA TTT
CG-TAMRA
AGC T
CTC A
GAA GCA CAC TG-TAMRA
Phản ứng Real-Time PCR được thiết lập với 2X PrimeTime® Gene Expression Master Mix (Integrated DNA Technologies_Mỹ) theo hướng dẫn của nhà sản xuất Nhiệt độ bắt cặp của mồi, probe được thử nghiệm theo gradient nhiệt độ từ 58oC đến 65oC để tìm ra điều kiện tối ưu nhất cho phản ứng Chương trình cụ thể: biến tính ban đầu ở 95oC trong 5 phút, 50 chu
kỳ tiếp theo với các bước biến tính 95oC trong
10 giây, tổng hợp 30 giây ở nhiệt độ thử nghiệm từ 58oC – 65oC
Đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân BCCDT trước và sau điều trị
Phản ứng Real-time quantitative PCR được thực hiện với các mẫu cDNA của bệnh nhân BCCDT được thu thập ở 2 thời điểm trước và sau khi điều trị tấn công cùng các mẫu nồng độ
chuẩn Biểu hiện gen WT1 được xác định thông
qua tỉ số biểu hiện trình bày ở dạng 100 x
WT1/ABL Sự biểu hiện quá mức WT1 được xác
định trong nghiên cứu này là ≥50 bản sao
WT1/104ABL đối với mẫu máu ngoại biên và
≥250 bản sao WT1/10 4ABL đối với mẫu tủy(1)
Dữ liệu được nhập và phân tích trên phần mềm Excel 2013 Sử dụng trung vị và phạm vi
từ cực tiểu đến cực đại để mô tả tỉ số biểu hiện
Trang 4gen WT1 Tần số và tỉ lệ được sử dụng để mô tả
các trường hợp biểu hiện quá mức gen WT1
KẾT QUẢ
Từ tháng 9/2018 đến tháng 5/2019, chúng
tôi đã ly trích RNA từ 40 mẫu máu hoặc tủy
của bệnh nhân (trước và sau điều trị tấn công)
và tổng hợp cDNA thành công Tất cả các mẫu
đều cho kết quả định lượng bản sao gen ABL
trên 104 copies/L (Bảng 2)
Bảng 2: Bảng tổng hợp bản sao ABL phản ánh chất
lượng mẫu nghiên cứu
Thời điểm
lấy mẫu
Trung bình số bản
sao ABL (copies/uL)
Khoảng bản sao ABL1 (copies/uL)
Sau tấn
Plasmid mang các gen được tạo dòng sau
đó ly trích và giải trình tự để khẳng định tính
chính xác của gen mục tiêu, kiểm tra độ tinh
sạch Kết quả cho thấy sản phẩm đạt độ tinh
sạch cao (Bảng 3) Chúng tôi pha loãng thành
công nồng độ bản sao các gen để có các nồng
độ mong muốn lần lượt là C2=102, C3=103,
C4=104, C5=105, C6=106 (copies/L)
Bảng 3: Kết quả đo mật độ quang các mẫu DNA
plasmid
Mẫu Abs@260 Abs@280 Abs
ratio
Nồng độ (g/ml)
Bảng 4: Phương trình đường chuẩn
Khảo
nghiệm Intercept Slope
PCR efficiency (%)
Standard Deviation R
2
Kết quả thử điều kiện phản ứng Real-time
quantitative PCR với các đường chuẩn là các
nồng độ tuyến tính đã pha cùng các điều kiện
nhiệt độ bắt cặp, tổng hợp chuỗi của mồi và
probe cho thấy nhiệt độ tối ưu cho bắt cặp,
tổng hợp chuỗi của mồi và probe là 60oC trong
30 giây Các đường chuẩn đạt độ tuyến tính
cao với R2>0,99 ở tất cả các khảo nghiệm Khảo
nghiệm cho giá trị slope dao động từ -2,896 đến
-3,388 Hệ số hiệu quả PCR được xác định nằm
trong khoảng 97% đến 103% (Bảng 4)
Đánh giá biểu hiện gen WT1 trên bệnh nhân BCCDT trước và sau điều trị
Mẫu bệnh nhân BCCDT chọn vào nghiên cứu gồm 19 trường hợp được lấy mẫu tủy trước và sau điều trị; 1 trường hợp còn lại được lấy mẫu máu trước điều trị và sau điều trị Trong tổng số 20 bệnh nhân, có 13 nam và 07
nữ, số bệnh nhân dưới 15 tuổi là 05 Trong khi
độ tuổi trung bình là 23,4 ở khoảng tuổi từ 02 –
45 tuổi Kết quả phân tích biểu hiện gen WT1 được mô tả trong (Bảng5)
Bảng 5: Biểu hiện gen WT1 ở bệnh nhân BCCDT
Biểu hiện
gen WT1
Trung bình số bản sao
(copies/uL)
Khoảng bản sao
(copies/uL)
Biểu hiện quá mức
Số ca (tỷ
lệ %)
BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng
kỹ thuật RT-PCR khuếch đại đoạn gen WT1
vùng từ exon 7 đến exon 10 với Phusion Hot Start II High-Fidelity DNA Polymerase là enzyme xúc tác cho phản ứng Đây là một polymerase có độ trung thực cao và có khả năng tạo ra sản phẩm PCR có đầu 3’A overhangs thuận lợi cho ứng dụng tạo dòng trong T-vector Kết quả phân tích giải trình tự trên mẫu khuẩn lạc cho thấy chúng tôi đã tạo
dòng gen WT1 thành công, làm tiền đề rất quan
trọng trong việc xây dựng và thiết lập phản ứng Real-time PCR đường chuẩn định lượng
gen WT1
Ghi nhận từ các thử nghiệm phản ứng Real-time PCR, các thông số của các đường chuẩn thu được cho thấy phản ứng có độ nhạy
và độ tin cậy cao với ngưỡng cut off của WT1 là 40,6 chu kỳ và ABL là 38 chu kỳ trong điều kiện
nhiệt độ bắt cặp mồi và khuếch đại là 60oC Do
đó, chúng tôi chọn điều kiện tối ưu cho phản ứng Real-time PCR đường chuẩn định lượng
gen WT1 như sau: biến tính ban đầu ở 95oC trong 5 phút, 42 chu kỳ tiếp theo với các bước
Trang 5biến tính 95oC trong 10 giây, tổng hợp 30 phút
ở nhiệt độ 60oC
Gen WT1 là một gen ức chế khối u có liên
quan đến Wilms Tumor và các hội chứng liên
quan khác như WAGR và Denys-Drash(2)
Trong tủy xương bình thường, các tế bào tiền
tạo máu biểu hiện gen WT1 rất thấp và giới
hạn Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy có
thể thấy sự tăng biểu hiện của WT1 trong
BCCDT, bạch cầu cấp dòng lympho, hội chứng
loạn sinh tủy và giai đoạn tiến triển của bạch
cầu mạn dòng tủy(5) Đặc biệt, phần lớn bệnh
nhân BCCDT biểu hiện giá trị rất cao của WT1
khi chẩn đoán, việc đánh giá biểu hiện WT1 là
một phương pháp hữu hiệu để theo dõi MRD
sau khi hóa trị hoặc ghép tủy xương hoặc trong
quá trình điều trị(1)
Gen WT1 được biểu hiện ở hơn 90% bệnh
nhân BCCDT trong cả mẫu máu ngoại biên và
mẫu tủy(1) Sự biểu hiện quá mức WT1 được sử
dụng như một dấu ấn định lượng MRD, đặc biệt đối với những bệnh nhân không phát hiện bất thường NST hoặc phân tử (khoảng 50%)(1,19)
Trong nghiên cứu này, kết quả phân tích
cho thấy tại thời điểm chẩn đoán (Bảng 6), có 19
trong số 20 bệnh nhân BCCDT biểu hiện quá
mức gen WT1, chiếm 95% Có 01 bệnh nhân có
tỉ số biểu hiện thấp, bằng 0,6 và được xem như không biểu hiện quá mức Kết quả của chúng tôi tương tự như các nghiên cứu khác Trong một nghiên cứu của Kwon M và các cộng sự năm 2012 cho thấy, hơn 90% bệnh nhân
BCCDT có biểu hiện quá mức gen WT1 Kết quả định lượng gen WT1 trước và sau khi ghép
của bệnh nhân cùng với kết quả chimerism đã được so sánh với kết quả của tế bào dòng chảy
của nhóm tác giả đã chỉ ra rằng biểu hiện WT1
ở bệnh nhân BCCDT có liên quan đến bệnh tồn lưu ác tính(16)
Bảng 6: Biểu hiện gen WT1 theo phân nhóm các tổ hợp gen thường gặp
Bất thường gen/ tổ
hợp gen
Số mẫu (n)
Số bản sao WT1/104ABL (copies/uL)
trước điều trị Trung bình (khoảng)
Số bản sao WT1/104ABL (copies/uL)
sau điều trị Trung bình (khoảng)
Đáp ứng sinh học phân tử (n)
*Trong đó có 01 BN mang đồng thời đột biến FLT3 và tổ hợp gen CBFB-MYH11
Phân nhóm kết quả định lượng gen WT1
(Bảng 6) cho thấy có 12 trong tổng số 20 bệnh
nhân có đáp ứng ở mức sinh học phân tử tương
đương với giảm trên 2-log biểu hiện gen WT1(1),
chiếm 60% Kết quả này phù hợp với các kết quả
theo dõi điều trị dựa trên bất thường các tổ hợp
gen trên mỗi bệnh nhân Cụ thể, trường hợp
bệnh nhân BCCDT thể tiền tủy bào, mang tổ hợp
gen PML/RARA có tiên lượng tốt và cho kết quả
MRD bằng tổ hợp gen âm tính tại thời điểm sau
điều trị tấn công Trong khi đó, kết quả định
lượng gen WT1 tại thời điểm chẩn đoán cho thấy
bệnh nhân biểu hiện quá mức với 146055 bản
sao và tại thời điểm sau tấn công chúng tôi ghi nhận là 232 bản sao Như vậy, bệnh nhân này đã
giảm biểu hiện gen WT1 trên 2-log, được xem
như đạt đáp ứng ở mức sinh học phân tử Trên
01 bệnh nhân khác mang tổ hợp gen MLL/AF9,
kết quả theo dõi điều trị bằng RT-PCR tổ hợp
gen MLL/AF9 cho thấy bệnh nhân không đạt lui
bệnh sau giai đoạn điều trị tấn công Định lượng
số bản sao của bênh nhân này ghi nhận, tại thời điểm chẩn đoán bệnh nhân biểu hiện quá mức
WT1 với 10070 bản sao và sau điều trị tấn công
số bản sao WT1 là 696 bản sao Bệnh nhân này
chưa giảm đạt được đến mức 2-log số bản sao
Trang 6WT1 lúc chẩn đoán (100,7 bản sao), do đó không
đạt lui bệnh ở mức phân tử Điều này phù hợp
với kết quả theo dõi MRD bằng tổ hợp gen
MLL/AF9
Trong mỗi phân nhóm theo bất thường các
tổ hợp gen, các bệnh nhân khác nhau có biểu
hiện gen WT1 khác nhau và đáp ứng điều trị
cũng khác nhau Điều này có thể giải thích do
các bệnh nhân khác nhau, ở mỗi giai đoạn mức
độ tiến triển bệnh khác nhau do đó mức độ biểu
hiện mRNA của gen WT1 cũng khác nhau(8)
KẾT LUẬN
Nghiên cứu xác định 95% bệnh nhân
BCCDT có biểu hiện quá mức gen WT1 tại thời
điểm chẩn đoán Phản ứng real-time PCR đường
chuẩn được tối ưu hóa có thể đánh giá sự thay
đổi biểu hiện gen WT1 trước và sau quá trình
điều trị giúp theo dõi BTLTT ở bệnh nhân bạch
cầu cấp dòng tủy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ayatollahi H, Sadeghian M H, Naderi M, et al (2017)
"Quantitative assessment of Wilms tumor 1 expression by
real-time quantitative polymerase chain reaction in patients with
acute myeloblastic leukemia" J Res Med Sci, 22:54
2 Barragán E, Cervera J, Bolufer P, et al (2004) Prognostic
implications of Wilms ’ tumor gene (WT1) expression in
patients with de novo acute myeloid leukemia Haematologica,
89:926-33
3 Bergmann L, Miething C, Maurer U, et al (1997) High levels of
Wilms’ tumor gene (WT1) mRNA in acute myeloid leukemias
are associated with a worse long-term outcome Blood; 90:1217-25
4 Brieger J, Weidmann E, Maurer U, et al (1995) The Wilms’
tumor gene is frequently expressed in acute myeloblastic
leukemias and may provide a marker for residual blast cells
detectable by PCR Ann Oncol; 6:811-6
5 Candoni A, Tiribelli M, Toffoletti E, et al (2009) Quantitative
assessment of WT1 gene expression after allogeneic stem cell
transplantation is a useful tool for monitoring minimal residual
disease in acute myeloid leukemia Eur J Haematol; 82:61-8
6 Cilloni D, Renneville A, Hermitte F, et al (2009) "Real-time
quantitative polymerase chain reaction detection of minimal
residual disease by standardized WT1 assay to enhance risk
stratification in acute myeloid leukemia: a European
LeukemiaNet study" J Clin Oncol, 27(31):5195-5201
7 Cilloni D, Saglio G (2003) Usefulness of quantitative assessment
of Wilms tumor suppressor gene expression in chronic myeloid
leukemia patients undergoing imatinib therapy Semin Hematol;
40(2):37-41
8 Di Stasi A, Jimenez AM, Minagawa K, et al (2015) Review of the
results of WT1 peptide vaccination strategies for
myelodysplastic syndromes and acute myeloid leukemia from
nine different studies Front Immunol; 6:36
9 Dohner H, Estey EH, Amadori S, et al (2010) "Diagnosis and management of acute myeloid leukemia in adults: recommendations from an international expert panel, on behalf
of the European LeukemiaNet" Blood, 115(3):453-474
10 Grimwade D, Hills RK, Moorman AV, et al (2010) "Refinement
of cytogenetic classification in acute myeloid leukemia: determination of prognostic significance of rare recurring chromosomal abnormalities among 5876 younger adult patients treated in the United Kingdom Medical Research Council trials" Blood, 116 (3):354-365
11 Hirose M (1999), the role of Wilms’ tumor genes J Med Invest;
46:130-40
12 Hokland P, Ommen HB, Mule MP, et al (2015) "Advancing the Minimal Residual Disease Concept in Acute Myeloid
Leukemia" Semin Hematol, 52 (3):184-192
13 Jacobsohn DA, Loken MR, Fei M, et al (2018) "Outcomes of MeasurABL1e Residual Disease in Pediatric Acute Myeloid Leukemia before and after Hematopoietic Stem Cell Transplant: Validation of Difference from Normal Flow Cytometry with Chimerism Studies and Wilms Tumor 1 Gene Expression”
Blood Marrow Transplantt, 24(10):2040-2046
14 Jiang Y, Liu L, Wang J, et al (2017) "The Wilms' tumor gene-1 is
a prognostic factor in myelodysplastic syndrome: A meta analysis, 9(22):16205-16212
15 Koizumi Y, Furuya D, Endo T, et al (2018) "Quantification of Wilms' tumor 1 mRNA by digital polymerase chain reaction"
Int J Hematol, 107(2):230-234
16 Kwon M, Martínez-Laperche C, Infante M, et al (2012) Evaluation of minimal residual disease by real-time quantitative PCR of Wilms’ tumor 1 expression in patients with acute myelogenous leukemia after allogeneic stem cell transplantation: Correlation with flow cytometry and
chimerism Biol Blood Marrow Transplant; 18:1235-42
17 Ostergaard M, Olesen LH, Hasle H, et al (2004) "WT1 gene expression: an excellent tool for monitoring minimal residual disease in 70% of acutemyeloid leukaemia patients - results
from a single-centre study" British Journal of Haematology,
125(5):590-600
18 Petiti J, Rosso V, Lo Iacono M, et al (2018) "Prognostic significance of The Wilms' Tumor-1 (WT1) rs16754
polymorphism in acute myeloid leukemia" Leuk Res, 67:6-11
19 Polák J, Hájková H, Maalaufová-Soukupová J, et al (2012) Estimation of molecular upper remission limit for monitoring minimal residual disease in peripheral blood of
acute myeloid leukemia patients by WT1 expression Exp
Ther Med; 3:129-33
20 Rossi G, Minervini MM, Carella AM, et al (2016) Wilms' Tumor Gene (WT1) Expression and Minimal Residual Disease in Acute Myeloid Leukemia In: van den Heuvel-Eibrink MM (Ed) Wilms Tumor Codon Publications Copyright: The Authors, Brisbane (AU)
Ngày nhận bài báo: 15/05/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 02/07/2019