1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tương quan giữa huyết áp ngoại biên và huyết áp trung tâm ở bệnh nhân tăng huyết áp đang được theo dõi tại phòng khám

6 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 322,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nhằm khảo sát sự khác biệt giữa HA ngoại biên và HA trung tâm trên bệnh nhân (BN) tăng huyết áp (THA) đang được điều trị.

Trang 1

KHẢO SÁT TƯƠNG QUAN GIỮA HUYẾT ÁP NGOẠI BIÊN

VÀ HUYẾT ÁP TRUNG TÂM Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP

ĐANG ĐƯỢC THEO DÕI TẠI PHÒNG KHÁM

Nguyễn Thế Quyền*, Nguyễn Văn Trí*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Huyết áp (HA) động mạch trung tâm đóng vai trò quan trọng tuy nhiên HA trung tâm hiện

vẫn còn mới mẻ và chưa được ứng dụng nhiều trong thực hành lâm sàng do sự phức tạp trong tiếp cận đo đạc Thiết bị Agedio K520 được thiết kế và chuẩn hóa về độ tin cậy trong đo đạc gián tiếp HA trung tâm và vận tốc sóng mạch đã cho thấy có vai trò trong đánh giá về sự cứng mạch trong thực hành lâm sàng

Mục tiêu: Nhằm khảo sát sự khác biệt giữa HA ngoại biên và HA trung tâm trên bệnh nhân (BN) tăng

huyết áp (THA) đang được điều trị

Phương pháp: Cắt ngang, tiến cứu tất cả BN THA đang được điều trị tại phòng khám của 17 bệnh viện và

trung tâm tim mạch trên cả nước

Kết quả: Vận tốc sóng mạch được đo gián tiếp qua thiết bị cho thấy mức độ tương quan rất chặt so với tuổi

(r = 0,897) và trị số vận tốc sóng mạch trung bình ở người cao tuổi cũng cao hơn hẳn so với người trẻ (11 m/giây

so với 7,6 m/giây) Ngay cả khi người cao tuổi kiểm soát tốt HA tâm thu (HATT) ngoại biên (117,2 mmHg) thì HATT trung tâm vẫn chưa đạt mục tiêu điều trị (131,5 mmHg), đặc biệt hơn, vận tốc sóng mạch vẫn ở mức cao (10,8 m/giây) và không có khác biệt nhiều so với nhóm người cao tuổi chưa kiểm soát tốt HA (11,2 m/giây)

Kết luận: Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của HA trung tâm không thể được thay thế bởi HA ngoại biên

trong điều trị THA trên người cao tuổi bởi sự phản ánh không chính xác của HA ngoại biên lên tình trạng cứng mạch – vốn là một yếu tố cốt lõi góp phần không nhỏ trong quá trình sinh bệnh và kết cục lâm sàng trên BN THA cao tuổi Sử dụng thuốc có chứng cứ làm giảm vận tốc sóng mạch và HA trung tâm là một ứng dụng thực tế cho bệnh nhân THA đặc biệt trên người cao tuổi

Từ khóa: THA - Tăng huyết áp HATT - Huyết áp tâm thu HATTr - Huyết áp tâm trương

ABSTRACT

ESTIMATING THE COLLERATION BETWEEN PERIPHERAL BLOOD PRESSURE AND CENTRAL

BLOOD PRESSURE IN HYPERTENSIVE PATIENTS IN HOSPITAL CLINICS

Nguyen The Quyen, Nguyen Van Tri

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 173 - 178

Introduction: Despite playing a crucial role, central arterial blood pressure currently considers as a new

method and is not commonly applied in clinical practice due to difficulties in approach Agedio K520 device which was designed and validated in indirectly measuring central blood pressure and pulse wave velocity demonstrated certain roles in estimating arterial stiffness in clinical application

Aim: Estimating the difference between peripheral blood pressure and central blood pressure in hypertensive

patients currently under treatment

Method: Cross-sectional, prospective study in all hypertensive patients currently under treatment in clinics

* Bộ môn Lão khoa – Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

of 17 hospitals and cardiology centers throughout the country

Results: Pulse wave velocity indirectly measured by the device showed a very high colleration with age (r =

0.897) and the mean pulse wave velocity was significantly higher in the elderly than in the young (11 m/sec versus 7.6 m/sec) Even when peripheral systolic blood pressure of the elderly was in control (117.2 mmHg), their central systolic blood pressure was beyond the target (131.5 mmHg) Especially, their pulse wave velocity was higher than the upper limit normal (10.8 m/sec) and quite equivelent to that of the uncontrolled hypertensive elderly group (11.2 m/sec)

Conclusions: The study emphasized the irreplaceable role of central blood pressure in hypertensive treatment

in the elderly due to the aberrant expression of peripheral blood pressure on the arterial stiffness which was considered one of the core factors in pathogenesis and clinical outcomes of hypertension in the elderly Using drugs which had evidence of decreasing pulse wave velocity and central blood pressure was a practial application

in the elderly with hypertension

Key words: CBP - Central blood pressure PWV - Pulse wave velocity

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong vài năm gần đây, mối quan tâm về

chức năng động mạch đã gia tăng đáng kể bởi

ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy sự thay

đổi chức năng động mạch có liên quan đến gia

tăng nguy cơ tim mạch và sự hình thành của

mảng xơ vữa Điều này đã được ủng hộ bởi Hội

Tăng HA Châu Âu và công nhận rằng sự cứng

thành động mạch nên được xem xét như một

yếu tố nguy cơ tim mạch nếu có thể(3) Vận tốc

sóng mạch là vận tốc lan truyền của sóng áp lực

dọc theo thành động mạch chủ và các động

mạch lớn trong suốt chu chuyển tim Vận tốc

sóng mạch là tiêu chuẩn vàng đánh giá sự cứng

mạch Vận tốc sóng mạch động mạch chủ tiên

lượng biến cố tim mạch ngay cả trên các đối

tượng có nguy cơ trung bình hoặc thấp HA trên

hệ thống động mạch khác nhau do sự khác biệt

của tình trạng cứng mạch và tác động của sóng

phản hồi, hơn nữa, HA trung tâm mới gây tác

động trực tiếp trên cơ quan đích chứ không phải

HA ngoại biên, do đó, HA trung tâm được xem

như một trong những phương pháp gián tiếp

đánh giá sự cứng mạch ngoài đánh giá trực tiếp

bằng vận tốc sóng mạch Chứng cứ ủng hộ HA

trung tâm là một yếu tố dự đoán nguy cơ tim

mạch mạnh hơn HA ngoại biên ngày càng rõ

ràng Nhiều thiết bị đã được phát triển nhằm

đánh giá gián tiếp HA trung tâm và vận tốc sóng

mạch không xâm lấn trong đó Agedio K520 là

một thiết bị đã được chứng minh về độ tin cậy trong đánh giá những thông số này Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm quan sát những khác biệt về HA ngoại biên so với HA trung tâm được đo gián tiếp qua thiết bị trên bệnh nhân tăng HA đang được điều trị

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA kiểm soát được HA ngoại biên đang được điều trị tại

phòng khám

Xác định mối tương quan giữa HA ngoại biên

và HA trung tâm ở nhóm bệnh nhân đã kiểm soát

tốt và chưa kiểm soát tốt HA ngoại biên

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Cắt ngang, tiến cứu

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân THA đang được điều trị tại phòng khám của 17 bệnh viện và trung tâm tim mạch trên cả nước từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2016

Cỡ mẫu nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân THA đang được điều trị tại phòng khám trong suốt thời gian nghiên cứu

KẾT QUẢ

Có tổng cộng 610 bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Tỉ lệ nam nữ có THA là gần như tương đương Về tình trạng kiểm soát HA, nhìn chung

Trang 3

BN trong nghiên cứu kiểm soát tốt HA ngoại

biên cả tâm thu lẫn tâm trương trong khi đó với

mục tiêu 130/90 mmHg thì dân số nghiên cứu

chưa kiểm soát tốt HATT trung tâm Vận tốc

sóng mạch cũng nằm trong giới hạn cho phép (<

10 m/giây) trong nhóm nghiên cứu

Nhìn chung, HATT ở nhóm người cao tuổi

cao hơn HATT ở người trẻ cả về chỉ số ngoại

biên lẫn trung tâm, trong khi HATTr cho điều

thấy ngược lại Người cao tuổi có vận tốc sóng

mạch cao (> 10 m/giây) cho thấy sự cứng mạch

đóng vai trò quan trọng

Bảng 1: Đặc điểm dân số

Bảng 2: Mối tương quan giữa tuổi và vận tốc sóng mạch

Biến số Hệ số tương quan P Mức độ tương quan

Biểu đồ 1: Tương quan giữa tuổi và vận tốc sóng mạch

Vận tốc sóng mạch tương quan chặt với tuổi

tác vì vậy, tuổi càng cao cho thấy vận tốc sóng

mạch cao tương ứng và do đó độ cứng mạch

cũng gia tăng theo tuổi

Bảng 3: So sánh giữa người trẻ và người cao tuổi

Biến số Tuổi < 60

n = 246

Tuổi ≥ 60

n = 364 p

HATT ngoại biên (mmHg)

129,3 ± 20,0 131,5 ± 19,8

< 0,001 HATTr ngoại

biên (mmHg)

94,1 ± 16,4 89,5 ± 14,5

< 0,001 HATT trung

tâm (mmHg)

140,9 ± 22,6 146,1 ± 22,4

< 0,001 HATTr trung

tâm (mmHg)

92,4 ± 16,1 87,7 ± 14,2 < 0,001 Vận tốc sóng

mạch (m/giây)

7,6 ± 1,3 11,0 ± 1,6 <0,001

Bảng 4: So sánh giữa kiểm soát tốt và chưa kiểm soát

tốt HATT ngoại biên

Biến số

HATT ngoại biên

< 140 mmHg

n = 419

HATT ngoại biên

≥ 140 mmHg

n = 191

p

HATT ngoại biên (mmHg)

120,4 ± 13,2 153,1 ± 11,8 < 0,001 HATTr ngoại

biên (mmHg)

85,0 ± 12,0 105,4 ± 12,7 < 0,001 HATT trung

tâm (mmHg)

133,1 ± 16,2

167,9 ± 14,8 < 0,001 HATTr trung

tâm (mmHg)

83,4 ± 11,7

103,2 ± 12,9 < 0,001 Vận tốc sóng

mạch (m/giây)

9,2 ± 2,2

10,6 ± 2,2 < 0,001

Không có sự khác biệt giữa tuổi và giới giữa

2 nhóm kiểm soát tốt và chưa kiểm soát tốt HATT ngoại biên Ở nhóm kiểm soát tốt HATT ngoại biên, vận tốc sóng mạch và HATTr trung tâm cũng được kiểm soát khá tốt tuy nhiên HATT trung tâm và HATTr ngoại biên vẫn chưa kiểm soát tốt

Ngược lại, nếu kiểm soát tốt HATTr ngoại biên thì cho thấy các thông số HA khác như HATT ngoại biên, HATT và HATTr trung tâm đều được kiểm soát tốt

BN chưa kiểm soát tốt HA ngoại biên có xu hướng ở độ tuổi cao hơn BN kiểm soát tốt HA ngoại biên thì cũng kiểm soát tốt HA trung tâm

Trang 4

Dù kiểm soát tốt HA hay không thì vận tốc sóng

mạch vẫn ở ngưỡng cho phép (< 10 m/giây)

Nhóm kiểm soát tốt HA ngoại biên chưa kiểm soát tốt HATT trung tâm cũng như vận tốc sóng mạch

Bảng 5: So sánh giữa kiểm soát tốt và chưa kiểm soát tốt HATTr ngoại biên

Biến số HATTr ngoại biên < 90 mmHg

n = 279

HATTr ngoại biên ≥ 90 mmHg

Bảng 6: So sánh 2 nhóm kiểm soát tốt và chưa kiểm soát tốt HA ngoại biên ở người trẻ

Biến số Tuổi < 60 HA kiểm soát tốt

n = 85

Tuổi < 60 HA không kiểm soát

Bảng 7: So sánh 2 nhóm kiểm soát tốt và chưa kiểm soát tốt HA ngoại biên ở người cao tuổi

Biến số Tuổi ≥ 60 HA kiểm soát tốt

n = 175

Tuổi ≥ 60 HA không kiểm soát n

BÀN LUẬN

Tỷ lệ bệnh nhân THA kiểm soát được HA

ngoại biên

Nghiên cứu chúng tôi thu nhận 610 bệnh

nhân THA đang được điều trị tại phòng khám

Tỷ lệ nam nữ gần như tương đương trong nhóm

nghiên cứu Tuy nhiên, nếu xét ở nhóm người

cao tuổi, tỉ lệ nữ giới cao hơn rõ rệt so với nam

giới (59,9% so với 40,1%) Điều này có thể là do

tuổi thọ của nữ giới cao hơn ở nam giới trong

dân số người cao tuổi

Trong dân số người trẻ, có đến 65,4% BN không kiểm soát tốt HA Con số vẫn không có nhiều thay đổi so với số liệu về THA toàn quốc năm 2015 khi mà báo cáo này công bố rằng có 68,7% BN không kiểm soát tốt HA(2) Điều này cho thấy công tác điều trị và kiểm soát HA trong thực hành lâm sàng vẫn chưa đạt được những cải thiện đáng kể trong những năm qua

Trong nhóm người cao tuổi, tỷ lệ BN không kiểm soát tốt HA có chiều hướng thấp hơn so với người trẻ (51,9%) Điều này có lẽ mục tiêu

HA ở nhóm này đã được nâng lên cao hơn so

Trang 5

với người trẻ (150/90 mmHg ở người cao tuổi và

140/90 mmHg ở người trẻ) Một quan sát tại

Malaysia năm 2015 trên 1107 BN cao tuổi cũng

ghi nhận số liệu tương tự với 51,7% BN không

thể đạt HA mục tiêu(1) Điều này có lẽ do tình

trạng tuân thủ kém hơn ở đối tượng cao tuổi

cũng như khả năng kiểm soát HATT ở nhóm cao

tuổi có vẻ khó khăn hơn do tình trạng cứng

mạch cũng như sự dè dặt của thầy thuốc khi sử

dụng liều cao hay nhiều loại thuốc hạ áp cùng

lúc Chúng ta đều biết rằng, qua thử nghiệm

HYVET(4), điều trị hạ áp đạt mục tiêu trên đối

tượng BN cao tuổi sẽ cải thiện rõ rệt các kết cục

lâm sàng lớn về tim mạch và tử vong Do đó,

việc kiểm soát tốt HA ngoại biên ở người cao

tuổi là thật sự cần thiết và mang lại nhiều lợi ích

Tuy nhiên, ngoài việc đạt mục tiêu, cần chú ý

đến khả năng đáp ứng của người cao tuổi với

mức HA mục tiêu bởi đây cũng chính là những

đối tượng rất nhạy cảm với tình trạng hạ HA

quá mức và nếu có triệu chứng, có thể dẫn đến

những biến cố ngoại ý bất lợi Do đó, kiểm soát

HA ngoại biên trên người cao tuổi ngoài việc cố

gắng đạt mục tiêu điều trị còn cần phải cá thể

hóa từng mục tiêu HA riêng biệt trên từng BN

cụ thể

Mối tương quan giữa HA ngoại biên và HA

trung tâm

Chúng ta đã biết vận tốc sóng mạch là tiêu

chuẩn vàng trong đánh giá sự cứng thành mạch

và trong nghiên cứu của chúng tôi, vận tốc sóng

mạch được đo gián tiếp qua thiết bị cho thấy

mức độ tương quan rất chặt so với tuổi (r = 0,897)

và trị số vận tốc sóng mạch trung bình ở người

cao tuổi cũng cao hơn hẳn so với người trẻ (11

m/giây so với 7,6 m/giây), nghĩa là tuổi càng cao

BN có vận tốc sóng mạch càng lớn đồng nghĩa

với việc thành mạch ngày càng cứng hơn theo

tuổi Điều này được biểu hiện rõ ràng ở việc

HATT ở người cao tuổi cao hơn rõ rệt so với

người trẻ (129 mmHg so với 131 mmHg đối với

HATT ngoại biên và 140 mmHg so với 146

mmHg đối với HATT trung tâm) trong khi đó

HATTr lại không có sự khác biệt đáng kể giữa 2

nhóm tuổi Do đó, sự cứng mạch, biểu hiện qua vận tốc sóng mạch và gián tiếp làm tăng HATT ở

cả trung tâm lẫn ngoại biên là một đặc điểm nổi bật và riêng biệt trong THA ở người cao tuổi Vận tốc sóng mạch trung bình trong nhóm người cao tuổi ở mức cao hơn so với mục tiêu (<

10 m/giây) dù cho có kiểm soát tốt HA ngoại biên hay không chứng tỏ rằng sự cứng mạch luôn hiện diện

Điều này càng thể hiện rõ ràng hơn khi chúng tôi phân tích riêng nhóm trẻ tuổi và cao tuổi Cụ thể, ở người trẻ, khi kiểm soát tốt HA ngoại biên (109,7 mmHg) thì HA trung tâm cũng được kiểm soát tốt (119,7 mmHg) và vận tốc sóng mạch vẫn ở mức rất tốt (6,7 m/giây) Số liệu này cho thấy sự cứng mạch không đóng vai trò

ưu thế trong cơ chế sinh bệnh THA ở người trẻ Tuy nhiên, điều này lại tỏ ra ngược lại hoàn toàn khi xét trên phương diện người cao tuổi Cụ thể,

số liệu của chúng tôi cho thấy, ngay cả khi người cao tuổi kiểm soát tốt HATT ngoại biên (117,2 mmHg) thì HATT trung tâm vẫn chưa đạt mục tiêu điều trị (131,5 mmHg), đặc biệt hơn, vận tốc sóng mạch vẫn ở mức cao (10,8 m/giây) và không có khác biệt nhiều so với nhóm người cao tuổi chưa kiểm soát tốt HA (11,2 m/giây) Do đó, qua những con số này, có thể nhận xét rằng, kiểm soát tốt HA ngoại biên ở người cao tuổi không đồng nghĩa với việc kiểm soát tốt sự cứng mạch và vận tốc sóng mạch và qua đó, nguy cơ tim mạch trên BN THA cao tuổi vẫn giảm không đáng kể bởi chúng ta chỉ mới thay đổi về con số

HA chứ chưa xem xét đến cơ chế sinh bệnh thật

sự Vì vậy, trong điều trị THA trên người cao tuổi, không phải chỉ đơn thuần kiểm soát con số

HA mà đồng thời phải chọn lựa những nhóm thuốc hạ áp có tác động tốt lên sự cứng mạch và vận tốc sóng mạch Đó có lẽ cũng là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về kết cục lâm sàng trong thử nghiệm CAFE khi so sánh 2 nhóm thuốc hạ áp amlodipine + perindopril và atenolol + bendroflumethiazide(5) Hiệu quả và lợi ích lâm sàng sau 6 năm theo dõi nghiêng hẳn về nhóm

sử dụng amlodipine và perindopril bởi 2 loại

Trang 6

thuốc này vốn có tác dụng dãn mạch gây giảm

rõ rệt tình trạng cứng mạch và vận tốc sóng

mạch trong khi đó atenolol gây co mạch còn lợi

tiểu thiazide có tác động trung tính lên thành

mạch Do đó, những tác động có lợi lên sự cứng

mạch và qua đó cải thiện vận tốc sóng mạch đã

tạo nên những khác biệt có lợi đáng kể trong các

kết cục lâm sàng

KẾT LUẬN

Tuy đây mới chỉ là một nghiên cứu quan sát

mở đầu về đánh giá HA trung tâm và vận tốc

sóng mạch qua đó phản ánh tình trạng cứng

mạch nhưng nghiên cứu của chúng tôi cũng đã

thể hiện phần nào vai trò và sự khác biệt khi đo

HA trung tâm và HA ngoại biên trên BN THA

đặc biệt là BN THA cao tuổi Qua đó, nghiên cứu

này nhấn mạnh vai trò của HA trung tâm không

thể được thay thế bởi HA ngoại biên trong điều

trị THA trên người cao tuổi bởi sự phản ánh

không chính xác của HA ngoại biên lên tình

trạng cứng mạch – vốn là một yếu tố cốt lõi góp

phần không nhỏ trong quá trình sinh bệnh và

kết cục lâm sàng trên BN THA cao tuổi Sử dụng

thuốc có chứng cứ làm giảm vận tốc sóng mạch

và HA trung tâm là một ứng dụng thực tế cho bệnh nhân THA đặc biệt trên người cao tuổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cheong AT, et al (2015) “Poor blood pressure control and its associated factors among older people with hypertension: A cross-sectional study in six public primary care clinics in

Malaysia”, Malays Fam Physician, 10(1), pp 19-25

2 Dự án phòng chống Tăng HA (2015), Chương trình mục tiêu quốc gia y tế, Bộ Y tế

management of arterial hypertension: the Task Force for the management of arterial hypertension of the European Society of Hypertension (ESH) and of the European Society of Cardiology

(ESC)”, J Hypertens, 31(7), pp 1281-1357

4 Nigel S, et al (2008) “Treatment of Hypertension in Patients 80

Years of Age or Older”, N Engl J Med, 358, pp 1887-1898

5 Williams B, et al (2006) “Differential impact of blood pressure-lowering drugs on central aortic pressure and clinical outcomes: principal results of the Conduit Artery Function Evaluation

(CAFE) study”, Circulation, 113(9), pp 1213-1225

Ngày nhận bài báo: 24/11/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/3/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm