1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng đặt ống thông mũi – mật trong nhiễm trùng đường mật cấp tính do sỏi ống mật chủ

8 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 335,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá tính khả thi, hiệu quả và an toàn của kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng đặt ống thông mũi mật (ENBD) trong nhiễm trùng đường mật cấp tính do sỏi ống mật chủ.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI MẬT TỤY NGƯỢC DÒNG ĐẶT ỐNG THÔNG MŨI – MẬT (ENBD) TRONG NHIỄM TRÙNG

ĐƯỜNG MẬT CẤP TÍNH DO SỎI ỐNG MẬT CHỦ

Nguyễn Ngọc Tuấn*, Tạ Văn Ngọc Đức*, Nguyễn Văn Hùng*, Nguyễn Khôi*, Trần Quang Trình*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sỏi ống mật chủ có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, khởi đầu là những biến chứng cấp

tính như nhiễm trùng đường mật, viêm mủ đường mật, thấm mật phúc mạc, viêm phúc mạc mật, sốc nhiễm trùng đường mật; đây là những biến chứng nặng gây đe dọa đến tính mạng bệnh nhân

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá tính khả thi, hiệu quả và an toàn của kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng

đặt ống thông mũi mật (ENBD) trong nhiễm trùng đường mật cấp tính do sỏi ống mật chủ

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiền cứu, mô tả hàng loạt ca Thời gian nghiên cứu:

01/2011 đến 12/2013 Đối tượng nghiên cứu: Những bệnh nhân nhiễm trùng đường mật nặng do sỏi ống mật

chủ không đáp ứng với điều trị nội khoa tại khoa HSCC 1 BV Bình Dân có chỉ định giải áp đường mật bằng nội soi mật tụy ngược dòng

Kết quả: Chúng tôi áp dụng kỹ thuật giải áp đường mật bằng nội soi mật tụy ngược dòng (NSMTND) đặt

ống dẫn lưu mũi mật cho 75 bệnh nhân nhiễm trùng đường mật cấp do sỏi ống mật chủ trong thời gian nghiên

cứu Giới tính: có 27 bệnh nhân nam (36%) và 48 bệnh nhân nữ (64%) Tuổi: nhỏ nhất là 23 tuổi, lớn nhất là

93 tuổi, trung bình 58,85 ± 18,92 tuổi Sốc nhiễm trùng đường mật: có 1 bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng, 2 bệnh

nhân dọa sốc nhiễm trùng và 3 bệnh nhân có thể rơi vào dọa sốc nhiễm trùng đường mật Trong 67 bệnh nhân chúng tôi chụp hình được đường mật: 52 bệnh nhân lấy được 1 phần sỏi, đặt ống dẫn lưu mũi mật, sau đó bệnh

nhân được làm NSMTND lần 2 (sau ≥ 3 ngày để lấy hết sỏi mật) Tỉ lệ thành công: Giải áp đường mật thành

công hoàn toàn bằng NSMTND : 52/75 = 69,3% Giải áp đường mật ban đầu thành công bằng NSMTND (11

bệnh nhân sau đó được phẫu thuật lấy sỏi do sỏi to): 63/75 = 84% Tỉ lệ thất bại: do không đặt được guidewire vào đường mật : 8/75 = 10,7%; do bệnh nhân tự ý rút sonde mũi mật : 4/75 = 5,3% Biến chứng: Có 4 bệnh nhân

bị viêm tụy cấp sau NSMTND cấp cứu 3 bệnh nhân viêm tụy cấp mức độ nhẹ, được điều trị nội khoa trong 3 – 5 ngày 1 bệnh nhân bị viêm tụy cấp mức độ vừa, được điều trị nội khoa trong 8 ngày Không có bệnh nhân bị viêm tụy hoại tử trong nghiên cứu này

Kết luận: Nội soi mật tụy ngược dòng có vai trò quan trọng và là phương pháp được chọn để điều trị sỏi ống

mật chủ hiện nay Nhiễm trùng đường mật cấp tính do sỏi ống mật chủ là 1 cấp cứu thường gặp, nội soi mật tụy ngược dòng đặt ống thông mũi mật (ENBD) là phương pháp điều trị nhẹ nhàng, có hiệu quả và độ an toàn cao để dẫn lưu đường mật khi điều trị nội khoa nhiễm trùng đường mật thất bại

Từ khóa: sỏi ống mật chủ, nhiễm trùng đường mật, nội soi mật tụy ngược dòng, ống dẫn lưu mũi-mật

ABSTRACT

EVALUATINS THE EFFICACY OF ENDOSCOPIC NASOBILIARY DRAINAGE (ENBD) IN ACUTE

OBSTRUCTIVE CHOLANSITIS DUE TO COMMON BILE DUCT STONES

Nguyen Ngoc Tuan, Ta Van Ngoc Duc, Nguyen Van Hung, Nguyen Khoi, Tran Quang Trinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 322 - 329

* Khoa Nội soi tiêu hóa, Bệnh viện Bình Dân

Tác giả liên lạc: TS.BS.Nguyễn Ngọc Tuấn ĐT: 0903809279 Email: nguyenngoctuan62@gmail.com

Trang 2

Background: Acute obstructive cholangitis, especially suppurative cholangitis due to common bile duct

stones, is an emergency situation that can cause septic shock with a high mortality and morbidity Biliary drainage is the cornerstone of the treatment of acute cholangitis, which is achieved by means of endoscopic

drainage, percutaneous transhepatic drainage and surgery Aim: the purpose of this study was to evaluate the

usefulness and safety of endoscopic nasobiliary drainage (ENBD) in the treatment of acute cholangitis due to common bile duct stones

Method: Between January, 2011 and December, 2013, 75 patients underwent emergency endoscopic

retrograde cholangiopancreatography (ERCP) to treat acute cholangitis due to common bile duct stones with a nasobiliary catheter

Results: Our study have 75 patients: 27 males (36%) and 48 females (64%) with average ages is 58.85 ±

18.92 We performed successful ERCP for 67/75 patients, 52 patients had opportunity stone extraction and nasobiliary catheter drainage in emergency ERCP After some days, they underwent scheduled ERCP for complete stone extraction, 15 patients had nasobiliary catheter drainage in emergency ERCP because of large stone (>25mm) 11 patients underwent scheduled surgery for stone extraction after some days 4 patients underwent emergency surgery because of accidental removal of nasobiliary catheter when they were confused ENBD successful ratio Complete ENBD and stone extraction : 52/75 = 69.3% Emergency ENBD : 63/75 = 84% ENBD unsuccessful ratio Unsuccessful cannulation of the common bile duct: 8/75 = 10.7 % Accidental removal of nasobiliary catheter: 4/75 = 5.3 % Complication: 3 patients had mild acute pancreatitis and 1 patient had moderate acute pancreatitis

Conclusions: ERCP have an important role in treatment of common bile duct stones ENBD is an effective,

safety treatment for patients with acute obstructive cholangitis due to common bile duct stones

Key words: acute obstructive cholangitis, retrograde cholangiopancreatography(ERCP), nasobiliary

catheter, common bile duct stones

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tắc mật do sỏi đường mật là bệnh lý ngoại

khoa rất phổ biến ở nước ta, trong đó đa số là

sỏi ở ống mật chủ - ống gan chung, có thể kèm

theo sỏi đường mật trong gan(8,9) Sỏi đường

mật hay gặp nhất là sỏi ống mật chủ có thể

gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, khởi đầu

là những biến chứng cấp tính như nhiễm

trùng đường mật, viêm mủ đường mật, viêm

phúc mạc mật, sốc nhiễm trùng đường mật,

chảy máu đường mật; đây là những biến

chứng nặng gây đe dọa đến tính mạng bệnh

nhân(8) Nhiễm trùng đường mật do sỏi ống

mật chủ là 1 cấp cứu ngoại khoa thường gặp

tại BV Bình Dân

Nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP –

Endoscopic Retrograde Cholangio

Pancreatography) được áp dụng đầu tiên tại

BV Bình Dân vào năm 1993 và đã điều trị

thành công nhiều bệnh lý đường mật(9) Kỹ thuật lấy sỏi đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng đã góp phần điều trị thành công bệnh lý sỏi đường mật, giúp bệnh nhân tránh được cuộc phẫu thuật để lấy sỏi và hồi phục sức khoẻ nhanh,trở lại làm việc, sinh hoạt bình thường trong thời gian rất ngắn(1,2,5) Đặc biệt, đối với những bệnh nhân nhiễm trùng đường mật nặng kèm bệnh lý nội khoa khác gây nhiều khó khăn cho phẫu thuật thì phương pháp giải áp đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng sẽ là lựa chọn điều trị hiệu quả và nhẹ nhàng cho bệnh nhân(1,2,3,4,6,10)

Tại BV Bình Dân trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của nội soi mật tụy ngược dòng trong bệnh lý sỏi đường mật nhưng chưa có công trình nào đánh giá hiệu quả của phương pháp này trong cấp cứu trên những bệnh nhân nhiễm trùng đường

Trang 3

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tính khả thi, hiệu quả và an toàn

của kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng đặt

ống thông mũi mật (Endoscopic NasoBiliary

Drainage – ENBD) trong nhiễm trùng đường

mật cấp tính do sỏi ống mật chủ

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả các trường hợp

Thời gian nghiên cứu

Từ 01/2011 đến 12/2013

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân nhiễm trùng đường mật

nặng do sỏi ống mật chủ không đáp ứng với

điều trị nội khoa tại khoa HSCC 1 BV Bình

Dân có chỉ định giải áp đường mật bằng nội

soi mật tụy ngược dòng (NSMTND)

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Triệu chứng lâm sàng: tam chứng Charcot

(đau hạ sườn P, sốt, vàng da)

Cận lâm sàng: các xét nghiệm huyết học,

sinh hoá và hình ảnh cho thấy có dấu hiệu

nhiễm trùng đường mật do sỏi ống mật chủ -

sỏi ống gan chung (SA, CT scans, MRCP)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân đã được cắt bán phần dạ dày,có

hẹp môn vị, hẹp tá tràng D1 – D2

Bệnh nhân có tình trạng viêm phúc mạc,

viêm túi mật hoại tử kèm theo, hôn mê

Vật liệu

Hệ thống máy nội soi tá tràng ống kính ở

mặt bên

Tác dụng cụ thông vào đường mật: dây

dẫn (guidewire), dây cắt cơ vòng, rọ tán sỏi cơ

học (Basket Mechanical Lithotripsy), rọ lấy sỏi

thông thường (Dormia)

Ống dẫn lưu mũi – mật Wilson – Cook (dài

2400mm, đường kính 7 Fr, có 5 lỗ quanh đầu

ống dẫn lưu)

Máy XQ có màn tăng sáng (C- arm), máy cắt đốt điện

Phương pháp thực hiện

Bệnh nhân được thực hiện NSMTND tại phòng mổ với 2 ê kíp

Ê kíp nội soi: 1 Bác Sĩ và 2 kỹ thuật viên khoa Nội Soi Tiêu Hóa

Ê kíp gây mê: 1 Bác Sĩ và 1 kỹ thuật viên khoa Gây Mê Hồi Sức

Kỹ thuật viên X – Quang vận hành máy C – arm

Tiêu chuẩn thành công

Về mặt kỹ thuật

Thông được catheter vào ống mật chủ, có thể cắt cơ vòng Oddi, đặt được ống thông mũi

- mật lên cao trên chỗ tắc mật do sỏi để giải áp đường mật và ống dẫn lưu ra mật hằng ngày trong thời gian hậu phẫu

Về mặt triệu chứng lâm sàng

Bệnh nhân giảm sốt, mạch giảm, huyết áp tăng so với trước khi làm NSMTND (ở ngày hậu phẫu 1)

Về mặt cận lâm sàng

Số lượng Bạch Cầu trong máu,Bilirubin máu đều giảm so với trước khi làm NSMTND (ở ngày hậu phẫu 1)

Theo dõi bệnh nhân:

Bệnh nhân sau khi được giải áp đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng sẽ được hồi sức và điều trị ổn tình trạng nhiễm trùng, chuẩn bị cho lần điều trị triệt để như lấy hết sỏi đường mật qua nội soi mật tụy ngược dòng hay qua phẫu thuật mở/ nội soi ổ bụng

Theo dõi ống thông mũi - mật

Số lượng và màu sắc dịch mật, có bị nghẹt ống hay không? Nếu có nghẹt ống thì bơm rửa nhẹ bằng nước ấm để thông ống dẫn lưu mũi mật lại

Trang 4

KẾT QUẢ

Đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu

Giới tính- tuổi

Có 75 bệnh nhân trong nghiên cứu

Giới tính: 27 bệnh nhân nam (36%) và 48

bệnh nhân nữ (64%)

Tuổi: nhỏ nhất là 23 tuổi, lớn nhất là 93

tuổi, trung bình 58,85 ± 18,92 tuổi

Bảng 1: Bảng phân bố độ tuổi và giới trong nghiên

cứu

Tiền căn phẫu thuật đường mật:

Bảng 2: Tỉ lệ tiền căn phẫu thuật đường mật

Tiền căn phẫu thuật Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Mở OMC lấy sỏi ± cắt túi mật 20 26,7

Mở OMC lấy sỏi + ERCP lấy sỏi

tái phát sau đó

Chỉ được làm ERCP lấy sỏi 7 9,3

Bảng 3: Bảng phân bố số bệnh nhân với số lần phẫu

thuật đường mật và số lần ERCP lấy sỏi

Số lần ERCP lấy sỏi Tổng số

bệnh nhân

0 1 2 3 4

Số lần

phẫu

thuật

đường

mật

Qua 2 bảng trên, chúng tôi có 34 bệnh

nhân chưa được làm phẫu thuật hay ERCP

mật do sỏi túi mật đơn thuần Như vậy, còn 32 bệnh nhân đã được làm phẫu thuật hay ERCP lấy sỏi đường mật, tỉ lệ bệnh nhân có sỏi đường mật tái phát trong nghiên cứu của chúng tôi là 32/75 = 42,66 %

Tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện

Tri giác

Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đều còn tỉnh táo khi nhập viện, không bị lơ mơ hay hôn mê

Huyết áp

Thấp nhất 70 mmHg, cao nhất 170 mmHg, trung bình 118,4 ± 17,2 mmHg

Bảng 4: Huyết áp bệnh nhân lúc nhập viện

Huyết áp lúc nhập viện Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Như vậy, có 1 bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng, 2 bệnh nhân dọa sốc nhiễm trùng và 3 bệnh nhân có thể rơi vào dọa sốc nhiễm trùng đường mật

Nhiệt độ:

Bảng 5: Nhiệt độ bệnh nhân lúc nhập viện

Nhiệt độ lúc nhập viện Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Vàng da

Có 46 bệnh nhân vàng da – vàng mắt, 12 bệnh nhân chỉ bị vàng mắt không vàng da, 17 bệnh nhân không vàng da không vàng mắt Kháng sinh điều trị nhiễm trùng đường mật lúc nhập viện

Bảng 6: Kháng sinh điều trị lúc nhập viện

Kháng sinh điều trị lúc nhập viện Số bệnh

nhân

Tỉ lệ %

Trang 5

Kháng sinh điều trị lúc nhập viện Số bệnh

nhân

Tỉ lệ %

Cephalosporin III + Metronidazole 26 34,7 %

Thời gian điều trị hồi sức nội khoa trước khi

làm NSMTND: nhanh nhất là 02 giờ, lâu nhất 72

giờ, trung bình 12,45 ± 11,7 giờ

Bảng 7: Thời gian điều trị nội khoa trước khi

NSMTND

Thời gian điều tri nội khoa

trước NSMTND

Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Kết quả NSMTND giải áp đường mật

Đặt được thông catheter vào đường mật và

chụp hình đường mật

Chúng tôi đặt được guidewire, thông

catheter vào đường mật và chụp hình đường

mật ở 67 bệnh nhân, còn 8 bệnh nhân không đặt

được guidewire do dị dạng vùng nhú Vater (nhú

Vater nằm trong túi thừa tá tràng D2 lớn, nhú

Vater nằm lệch vị trí so với camera ống soi, xơ

hẹp nhú Vater)

NSMTND lấy được sỏi và đặt ống thông mũi-

mật

Trong 67 bệnh nhân chúng tôi thông được

catheter vào đường mật:

52 bệnh nhân lấy được 1 phần sỏi, đặt ống

thông mũi - mật, sau đó bệnh nhân được làm

NSMTND lần 2 (sau ≥ 3 ngày để lấy hết sỏi mật)

Trong đó có 2 bệnh nhân phải làm NSMTND lần

3 mới lấy hết sỏi

15 bệnh nhân có sỏi ống mật chủ - ống gan

chung lớn (> 25mm) hoặc vừa có sỏi lớn vừa

nhiều sỏi không tán sỏi qua NSMTND được

chúng tôi thoát lưu dịch mật nhiễm trùng, và

đặt ống thông mũi - mật giải áp đường mật

Tuy nhiên, có 4 bệnh nhân tự ý rút ống thông mũi - mật nên được phẫu thuật khẩn sau 2 – 6 giờ

11 bệnh nhân còn lại được phẫu thuật lấy sỏi, đặt ống dẫn lưu kehr sau 24 giờ làm NSMTND

Tình trạng bệnh nhân sau làm NSMTND đặt ống thông mũi - mật ở ngày hậu phẫu 1

Nhiệt độ:

Bảng 8: Nhiệt độ bệnh nhân sau NSMTND

Nhiệt độ sau NSMTND Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Dùng phép kiểm chi bình phương ( 2 test)

so sánh nhiệt độ bệnh nhân trước và sau khi làm NSMTND, kết quả p < 0,001, như vậy sự khác biệt về nhiệt độ bệnh nhân trước và sau NSMTND có ý nghĩa thống kê, NSMTND dẫn lưu mũi - mật làm giảm nhiệt độ bệnh nhân hiệu quả

Dịch mật qua ống thông mũi mật

Ít nhất 50 ml, nhiều nhất 150 ml, trung bình 97,6 ± 23 ml

Mạch

Chậm nhất 78 lần/ phút, nhanh nhất 140 lần/ phút, trung bình 88,2 ± 9,6 lần / phút

Huyết áp tâm thu

Thấp nhất 90 mmHg, cao nhất 160 mmHg, trung bình 116,8 ± 11,7 mmHg

Bạch cầu trong máu

Thấp nhất 4970/mm3, cao nhất 28500/mm3, trung bình 11640 ± 4357,5/mm3

Bilirubin trong máu toàn phần

Thấp nhất 4,7 µmol/dl, cao nhất 223 µmol/dl, trung bình 56,7 ± 47,1 µmol/dl

Bilirubin trực tiếp trong máu

Thấp nhất 4 µmol/dl, cao nhất 156 µmol/dl, trung bình 39,1 ± 36 µmol/dl

Trang 6

So sánh với tình trạng bệnh nhân trước

NSMTND, dùng phép kiểm T – test chúng tôi có

kết quả sau

Bảng 9: So sánh tình trạng bệnh nhân trước và sau

NSMTND

Tình trạng bệnh

nhân

Trước NSMTND

Sau NSMTND P

Mạch 97,3 ± 11,2 88,2 ± 9,6 < 0,001

Huyết áp 117,5 ± 16,9 116,8 ± 11,7 0,748

Bạch cầu 16343 ± 5866,8 11623 ± 435,5 < 0,001

BilirubinTP 90,4 ± 67,7 56,7 ± 47,1 < 0,001

BilirubinTT 69,1 ± 57,1 39,1 ± 36 < 0,001

Sự khác biệt về huyết áp tâm thu bệnh nhân

trước và sau NSMTND không có ý nghĩa thống

kê là do trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 1

bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng (huyết áp < 80

mmHg) và 2 bệnh nhân dọa sốc nhiễm trùng

(huyết áp 80 – 90 mmHg), nên sự khác biệt về

huyết áp trước và sau NSMTND không đáng kể

Sự khác biệt giữa mạch, bạch cầu, bilirubin

toàn phần – trực tiếp trong máu bệnh nhân trước

và sau NSMTND có ý nghĩa thống kê

Điều trị cho những bệnh nhân không làm

NSMTND được

8 bệnh nhân chúng tôi không đặt ống thông

vào đường mật được phẩu thuật mở ống mật

chủ lấy sỏi và dẫn lưu Kehr, nhanh nhất là 01 giờ

sau NSMTND, chậm nhất là 06 giờ sau

NSMTND Nhờ phẫu thuật kịp thời và hồi sức

tích cực nên bệnh nhân hồi phục, không có

trường hợp nào tử vong

Biến chứng

Có 4 bệnh nhân bị viêm tụy cấp sau

NSMTND cấp cứu, tỉ lệ 5.33%

3 bệnh nhân viêm tụy cấp mức độ nhẹ, được

điều trị nội khoa trong 3 – 5 ngày

1 bệnh nhân bị viêm tụy cấp mức độ vừa,

được điều trị nội khoa trong 8 ngày

Không có bệnh nhân bị viêm tụy hoại tử hay

BÀN LUẬN Đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu

Cũng như các nghiên cứu về bệnh sỏi mật của các tác giả trong và ngoài nước, các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có các đặc điểm gần tương tự(3,4,5,6,7,8,9,10)

Số bệnh nhân nữ chiếm đa số (64%), gần gấp đôi số bệnh nhân nam (36%)

Độ tuổi thường gặp là trên 50 tuổi (64%), còn nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi là 50,67%, ngoài ra

có 2 bệnh nhân trên 90 tuổi

Tỉ lệ sỏi đường mật tái phát trong nghiên cứu của chúng tôi ở mức độ cao 42,66%, nhiều hơn một chút so với tỉ lệ sỏi đường mật tái phát chung của nước ta là 20 – 40 %, có lẽ do nghiên cứu của chúng tôi còn ít bệnh nhân

Kết quả thực hiện

Tình trạng bệnh nhân khi thực hiện NSMTND

Chúng tôi có 1 bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng, 2 bệnh nhân dọa sốc nhiễm trùng và 3 bệnh nhân có thể rơi vào dọa sốc nhiễm trùng đường mật Nếu tính cả 6 bệnh nhân này thuộc nhóm sốc và dọa sốc nhiễm trùng chiếm tỉ lệ 8%

So với các nghiên cứu của các tác giả Gul Javid,

Ru – ling Zhang, M.K Goenka(3,4,10), tỉ lệ này từ 10 – 20 %

Ngày nay, nhờ sự tiến bộ về kỹ thuật gây mê – hồi sức trước trong và sau khi phẫu thuật kết hợp với dùng kháng sinh mạnh theo phương pháp “xuống thang” ngay từ đầu, việc phẫu thuật hay NSMTND điều trị cho những bệnh nhân sốc nhiễm trùng đường mật có thể tiến hành khẩn ngay, không cần phải trì hoãn 1 thời gian hồi sức tích cực nội khoa như trước đây nữa, nên tỉ lệ tử vong do sốc nhiễm trùng đường mật đã giảm đi rất nhiều(2,5,6,8)

Thời gian điều trị nội khoa trước khi làm NSMTND

Chúng tôi tiến hành NSMTND khẩn cho 2 bệnh nhân sốc – dọa sốc nhiễm trùng đường mật sau khi nhập viện 2 giờ và 29 bệnh nhân (38,7%)

Trang 7

Theo Tokyo Guidelines(6), các tác giả Nhật Bản

khuyến cáo nên thực hiện NSMTND giải áp

đường mật càng sớm càng tốt cho những trường

hợp nhiễm trùng đường mật nặng trong vòng 6

giờ sau khi nhập viện, chậm nhất là 12 giờ Còn

đối với những trường hợp nhiễm trùng đường

mật mức độ vừa thì khuyến cáo được đưa ra là

nên can thiệp trong vòng 24 giờ sau khi nhập

viện, tốt nhất là quanh khoảng 12 giờ

Theo nhận xét của chúng tôi trong mẫu

nghiên cứu, những bệnh nhân nhiễm trùng

đường mật với vàng da vàng mắt rõ và sốt

quanh 39oC thì nên can thiệp NSMTND sớm

trong vòng 6 giờ vì thường điều trị kháng sinh

không hiệu quả

Đặt được thông catheter vào đường mật

67/75 bệnh nhân được chúng tôi đặt được

guidewire, thông catheter vào đường mật, tỉ lệ

89,3% 8 bệnh nhân không đặt guidewire vào

đường mật được do dị dạng vùng nhú Vater

(nhú Vater nằm trong túi thừa tá tràng D2 lớn,

nhú Vater nằm lệch vị trí so với camera ống soi,

xơ cứng nhú Vater) Tỉ lệ thành công tương

đương với các tác giả ở Ấn Độ, Trung Quốc,

Hồng Công, Nhật Bản khoảng 90%(2,3,6,7,10)

NSMTND giải áp đường mật

67 bệnh nhân được đặt guidewire và chụp

hình đường mật, chúng tôi lấy được 1 phần sỏi

mật, thoát lưu được dịch mật nhiễm trùng, bơm

rửa nhẹ đường mật sạch mủ mật (25 bệnh nhân

có mủ mật) và đặt ống thông mũi - mật giải áp

52 bệnh nhân được điều trị thành công bằng

NSMTND lần thứ 2, thứ 3 lấy sỏi còn lại sau ≥ 3

ngày Cũng như các tác giả khác trên thế

giới(1,2,3,4,6,10), chúng tôi không cố gắng lấy hết sỏi

mật trong khi NSMTND cấp cứu, chỉ lấy phần

sỏi ở đoạn cuối ống mật chủ, làm thông thoáng

đoạn 1/3 dưới ống mật chủ - Oddi để dịch mật có

thể tự thoát xuống tá tràng hay thoát qua ống

thông mũi - mật Rút ngắn thời gian NSMTND

cấp cứu, thuốc gây mê được sử dụng với liều

lượng ít Bệnh nhân được hồi sức tích cực sau

NSMTND cấp cứu, điều trị ổn định các bệnh nội

khoa kèm theo và chuẩn bị kỹ để được thực hiện NSMTND lần 2, lần 3 sau đó nhằm lấy hết sỏi đường mật

11 bệnh nhân có sỏi ống mật chủ - ống gan chung lớn (> 25mm) hoặc vừa có sỏi lớn vừa nhiều sỏi không tán sỏi qua NSMTND, được chúng tôi thoát lưu dịch mật nhiễm trùng và đặt ống dẫn lưu mũi mật Những bệnh nhân này đều cải thiện được triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như bớt sốt, mạch giảm, bạch cầu - bilirubin trong máu giảm Sau đó, những bệnh nhân này được phẫu thuật lấy sỏi đường mật và dẫn lưu Kehr Theo Tokyo Guidelines(6), các tác giả khuyến cáo không nên cố gắng tán sỏi hay lấy những viên sỏi lớn trong những trường hợp bệnh nhân nhiễm trùng đường mật nặng mà chỉ cần làm sạch đường mật, thoát lưu hết mủ mật,

có thể cắt cơ vòng Oddi để dịch mật thoát xuống

tá tràng tốt hơn, rút ngắn thời gian làm NSMTND càng sớm càng tốt Khi bệnh nhân ổn định, có thể hội chẩn để quyết định phương pháp điều trị tối ưu cho những bệnh nhân có sỏi đường mật lớn này như tán sỏi qua ống nội soi con (baby scope)(7), lấy sỏi qua da, phẫu thuật lấy sỏi (mở hay nội soi)

Tại Bệnh Viện Bình Dân, chúng tôi thường dẫn lưu giải áp đường mật đối với bệnh lý nhiễm trùng đường mật do sỏi bằng đặt ống dẫn lưu mũi mật (Endoscopic NasoBiliary Drainage - ENBD) hơn là đặt stent nhựa (Endoscopic Retrograde Biliary Drainage – ERBD) vì:

Ưu điểm của dẫn lưu mũi mật

Theo dõi lượng mật dẫn lưu ra được, ghi nhận tính chất dịch mật

Cấy dịch mật tìm vi khuẩn gây bệnh, làm kháng sinh đồ

Bơm rửa đường mật, bơm rửa ống dẫn lưu mũi mật, tránh tắc nghẽn ống dẫn lưu

Nhược điểm của stent nhựa:

Tuột stent vào tá tràng, stent di lệch và trôi hẳn lên ống mật chủ

Nếu stent bị nghẹt thì không bơm rửa thông

Trang 8

stent được

Những bệnh nhân được đặt stent nhựa mà ở

các tỉnh ở xa hay quên tái khám theo hẹn để rút

stent, nếu thời gian trên 2 tháng thì stent nhựa sẽ

là tác nhân gây tạo sỏi trong lòng ống mật chủ

gây ra tắc mật tái phát

Tránh những trường hợp bệnh nhân muốn

được xuất viện sau khi hết tình trạng nhiễm

trùng đường mật do được đặt stent nhựa giải

áp trong cấp cứu nhưng vẫn còn sỏi trong ống

mật chủ

Hiện nay trên thế giới, các tác giả vẫn còn

tranh luận nên dùng kỹ thuật nào để dẫn lưu

giải áp đường mật cho những trường hợp nhiễm

trùng đường mật nặng(2,3,4,6,10) Theo Tokyo

Guidelines(6), các tác giả đưa ra những quan

điểm đồng thuận rằng:

Dùng kỹ thuật ENBD hay ERBD tùy thuộc

vào kỹ năng của người thực hiện NSMTND,

quan trọng là phải chắc chắn rằng sẽ dẫn lưu

đường mật hiệu quả

Một số tác giả vừa đặt stent nhựa vừa đặt

ống dẫn lưu mũi – mật nhưng chúng tôi cho

rằng cách này tốn nhiều thời gian trong khi

tình trạng bệnh nhân nặng, cần phải kết thúc

thủ thuật sớm

KẾT LUẬN

Nội soi mật tụy ngược dòng có vai trò quan

trọng và là phương pháp được chọn để điều trị

sỏi ống mật chủ hiện nay

Nhiễm trùng đường mật cấp tính do sỏi ống

mật chủ là 1 cấp cứu thường gặp, nội soi mật tụy

ngược dòng đặt ống thông mũi - mật (ENBD) là

phương pháp điều trị nhẹ nhàng, có hiệu quả và

độ an toàn cao để dẫn lưu đường mật khi điều

trị nội khoa nhiễm trùng đường mật thất bại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Early ERCP for gallstone pancreatitis: for whom and when?, Journal of Gastrointestinal Surgery, Vol 12, pp 629 – 633

Endoscopy: ERCP, Blackwell Publishing Ltd, first published

Das K, Singh K (1997): Endoscopic Nasobiliary Drainage

in the Management of Acute Cholangitis: An Experience

in 143 Patients, Diagnostic and Therapeutic Endoscopy, Vol 3, pp 161 – 170

Surgery versus Endoscopic Nasobiliary Drainge for Acute

Choledocholithiasis – A Prospective Randomized Trial, Journal of Digestive Endoscopy, vol 1: pp 8 – 13

in very elderly: Outcomes among patients older than eighty, Digestive Disease Science, Vol 10, pp 784 – 788

Y et al (2007): Methods and timing of biliary drainage for acute cholangitis: Tokyo Guidelines, J Hepatobiliary Pancreat Surg, 14 : 68 – 77

Endoscopic Sphincterotomy and mechanical basket lithotripsy for management of difficult common bile duct stones, Journal Hepato- Biliary – Pancreatology Surgery, 4:

pp 5 – 10

và điều trị bệnh sỏi mật, tạp chí ngoại khoa – hội nghị ngoại khoa quốc gia Việt Nam lần thứ XII, Huế 9 – 10/5/2002, trang 5 – 19

(1998): Nội soi mật tụy ngược dòng và cắt cơ vòng Oddi

để lấy sỏi sót đường mật sau mổ, Sinh hoạt khoa học kỹ thuật Bệnh viện Bình Dân số 9: trang 130 – 137

(2013): Comparision of the safety and effectiveness of endoscopic biliary decompression by nasobiliary catheter and plastic stent placement in acute obstructive cholangitis, Swiss Medical Weekly, 143: w13823

Ngày nhận bài báo: 20/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/12/2015 Ngày bài báo được đăng: 22/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w