1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố liên quan đến truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1

7 106 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 343,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trẻ sơ sinh non tháng có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ dễ bị thiếu máu, số trẻ cần truyền máu chiếm tỉ lệ cao. Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu nhập viện Bệnh viện Nhi đồng 1.

Trang 1

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TRUYỀN MÁU

Ở TRẺ SƠ SINH NON THÁNG TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Nguyễn Thị Minh Tâm * , Nguyễn Thanh Hùng * , Lâm Thị Mỹ **

TÓM TẮT

Giới thiệu: Trẻ sơ sinh non tháng có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ dễ bị thiếu máu, số trẻ cần truyền

máu chiếm tỉ lệ cao

Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu nhập viện Bệnh

viện Nhi đồng 1

Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang Trẻ sơ sinh non tháng có thiếu máu nhập khoa Sơ sinh và Hồi

sức sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng 1 từ tháng 7/2015 đến tháng 3/2016 được phân thành 2 nhóm có truyền máu và không truyền máu

Kết quả: Tổng cộng có 204 (58,9%) trẻ sơ sinh non tháng bị thiếu máu Nhóm truyền máu có 161 trẻ

(79%), nhóm không truyền máu có 43 trẻ (21%) Các yếu tố liên quan truyền máu qua phân tích hồi qui Logistic đơn biến và đa biến gồm: Tuổi thai < 32 tuần (OR = 3,07; KTC 95%: 1,13-8,32; P = 0,02); CNLS < 1500g (OR = 2,84; KTC 95%: 1,08-7,50; P = 0,03); Suy hô hấp (OR = 2,42; KTC 95%: 1,03-5,72; P = 0,04); Thời gian nằm viện > 28 ngày (OR = 5,9; KTC 95%: 2,45-14,20; P < 0,001)

Kết luận: Ở những trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu có tuổi thai < 32 tuần, cân nặng lúc sinh < 1500g, suy

hô hấp, thời gian nằm viện > 28 ngày có khả năng truyền máu cao hơn

Từ khóa: Sinh non, thiếu máu, truyền hồng cầu lắng, các yếu tố liên quan

ABSTRACT

FACTORS ASSOCIATED WITH RED BLOOD CELL TRANSFUSIONS IN PRETERM INFANTS

IN CHILDREN'S HOSPITAL 1

Nguyen Thi Minh Tam, Nguyen Thanh Hung, Lam Thi My

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 3 - 2017: 137 - 143

Background: Preterm infants are at greater risk of developing anemia and need a red blood transfusion with

high percentage

Objective: Determine factors associated with red blood cell transfusions in preterm infants in

Children's Hospital 1

Methods: Cross-sectional study Preterm infants whose gestational age is < 37 weeks and who were

hospitalized in Neonatal and Neonatal Intensive Care Units department in Children's Hospital 1 from July 2015

to March 2016 was analyzed

Results: A total of 204 (58.9%) preterm infants with anemia, a group of 161 (79%) transfused preterm

infants and a group of 43 non-transfused Factors significantly associated with red blood cell transfusions were evaluated using univariate and multiple logistic regression analysis including gestational age <32 weeks (OR = 3.07; 95% CI 1.13 to 8.32; P = 0.02); CNLS <1500 g (OR = 2.84; 95% CI 1.08 to 7.50; P = 0.03); Respiratory failure (OR = 2.42; 95% CI 1.03 to 5.72; P = 0.04); > 28 days of hospitalization (OR = 5.9; 95% CI 2.45 to 14.20; P <0.001)

* Bệnh viện Nhi đồng 1 ** Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

Conclusions: Preterm infants whose gestational age is < 32 weeks, birth weight <1500g, respiratory failure,

length of hospital stay> 28 days with anemia, were significantly associated with the indication for red blood cell transfusions in preterm newborns

Keywords: Preterm infants, Anemia, Red blood cell transfusion, Risk factors

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trẻ sơ sinh non tháng có nhiều yếu tố nguy

cơ dẫn đến trẻ dễ bị thiếu máu, số trẻ cần truyền

máu chiếm tỉ lệ cao Năm 2007, theo tác giả

Nguyễn Thị Hoài Hương và cộng sự(10), tỉ lệ

truyền máu ở trẻ cân nặng lúc sinh < 1500g nhập

viện tại Bệnh viện Từ Dũ là 42,2% Năm 2015,

theo nghiên cứu của tác giả Lê Nguyễn Nhật

Trung(7), tỉ lệ truyền hồng cầu lắng ở trẻ sinh non

có tuổi thai từ 26-34 tuần nhập viện tại Bệnh viện

Nhi đồng 2 là 38,1% Chúng tôi thực hiện nghiên

cứu này với mục tiêu khảo sát các yếu tố liên

quan đến truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng

thiếu máu nhập viện Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ

tháng 7/2015 đến tháng 3/2016, nhằm có thể góp

phần vào công tác phòng ngừa thiếu máu và

giảm truyền máu ở nhóm trẻ đặc biệt này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang

Tất cả trẻ sơ sinh non tháng có thiếu máu

nhập khoa Sơ Sinh và khoa Hồi Sức Sơ Sinh

Bệnh viện Nhi đồng 1 trong thời gian từ tháng

7/2015 đến tháng 3/2016 được đưa vào nghiên

cứu và phân thành 2 nhóm có truyền máu và

không truyền máu khi thỏa tiêu chí chọn mẫu:

Tuổi thai < 37 tuần; Được chẩn đoán thiếu máu

dựa vào các dấu hiệu lâm sàng: Li bì, da niêm tái

nhợt, thở nhanh, có cơn ngừng thở kèm chậm

nhịp tim, tim nhanh, chậm tăng cân và/hoặc mức

hematocrit hoặc nồng độ hemoglobin nhỏ hơn

2SD trung bình dưới đối với ngày tuổi (theo

bảng Phụ lục 1) Trẻ được chỉ định truyền máu

dựa vào dấu hiệu lâm sàng và mức Hb (hoặc

Hct) theo Phác đồ xử trí sơ sinh bệnh lý tại Bệnh

viện Nhi Đồng 1 (theo bảng Phụ lục 2)

Tiêu chí loại trừ

Tử vong trong vòng 24 giờ đầu tiên sau nhập

viện; Tim bẩm sinh phức tạp; Không được sự

đồng ý tham gia của gia đình bé Số liệu được nhập bằng phần mềm epidata 3.1 và phân tích

bằng phần mềm stata 13 Các biến số sau được

phân tích: địa chỉ, giới tính, tuổi thai lúc sinh, cân nặng lúc sinh, chỉ số apgar 5 phút, kiểu sinh, bệnh lý mẹ, da niêm tái nhạt, cơn ngừng thở, suy hô hấp, viêm phổi, bệnh phổi mạn, nhiễm trùng huyết, xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết não, bệnh lý võng mạc sinh non (ROP)

và thời gian nằm viện kéo dài So sánh các dữ liệu giữa hai nhóm truyền máu và không truyền máu bằng: phép kiểm Chi-bình phương khi so sánh 2 tỉ lệ của 2 nhóm với cỡ mẫu lớn cho các biến số định tính phép kiểm Fisher’s exact cho biến định tính khi so sánh hai tỉ lệ với cỡ mẫu nhỏ phép kiểm phi tham

số Wilcoxon Rank-Sum test khi so sánh giá trị trung bình của hai nhóm dùng trong trường hợp biến số có phân phối không chuẩn phép kiểm T - test khi so sánh 2 số trung bình của 2 nhóm độc lập với cỡ mẫu lớn cho các biến số định lượng có phân phối chuẩn phân tích hồi qui logistic đơn biến và đa biến để xác định các yếu tố liên quan đến truyền máu sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ tháng 7/2015 đến tháng 3/2016, chúng tôi thu nhận được 204 trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu thỏa tiêu chí chọn mẫu

Trong đó có 161 trẻ (79%) nhận truyền máu và 43

trẻ (21%) không nhận truyền máu

Đặc điểm nghiên cứu

Trẻ sơ sinh non tháng có tuổi thai < 32 tuần

và cân nặng lúc sinh < 1500g chiếm tỉ lệ truyền máu cao (90,2% và 73,3% tương ứng), sự khác biệt giữa các tỉ lệ về tuổi thai và cân nặng lúc sinh của hai nhóm truyền máu và không truyền có ý nghĩa thống kê (P <0,001) Không

có sự khác biệt về tỉ lệ giới tính, sinh mổ, chỉ

Trang 3

số apgar thấp (< 7 điểm), kiểu sinh và bệnh lý mẹ giữa hai nhóm

Bảng 1 So sánh tỉ lệ các đặc điểm về dịch tễ và cơ địa ở trẻ sinh non thiếu máu có truyền máu và không truyền

Địa chỉ Tp.HCM 36 (22,4) 12 (27,9) 0,4

(a)

Nơi khác 125 (77,6) 31 (72,1)

Giới tính Nam 95 (59,0) 20 (46,5) 0,1

(a)

Nữ 66 (41,0) 23 (53,5)

Tuổi thai

lúc sinh

TB ± SD (tuần) 29,4 ± 2,4 31,5 ± 2,9 <0,001(c)

< 28 tuần 55 (34,2) 8 (18,6) <0,001(a) 28-< 32 tuần 90 (56) 19 (44,2)

32-< 34 tuần 11 (6,8) 7 (16,3)

34-<37 tuần 5 (3) 9 (20,9)

Cân nặng

lúc sinh

TB ± SD (g) 1331 ± 377 1727 ± 531 <0,001(c)

< 1500gr 118 (73,3) 17 (39,5) <0,001(a) 1500-2499gr 41 (25,5) 20 (46,5)

≥ 2500gr 2 (1,2) 6 (14,0)

Chỉ số

Apgar 5ph

< 7 điểm 29 (18) 3 (7) 0,3(b)

≥ 7 điểm 20 (12,4) 5 (11,6)

Không rõ 112 (69.6) 35 (81,4)

Kiểu sinh

Sinh thường 106(65,8) 28 (65) 0,7(a) Sinh mổ 42(26,1) 13 (30,2)

Sinh can thiệp 13(8,1) 2(4,8)

Bệnh lý

mẹ

Cao huyết áp 19 (11,8) 1 (2,3)

Đái tháo đường 6 (3,7) 4 (9,3)

(a) Phép kiểm chi-bình phương; (b) Phép kiểm Fisher’s exact (c) Phép kiểm Wilcoxon rank-sum test

Bảng 2 So sánh tỉ lệ các đặc điểm về dấu hiệu lâm sàng, bệnh lý đi kèm và yếu tố nguy cơ ở nhóm có truyền máu

và không truyền

Dấu hiệu lâm sàng - Yếu tố nguy cơ Nhóm truyền máu n (%) Nhóm không truyền n (%) P

Da niêm tái nhợt 89 (55,3) 2 (4,6) <0,001(a) Xuất huyết 56 (34,8) 10 (23,3) 0,1(a) Suy hô hấp 116 (72,1) 19 (44,2) 0,001(a) Cơn ngưng thở 27 (16,8) 7 (16,3) 1(b)

COĐM 25 (15,5) 3 (6,9) 0,05(b) Xuất huyết tiêu hóa 33 (20,5) 4 (9,3) 0,1(b)

XH não độ 1-2 22 (13,6) 6 (13,9) 1(b)

XH não độ 3-4 3 (1,8) 0(0) 1(b)

Nhiễm trùng huyết 71 (44,1) 11 (25,6) 0,02(a)

NT sớm 21 (13) 4 (9,3) 0,7(b)

NT muộn 50 (31.1) 7 (16,3) 0,7(b) NTH cấy máu (+) 12 (7,5) 3 (6,9) 1(b)

Viêm phổi 140 (86,9) 30 (69,8) 0,007(a) Bệnh phổi mạn 57 (35,4) 6 (13,9) 0,007(a) Viêm màng não 12 (7,45) 0 (0) 0,07(b) ROP 92 (57,1) 17 (39,5) 0,04(a)

(a) Phép kiểm Chi-bình phương; (b) Phép kiểm Fisher’s exact

Tỉ lệ da niêm tái nhợt, suy hô hấp, nhiễm

trùng huyết, viêm phổi, bệnh phổi mạn và bệnh

lý võng mạc sinh non (ROP) ở nhóm có truyền

máu cao hơn nhóm không truyền có ý nghĩa

thống kê

Trang 4

Các yếu tố liên quan đến truyền máu ở trẻ

sơ sinh non tháng thiếu máu

Bảng 3 Các yếu tố liên quan đến truyền máu qua

phân tích hồi qui logistic đơn biến:

Tuổi thai < 32 tuần 4,53 2,19-9,35 < 0,001

CNLS < 1500g 4,19 2,07-8,48 < 0,001

Suy hô hấp 3,15 1,58-6,31 0,001

Nhiễm trùng huyết 2,29 1,08-4,86 0,02

Viêm phổi 2,73 1,24-6,04 0,01

Bệnh phổi mạn 3,38 1,34-8,49 0,004

ROP 2,03 1,02-4,05 0,03

Hỗ trợ hô hấp 2,98 1,48-6,00 0,002

Thở oxy 2,75 1,36-5,56 0,003

Thở NCPAP 2,11 1,02-4,34 0,03

Thời gian

nằm viện

> 7 ngày 5,16 1,32-20,15 < 0,02

> 14 ngày 7,17 3,24-15,85 < 0,001

> 28 ngày 7,54 3,45-16,50 < 0,001

> 60 ngày 12,53 1,66-94,17 < 0,001

Qua kết quả phân tích hồi qui logistic đơn

biến, chúng tôi ghi nhận các yếu tố chỉ điểm

liên quan đến truyền máu ở trẻ sơ sinh non

tháng thiếu máu gồm: tuổi thai < 32 tuần,

CNLS < 1500g, suy hô hấp, nhiễm trùng huyết,

viêm phổi, bệnh phổi mạn, ROP, hỗ trợ hô hấp

và thời gian nằm viện kéo dài Mô hình phân

tích hồi qui logistic đa biến của chúng tôi bao

gồm các biến số qua phân tích hồi qui logistic

đơn biến thấy có liên quan với truyền máu ở

trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu (Bảng 3), cùng

với các biến số qua phân tích hồi qui logistic

đơn biến có giá trị P < 0,25 như là biến số thở

máy (P = 0,1) và các biến số từng được mô tả

trong y văn có liên quan đến truyền máu ở trẻ

sinh non như là cơn ngừng thở, viêm ruột hoại

tử, xuất huyết não

Bảng 4 Các yếu tố liên quan đến truyền máu qua

phân tích hồi qui logistic đa biến

Tuổi thai < 32 tuần 3,07 1,13-8,32 0,02

CNLS < 1500g 2,84 1,08-7,50 0,03

Suy hô hấp 2,42 1,03-5,72 0,04

Thời gian nằm viện > 28

ngày 5,90 2,45-14,20 < 0,001

BÀN LUẬN

Về đặc điểm dịch tễ và cơ địa trẻ sinh non thiếu máu

Tỉ số giữa nam: nữ của 204 trẻ thiếu máu trong nghiên cứu của chúng tôi là 1,29: 1, trong nhóm truyền máu là 1,44: 1 Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ nam và nữ được truyền máu Kết quả này tương tự so với nghiên cứu của tác giả Podraza(11) ở nhóm trẻ sinh non truyền máu là 1,43: 1

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trung bình tuổi thai lúc sinh ở trẻ sinh non thiếu máu là 29,9 ± 2,5 tuần, chiếm tỉ lệ cao nhất ở nhóm trẻ có tuổi thai < 32 tuần (84,3%) Trung bình tuổi thai lúc sinh ở nhóm trẻ truyền máu

là 29,4 ± 2,4 tuần khác biệt so với nhóm không truyền có ý nghĩa thống kê (P < 0,001, bảng 3.2) Tác giả dos Santo AM và cộng sự(3) cho thấy trung bình tuổi thai ở trẻ truyền máu là 29,2 ± 2,7 tuần Theo nghiên cứu của tác giả

Jeon GW và cộng sự(6) cho thấy khi tuổi thai và cân nặng lúc sinh giảm, thiếu máu sinh non trở nên nặng hơn và nguy cơ của sự cần thiết phải truyền hồng cầu tăng lên Tác giả Miyashiro AM và cộng sự(9) thấy truyền máu

có liên quan tuổi thai: cứ 1 tuần tuổi thai giảm thì nguy cơ truyền máu tăng 6,1% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số trẻ thiếu máu ở nhóm trẻ sơ sinh non tháng có CNLS < 1500g là 135 trẻ, chiếm tỉ lệ cao (135/204 = 66,2%) so với trẻ có cân nặng lớn hơn và tỉ lệ truyền máu ở nhóm trẻ này cao hơn gần gấp 3 lần so với nhóm trẻ có CNLS ≥ 1500g (73,3% so với 26,7%) Kết quả này tương tự so với kết luận trong nghiên cứu của tác giả Strauss

RG(13) ở trẻ CNLS < 1500g có tỉ lệ truyền máu gấp 3 lần so với trẻ có cân nặng lớn hơn Nghiên cứu của tác giả Podraza(11) ở 190 trẻ sinh non trong tổng số 216 trẻ sơ sinh truyền máu tại các khoa hồi sức sơ sinh của Ba lan, tỉ

lệ truyền máu ở trẻ sinh non có CNLS < 1500g

và CNLS ≥ 1500g là 64,7% và 35,3% tương ứng

Trang 5

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trung

bình cân nặng lúc sinh ở nhóm truyền máu là

1331g ± 377 và ở nhóm không truyền máu là

1727g ± 531, sự khác biệt này có ý nghĩa thống

kê (P < 0,001, bảng 3.2) Theo nghiên cứu

Zhigun Zhang và cộng sự(14) thực hiện ở trẻ có

tuổi thai ≤ 32 tuần và CNLS ≤ 1500g thì trung

bình cân nặng lúc sinh ở nhóm truyền máu là

1316,9g ± 184,6 và ở nhóm không truyền máu

là 1539,6 ± 172,6 và sự khác biệt này cũng có ý

nghĩa thống kê (P < 0,00001)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ trẻ có

chỉ số apgar thấp tại thời điểm 5 phút ở trẻ sinh

non thiếu máu là 16% trong đó ở nhóm trẻ có

truyền máu là 18% và ở nhóm không truyền

máu là 7% Tỉ lệ này ở nhóm trẻ có truyền máu

không khác biệt so với nghiên cứu của các tác giả

Nguyễn Thị Hoài Hương(10) và Podraza(11) là

18,6% và 15,3% tương ứng Tuy nhiên, vì tỉ lệ

không ghi nhận thông tin chỉ số apgar cao (69,6%

ở nhóm truyền máu và 81,4% ở nhóm không

truyền) nên chúng tôi khó đánh giá đây có phải

là yếu tố liên quan truyền máu hay không Theo tác giả Fabres và cộng sự(5) nghiên cứu ở 546 trẻ nhẹ cân được truyền máu cho thấy cùng với tuổi thai, cân nặng thì chỉ số apgar thấp cũng là yếu

tố liên quan truyền máu

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ

lệ trẻ sinh mổ ở nhóm truyền máu so với nhóm không truyền (26,4% so với 31% tương ứng, P = 0,7) Tỉ lệ sinh thường ở nhóm truyền máu và nhóm không truyền lần lượt là 65,4% và 64,3% Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài Hương

về truyền máu ở trẻ sơ sinh cũng cho thấy không

có sự khác biệt giữa tỉ lệ trẻ sinh thường được truyền máu với tỉ lệ trẻ sinh mổ được truyền máu Tuy nhiên, theo tác giả Podraza cho thấy tỉ

lệ trẻ sinh mổ được truyền máu ở nhóm trẻ sinh non là 75,8% Nghiên cứu của tác giả Zhang Zhiqun(14) ở 231 trẻ sinh non ≤ 32 tuần và ≤ 1500g cho thấy tỉ lệ sinh thường ở nhóm truyền máu là 29,2 % thấp hơn so với kết quả của chúng tôi

Bảng 5 So sánh kiểu sinh với các tác giả

(non tháng)

Hoài Hương n = 59 (non + đủ tháng)

Podraza W n = 190 (non tháng)

Sinh thường (%) 65,4 50,8 24,2

Sinh thủ thuật khác (%) 8,4 3,4 0

Tỉ lệ mẹ bệnh cao huyết áp bao gồm cao

huyết áp thai kỳ ở trẻ sinh non thiếu máu

trong nghiên cứu của chúng tôi là 9,8%, nhóm

truyền máu và nhóm không truyền lần lượt là

11,9% và 2,3% thấp hơn so với tác giả Zhang

Zhiqun(25,5% ở nhóm truyền và 33% ở nhóm

không truyền, P= 0,22) Tỉ lệ mẹ bệnh đái tháo

đường ở nhóm truyền máu trong nghiên cứu

của chúng tôi (3,7%) tương tự với tác giả

Zhang Zhiqun (3,6%) Chúng tôi nhận thấy

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về

bệnh lý mẹ giữa 2 nhóm truyền máu và nhóm

không truyền (P = 0,4)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ các

bệnh lý kèm như hội chứng suy hô hấp, viêm

phổi, bệnh phổi mạn, nhiễm trùng huyết, bệnh

lý võng mạc sinh non ở trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu chiếm tỉ lệ cao Ở nhóm truyền máu, tỉ

lệ các bệnh lý trên cao hơn nhóm không truyền

có ý nghĩa thống kê (Bảng 2) Nghiên cứu của tác giả dos Santos và cộng sự(4) cũng cho thấy tỉ

lệ hội chứng suy hô hấp, nhiễm trùng khởi phát sớm và muộn, bệnh phổi mạn, xuất huyết não, bệnh lý võng mạc sinh non ở nhóm truyền máu cao hơn nhóm không truyền Ngoài ra tác giả còn nhận thấy ở nhóm truyền máu có thời gian thở máy, nuôi

ăn tĩnh mạch kéo dài và số ngày nằm viện nhiều hơn ở nhóm không truyền.

Các yếu tố liên quan truyền máu ở trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu trong nghiên cứu của chúng tôi qua phân tích hồi qui logistic đơn biến

Trang 6

bao gồm: tuổi thai thấp < 32 tuần, cân nặng lúc

sinh < 1500g, suy hô hấp, viêm phổi, bệnh phổi

mạn, nhiễm trùng huyết, ROP, thở oxy, thở

NCPAP, thời gian nằm viện kéo dài (Bảng 3)

Theo tác giả dos Santos AM và cộng sự(1) các

yếu tố liên quan chỉ định truyền máu bao gồm:

tuổi thai thấp, cơn ngừng thở, nhiễm trùng

huyết lâm sàng, xuất huyết não mức độ trung

bình/nặng, viêm ruột hoại tử, loạn sản phế quản

phổi, thời gian nằm viện kéo dài

Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến

cho thấy các yếu tố liên quan đến truyền máu ở

trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu như sau:

Những trẻ có tuổi thai lúc sinh < 32 tuần có

khả năng truyền máu tăng gấp 3 lần (KTC 95%:

1,13-8,32; P = 0,02)

Những trẻ có CNLS < 1500g có khả năng

truyền máu tăng gấp 2,8 lần (KTC 95%: 1,08-7,50;

P = 0,03)

Những trẻ có suy hô hấp có khả năng

truyền máu tăng gấp 2,4 lần (KTC 95%:

1,03-5,72; P = 0,04)

Những trẻ có thời gian nằm viện > 28 ngày

có khả năng truyền máu tăng gấp 6 lần (KTC

95%: 2,45-14,20; P < 0,001)

Chúng tôi đã xem xét khả năng tương tác

giữa các biến số trong mô hình hồi quy logistic

đa biến, kết quả cho thấy không có sự tương tác một cách có ý nghĩa giữa các biến số này

Những hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi là do thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên không xác định được mối liên quan nguyên nhân-hậu quả giữa các biến số trên và truyền hồng cầu lắng và chúng tôi chưa thống kê được lượng máu mất do chích ở các trẻ sinh non nằm viện nhiều ngày.

KẾT LUẬN

Tỉ lệ truyền hồng cầu lắng ở trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu là 79%; Ở trẻ có tuổi thai < 32 tuần và cân nặng lúc sinh < 1500g tỉ lệ truyền hồng cầu lắng lần lượt là 82,6% và 73,3%

Những trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu có tuổi thai lúc sinh < 32 tuần, CNLS < 1500g, suy hô hấp, thời gian nằm viện > 28 ngày có khả năng truyền máu lần lượt tăng gấp 3; 2,8; 2,4; 6 lần tương ứng

PHỤ LỤC Bảng 6: Mức Hb và Hct chẩn đoán thiếu máu

Lúc sinh (máu dây rốn) < 13,5 < 42 1-3 ngày < 14,5 < 45

14 ngày < 13,4 < 41

30 ngày < 10,7 < 33

60 ngày < 9,4 < 28

(Nguồn: Shilkofski, 2005 (12) )

Bảng 7: Chỉ định truyền máu ở trẻ sơ sinh bệnh lý tại khoa Hồi Sức sơ sinh và khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng 1

Sốc do mất máu cấp Không dựa vào

Có dấu hiệu suy hô hấp

-tim mạch (-tim nhanh, thở

nhanh, SpO 2 dao động)

Trẻ vẫn SHH dù đã thở máy, hạ HA, sốc, CN < 1000g trong tuần đầu < 40 < 12 Cần cung cấp oxy với FiO 2 > 30%, hoặc có cơn ngưng thở và chậm nhịp tim < 35 < 11,5 Cần cung cấp oxy với FiO 2 ≤ 30%

< 30 < 10

< 6 tuần tuổi, ổn định Có cơn ngưng thở tái phát và chậm nhịp tim hoặc không tăng cân trong 4 ngày

Cần phẩu thuật hoặc hậu phẫu

> 6 tuần tuổi, ổn định

Có cơn ngưng thở tái phát và chậm nhịp tim hoặc không tăng cân trong 1 tuần Cần phẩu thuật hoặc hậu phẫu

Trẻ sinh non / nhẹ cân

< 25 < 7

Nguồn: Cam Ngọc Phượng (2008) (2)

Trang 7

Bảng 8: Bảng hướng dẫn truyền máu ngoài nước

≤ 35 ≤ 11 Trẻ cần thở máy ≥ trung bình (có nghĩa là P > 8 cm H 2 O và FIO 2 > 40%) 15mL/kg HCL* trong 2-4 giờ

≤ 30 ≤ 10 Trẻ cần hỗ trợ hô hấp (thở máy bất kỳ hoặc ECPAP/NCPAP với P > 6 cm H

2 O và FIO 2 ≤ 40% 15mL/kg HCL* trong 2-4 giờ

≤ 25 ≤ 8

Trẻ sơ sinh không cần thở máy nhưng đang được thở oxy hoặc CPAP với FIO 2 ≤ 40% và có 1 hoặc nhiều triệu chứng sau:

• ≤ 24 giờ nhịp tim nhanh (nhịp tim > 180 nhịp/phút) hoặc thở nhanh (Nhịp thở > 80 nhịp/phút)

• Cần tăng oxy từ 48 giờ trước đó, được định nghĩa là tăng gấp ≥ 4 lần lưu lượng oxy canuala mũi (ví dụ từ 0,25 đến 1 L/phút) hoặc tăng áp lực NCPAP ≥ 20% so với 48 giờ trước đó (ví dụ 5-6 cm H 2 O)

• Tăng cân < 10 g/kg/ngày trong 4 ngày trước đó khi cho trẻ nhận ≥ 100 kcal/kg/ngày

• Sự gia tăng cơn ngưng thở và nhịp tim chậm (> 9 cơn ngưng thở trong

24 giờ hoặc ≥ 2 cơn ngưng thở trong 24 giờ đòi hỏi thở qua mask có túi

dự trữ) trong khi trẻ sơ sinh đang được điều trị methylxanthine

• Cần phẫu thuật

20mL/kg HCL* trong 2-4 giờ (chia thành 2 lần, mỗi lần 10ml/kg nếu trẻ có nguy

cơ quá tải)

≤ 20 ≤ 7 Không có triệu chứng và số hồng cầu lưới tuyệt đối <100.000 tế bào/ml

20mL/kg HCL* trong 2-4 giờ (chia thành 2 lần, mỗi lần 10ml/kg)

Nguồn: Maheshwari Akhil, Carlo A Waldemar (2016) (8) HCL*: Hồng cầu nên được chiếu xạ trước truyền.

From Ohls RK, Ehrenkranz RA, Wright LL, et al: Effects of early erythropoietin therapy on the transfusion requirements of

preterm infants below 1250 grams birth weight: a multicenter, randomized, controlled trial, Pediatrics 108:934–942, 2001

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bạch Văn Cam (2013) “Truyền máu và sản phẩm của máu”

Phác đồ điều trị nhi khoa 2013, Bệnh viện Nhi đồng 1, NXB Y học,

tr 852-853

2 Cam Ngọc Phượng, Phạm Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thu Tịnh

và các cộng sự (2008) “Truyền máu và các sản phẩm của

máu” Phác đồ xử trí sơ sinh bệnh lý tại bệnh viện Nhi đồng 1, tr

23-24

3 dos Santos AM, Guinsburg R, de Almeida MF, Procianoy

RS, Marba ST, Ferri WA, et al (2015) “Factors associated with

red blood cell transfusions in very-low-birth-weight preterm

infants in Brazilian neonatal units” BMC Pediatr 15:113

4 dos Santos AM, Guinsburg R, Procianoy RS, dos Sadeck S.R

Lílian, Netto AA et al (2010) “Variability on red blood cell

transfusions practices among Brazilian neonatal intensive care

units” Transfusion 50: 150:159

5 Fabres J, Wehrli G, Marques MB, Phillips V, Dimmitt RA,

Westfall AO, et al (2006) “Estimating blood needs for

very-low-birth-weight infants” Transfusion 46(11):1915-20

6 Jeon Ga Won, Sin Jong Beom (2013) “Risk Factors of

Transfusion in Anemia of Very Low Birth Weight Infants”

Yonsei Med J 54(2): 366–73

7 Lê Nguyễn Nhật Trung (2015) “Khảo sát kết quả điều trị trẻ sơ

sinh sinh non 26-34 tuần tuổi thai tại bệnh viện nhi đồng 2”

Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, trường ĐH Y khoa Phạm

Ngọc Thạch

8 Maheshwari Akhil, Carlo A Waldemar (2016) “Blood

Pediatrics Disorders” Nelson Textbook Of Pediatrics, 20th Edition, chapter 103, pp 880-883

9 Miyashiro AM, Santos N, Guinsburg R, et al (2005) “Strict red blood cell transfusion guideline reduces the need for transfusions in very-low-birthweight infants in the first 4 weeks

of life: a multicentre trial” Vox Sang 88(2):107-13

10 Nguyễn Thị Hoài Hương (2009) “Tình hình truyền máu sơ

sinh tại khoa sơ sinh Từ Dũ năm 2006-2007” Tạp chí Y học Tp

Hồ Chí Minh, tập 13-số 1

11 Podrazaa W, Nowakb J, Domeka H, et al (2006) “Neonatal

RBC Transfusions – Comparison of Two Patterns” Transfus Med Hemother.33:515–519

12 Shilkofski (2005) “Anemia pediatric” Harriet Lane Handbook,

17th ed, Mosby, p.337

13 Strauss RG (1995) “ Red blood cell transfusion practices in the

neonate” Clin perinatol; 22-32

14 Zhiqun Z, Xianmei H, Hui L (2014) “Associationbetween Red

Blood Cell Transfusion and Bronchopulmonary Dysplasia in

Preterm Infants” Scientific Report; 4: 43-40

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/02/2017 Ngày bài báo được đăng: 20/04/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w