1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả kiểm soát viêm của thuốc nhỏ NSAID kết hợp sterocorticoid trên bệnh nhân đái tháo đường sau phẫu thuật phaco

5 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 313,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá hiệu quả kiểm soát viêm của thuốc nhỏ NSAID kết hợp corticosteroid trên bệnh nhân đái tháo đường sau phẫu thuật phaco.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT VIÊM CỦA THUỐC NHỎ NSAID KẾT HỢP STEROCORTICOID TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

SAU PHẪU THUẬT PHACO

Trần Yến Phương*, Trần Anh Tuấn*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả kiểm soát viêm của thuốc nhỏ NSAID kết hợp corticosteroid trên bệnh nhân

đái tháo đường sau phẫu thuật phaco

Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng không ngẫu nhiên, thực hiện trên bệnh

nhân đục TTT tuổi già nhân cứng độ 2-3 tại khoa Tổng Hợp, bệnh viện Mắt TP.HCM Dữ liệu thu thập trước

mổ, sau mổ 1 ngày, 1 tuần, 4 tuần, 6 tuần: thị lực, nhãn áp, giá trị flare tiền phòng

Kết quả: Nghiên cứu trên 60 mắt của 60 bệnh nhân đục TTT tuổi già, nhân cứng độ 2-3 được chia thành hai

nhóm: nhóm đái tháo đường và nhóm không đái thóa đường Các giá trị thị lực, nhãn áp và flare tiền phòng giữa

2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa trước phẫu thuật Giá trị flare giảm sau mổ đồng đều và phục hồi về bình thường 6 tuần sau mổ Trong đó nhóm KĐTĐ cải thiện phản ứng viêm trong tiền phòng nhanh hơn nhóm ĐTĐ Tất cả bệnh nhân ở hai nhóm đều có sự cải thiện thị lực so với trước phẫu thuật (p<0,001) Sự kết hợp hai nhóm thuốc an toàn, không có tác dụng phụ trên toàn thân và nhãn áp ổn định suốt thời gian theo dõi

Kết luận: Ở hai nhóm nghiên cứu đều ghi nhận kết hợp hai nhóm thuốc có hiệu quả kháng viêm sau mổ, đặc

biệt đối với những trường hợp bệnh nhân có nguy cơ cao viêm hậu phẫu như mắc bệnh ĐTĐ tip 2

Từ khóa: đục TTT già, đái tháo đường, kết hợp NSAID và corticoid, phaco, viêm

ABSTRACT

EVALUATION THE INFLAMMATION CONTROL OF COMBINING NSAIDs AND

CORTICOSTEROID IN DIABETIC PATIENTS AFTER PHACOEMULSIFICATION

Tran Yen Phuong, Tran Anh Tuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - Supplement of No 1 - 2016: 213 - 217

Objective: To evaluate the inflammation control of combining NSAIDs and Corticosteroid in diabetic

patients after phacoemulsification

Method: Non-randomized controlled study Patients with senile cataract received routine cataract surgeries

using NSAIDs and Corticosteroid to control inflammation, at Eye hospital of HCM Vision, intraocular pressure and flare values were evaluated before surgery and at 1 day, 1 week, 4 weeks, 6 weeks after surgery

Resuls: 60 eyes (60 patients) were divided into two groups: diabetes and non-diabetes At preoperation, there

were no statiscally sifnificant differences in vision, IOP and flare quantities between two groups The flare values

in both groups were reduced after surgery, and returned to preoperative level at 6 weeks after surgery The non-diabetic group improved inflammation faster than the non-diabetic group Improvement in BCVA was statistically significant in both groups (p<0.001) There were no systemic side-effects and the IOP were stable

Conclusion: The combination of NSAID and Corticosteroid controls the post operative inflammation

effectively, especially in high risk patients (e.g diabetes mellitus)

Key words: senile cataract, diabetes, combination of NSAIDs and Corticosteroid, inflammation

Trang 2

MỞ ĐẦU

Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý nội tiết

thường gặp, có thể gây ảnh hưởng tới hầu như

mọi cấu trúc nhãn cầu, trong đó đục thể thủy

tinh và bệnh võng mạc đái tháo đường là

nguyên nhân chính gây giảm thị lực và mù

Bệnh ĐTĐ làm tăng nguy cơ đục thể thủy tinh

(TTT), cũng như làm cho đục TTT xuất hiện

sớm hơn(1)

Phẫu thuật lấy thể thủy tinh ở bệnh nhân đái

tháo đường nhằm mục đích cải thiện thị lực và

nâng cao chất lượng cuộc sống ở người bệnh

Ngoài ra còn giúp cho việc thăm khám võng mạc

được dễ dàng, chẩn đoán chính xác và điều trị

tốt bệnh lí võng mạc đái tháo đường Nhìn

chung, tiên lượng thị lực sau phẫu thuật TTT ở

bệnh nhân ĐTĐ khả quan, đặc biệt ở bệnh nhân

không có bệnh lý võng mạc đái tháo đường có

kết quả tương đương với bệnh nhân không

ĐTĐ Tuy nhiên, phẫu thuật cũng gặp nhiều

biến chứng, đặc biệt là viêm hậu phẫu(10) và kết

quả thị lực đôi khi rất kém

Những cải tiến trong phẫu thuật phaco giúp

giảm rõ rệt mức độ viêm và số lượng bệnh nhân

phải chịu các biến chứng do viêm sau phẫu

thuật Tuy nhiên, viêm sau mổ vẫn có(9) Do đó,

việc phòng ngừa và điều trị viêm hậu phẫu là

cần thiết, đặc biệt ở các bệnh nhân nguy cơ cao

như ĐTĐ(5)

Trong việc kiểm soát phản ứng viêm thì

các thuốc kháng viêm tại chỗ giữ vai trò rất

quan trọng Hiện nay, corticosteroid và kháng

viêm không steroid (NSAIDs) là hai nhóm

thuốc hiện được dùng trong kiểm soát và điều

trị viêm sau phẫu thuật Nhóm corticosteroid

luôn được biết đến với tác dụng kháng viêm

mạnh, kiểm soát phản ứng viêm tốt và giúp

phục hồi thị lực nhanh NSAIDs hiện nay đã

được dùng khá phổ biến ở nước ngoài với

hiệu quả kháng viêm tương tự nhóm

sterocorticoid(3) Ngày nay trên thế giới đã có

nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả của

phản ứng viêm sau phẫu thuật nhũ tương hóa thủy tinh thể ở bệnh nhân có nguy cơ cao, điển hình là bệnh nhân mắc đái tháo đường(5,11) Tuy nhiên tại Việt Nam hiện vẫn chưa có một tổng kết hay đánh giá về vấn đề này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là nghiên cứu phân tích can thiệp lâm sàng có nhóm chứng không ngẫu nhiên Mẫu gồm 60 mắt từ 60 bệnh nhân được phẫu thuật bởi một phẫu thuật viên, tại Khoa tổng hợp – Bệnh viện Mắt TP.HCM Tiêu chuẩn chọn bệnh

là bệnh nhân được chẩn đoán đục thủy tinh thể

có chỉ định phẫu thuật phaco và đặt IOL, tiêu chuẩn của nhóm chứng có thêm: bệnh nhân mắc ĐTĐ tip 2, đã được theo dõi điều trị bệnh ĐTĐ

có đường huyết ổn định (HbA1c <7%), đang điều trị thuốc hạ đường huyết đường uống, được chẩn đoán đục thủy tinh thể có chỉ định phẫu thuật Phaco và đặt IOL Tiêu chuẩn loại trừ gồm: a) Tiền căn phẫu thuật nội nhãn, tổn thương giác mạc, glaucoma, viêm màng bồ đào; b) Số lượng tế bào nội mô giác mạc ≤ 1500 tế bào/mm2; c) Đang sử dụng corticoid hay NSAIDs khác ngoài nghiên cứu; d) Có bệnh lý khác đi kèm: lệch TTT, đục TTT tăng áp, cận thị nặng, bệnh lý đáy mắt

Sau khi được khám và làm các xét nghiệm tiền phẫu, các bệnh nhân này được phân thành hai nhóm khác nhau: nhóm 1 (đái tháo đường)

và nhóm 2 (không đái tháo đường) Cả hai nhóm đều được nhỏ kháng viêm Col Ketorolac tromethamine 0,5% và Col Prednisolone acetate 1% trước phẫu thuật 2 giờ, bệnh nhân được phẫu thuật phaco, đặt IOL Sau mổ tất cả bệnh nhân đều được hướng dẫn nhỏ hai nhóm thuốc kháng viêm kết hợp: Diclofenac 0,1% và Prednisolone acetate 1% 4 lần/ngày, các thuốc dùng cách nhau

15 phút, dùng trong 4 tuần sau mổ

Các biến số đánh giá được ghi nhận vào thời điểm trước mổ, sau mổ 1 ngày, 1 tuần, 4 tuần và

6 tuần, bao gồm: biến số nền (tuổi, giới tính, phân độ đục thủy tinh thể, thị lực, các biến số về bệnh ĐTĐ tip 2) và biến số khảo sát (tỉ lệ cải

Trang 3

thiện thị lực ≥ 5/10 và ≥ 8/10 sau mổ, giá trị flare

tiền phòng, phù giác mạc, mức độ bắt màu

fluorescein giác mạc và nhãn áp sau mổ)

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

16.0 Kiểm định sự khác biệt của các giá trị này

giữa nhóm ĐTĐ và KĐTĐ bằng các phép kiểm

test χ2, t-test, paired t-test Sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Nghiên cứu của chúng tôi thu thập số liệu từ

60 mắt của 60 bệnh nhân đục thể thủy tinh phân

thành hai nhóm: nhóm ĐTĐ và nhóm không

ĐTĐ Sự phân bố các đặc điểm tuổi, giới, độ

cứng nhân, thị lực, nhãn áp và giá trị flare trước

mổ giữa hai nhóm là tương đồng (Bảng 1)

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu

Nhóm can thiệp

(N = 30)

Nhóm chứng

Tuổi 61,97±6,805 64,20±7,721 0,239

Giới Nam 12 (40,0%) 9 (30%) 0,416

Nữ 18 (60,0%) 21 (70%)

Độ

cứng

nhân

Độ 2 4 (13,33%) 6 (20%) 0,488

Độ 3 26 (86,67%) 24 (80%)

Các đặc điểm lâm sàng của nhóm đái tháo

đường: Thời gian mắc bệnh ĐTĐ trung bình là

4.5 năm, lớn nhất là 12 năm, nhỏ nhất là 1 năm

Tỉ lệ bệnh nhân có thời gian mắc bệnh ĐTĐ ≥ 10

năm: 6,67% và < 10 năm là 93,33% Giá trị trung

bình của HbA1c là 6,37, giá trị lớn nhất 6,8 và

nhỏ nhất 5,7

Để so sánh hiệu quả điều trị thuốc trên hai

nhóm bệnh nhân, chúng tôi tiến hành so sánh

hiệu quả kiểm soát viêm trong tiền phòng dựa

vào biến số giá trị flare được ghi nhận thông

qua đo đạc từ máy Laser Flare Meter (Kowa

FM-600) của hai nhóm nghiên cứu sau phẫu

thuật (Hình 1)

Hình 2 cho thấy tốc độ hết viêm ở nhóm

ĐTĐ chậm hơn nhóm KĐTĐ 50% bệnh nhân

ĐTĐ hết viêm ở thời điểm 6 tuần sau mổ, 50%

bệnh nhân KĐTĐ hết viêm ở thời điểm 4 tuần

sau mổ

Hình 1 So sánh giá trị flare tiền phòng giữa hai

nhóm ĐTĐ và KĐTĐ

Hình 2: Diễn biến hết viêm ở hai nhóm nghiên cứu

Sự khác biệt về thị lực logMAR trung bình giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu không có

ý nghĩa tại mọi thời điểm Hình 3 cho thấy thị lực cải thiện rõ rệt ở hai nhóm nghiên cứu trước

và sau khi phẫu thuật

Hình 4 ghi nhận: 100% bệnh nhân có thị lực không kính ≥ 5/10 trong cả hai nhóm nghiên cứu

Tỉ lệ bệnh nhân có thị lực không kính ≥ 8/10 trong nhóm ĐTĐ và nhóm KĐTĐ lần lượt là 28 bệnh nhân ( 93,33%) và 29 bệnh nhân (96,67%)

Về tính an toàn khi dùng thuốc, chúng tôi không ghi nhận bất kì trường hợp bệnh nhân nào của hai nhóm nghiên cứu có tác dụng không mong muốn với toàn thân Đồng thời không có bệnh nhân nào có bất thường về biểu mô giác

Trang 4

mạc qua test nhuộm Fluorescein ở cả hai nhóm

nghiên cứu tại tất cả các thời điểm thăm khám

Hình 5 ghi nhận giá trị nhãn áp ở hai nhóm

đều trong giới hạn bình thường

0,1

0,2

0,3

0,4

0,5

0,6

0,7

0,8

Hình 3 Diễn tiến thị lực logMAR trung bình của

nhóm ĐTĐ và nhóm KĐTĐ trong 6 tuần sau phẫu

thuật

Hình 4 So sánh tỉ lệ cải thiện thị lực ở hai nhóm

nghiên cứu

Hình 5 Sự phân tán nhãn áp trước và sau mổ 6 tuần

BÀN LUẬN

Những bệnh nhân thuộc nhóm KĐTĐ có cải thiện sớm và tốt hơn so với nhóm ĐTĐ tại các thời điểm thăm khám Sau phẫu thuật nhũ tương TTT, bệnh nhân ĐTĐ có tỉ lệ phản ứng viêm sớm cao hơn so với bệnh nhân KĐTĐ Không có bệnh nhân nào bị viêm nặng, có lẽ phương tiện kĩ thuật hiện đại, phẫu thuật viên có kinh nghiệm trong phẫu thuật cũng như sử dụng thuốc kháng viêm đã làm hạn chế viêm hậu phẫu nặng ở bệnh nhân ĐTĐ, theo như nhận xét của tác giả Per Fleshner năm 2002(3) Thị lực của bệnh nhân trước phẫu thuật và sau phẫu thuật cải thiện dần theo thời gian có ý nghĩa thống kê ở mỗi nhóm nghiên cứu và cải thiện nhanh sau 1 tuần hậu phẫu, ổn định ở thời điểm 6 tuần Sự khác biệt thị lực logMAR trung bình giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê ở các thời điểm thăm khám cho thấy sử dụng kết hợp hai nhóm thuốc không tác động đến quá trình cải thiện thị lực của bệnh nhân sau mổ Sau

mổ thị lực của tất cả bệnh nhân đều cải thiện rất tốt, đặc biệt ở bệnh nhân ĐTĐ Điều này có thể

do tất cả các bệnh nhân ở hai nhóm nghiên cứu

đã được chẩn đoán đục thủy tinh thể không có tình trạng bất thường ở đáy mắt, cùng với phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm nên quá trình phẫu thuật diễn ra thuận lợi, gần như không xảy

ra biến chứng trong mổ, từ đó bệnh nhân ở cả hai nhóm đều có sự cải thiện thị lực rõ rệt

Trong thời gian theo dõi chúng tôi không ghi nhận bất kì trường hợp bệnh nhân nào của hai nhóm nghiên cứu có tác dụng không mong muốn với toàn thân Điều này phù hợp với các nghiên cứu về hai nhóm thuốc corticoid và NSAID(5,11,3)

Việc sử dụng hai nhóm thuốc an toàn cho biểu mô giác mạc Kết quả trên tương đối phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới(2,8) vì hai nhóm thuốc trong nghiên cứu đã được chứng minh khá an toàn cho biểu mô giác mạc, tỉ lệ ảnh hưởng giác mạc như tróc biểu mô, phù biểu mô

Trang 5

chiếm rất ít và thường gặp ở những trường hợp

sử dụng thuốc kéo dài(3,5)

Tại những thời điểm khám 1 ngày, 1 tuần, 4

tuần và 6 tuần sau mổ giá trị nhãn áp trung bình

đều nằm trong ngưỡng bình thường Điều này

chứng tỏ việc sử dụng hai nhóm thuốc không

gây ảnh hưởng đến nhãn áp của bệnh nhân sau

mổ Ngoài ra, chúng tôi ghi nhận nhãn áp của tất

cả bệnh nhân trong hai nhóm nghiên cứu đều có

kết quả tốt sau mổ, nằm trong giới hạn bình

thường, kết quả trên cho thấy phụ thuộc vào

diễn tiến trong lúc phẫu thuật ổn, đồng thời dựa

vào tay nghề phẫu thuật viên có nhiều kinh

nghiệm trong việc xử trí đục TTT nhân cứng độ

2, 3, giúp hạn chế nhiều biến chứng

KẾT LUẬN

Ở hai nhóm nghiên cứu đều ghi nhận kết

hợp hai nhóm thuốc có hiệu quả kháng viêm sau

mổ, đặc biệt đối với những trường hợp bệnh

nhân có nguy cơ cao viêm hậu phẫu như mắc

bệnh ĐTĐ tip 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Antcliff RJ, Poulson A, Flanagan DW (1996),

"Phacoemulsification in diabetics" Eye 10(1): p 737-741

2 Cho H1, Wolf KJ, Wolf EJ (2009), "Management of ocular

inflammation and pain following cataract surgery: focus on

bromfenac ophthalmic solution" Clinical Ophthalmology 3(4):

p 199

3 Elsawy MF, Badawi N, Khairy HA, et al (2013), "Prophylactic

postoperative ketorolac improves outcomes in diabetic

patients assigned for cataract surgery" Clinical Ophthalmology

7(2): p 1245–1249

4 Flesner P, Sander B, Henning V, Parving HH, Dornonville de

la Cour M, Lund-Andersen H (2002), "Cataract surgery on diabetic patients A prospective evaluation of risk factors and

complications" Acta Ophthalmologica Scandinavica 80(2): p

19-24

5 Kruger AJ, Schauersberger J, Petternel V, Amon M (1999),

"Inflammation after phacoemulsification in patients with type

2 diabetes mellitus without retinopathy: prospective study" J

Cataract Refract Surg 25(2): p 227-232

6 Nowak JZ (2012), "Non-steroidal anti-inflammatory drugs (NSAIDs) in ophthalmology: pharmalogical and clinical

characteristics" J Cataract Refract Surg 33(2): p.810

7 Simone JN and Whitacre MM (2001), "Effects of

anti-inflammatory drugs following cataract extraction" Current

opinion in ophthalmology 12 (1): p 63-67

8 Takamura Y, Tomomatsu T, Arimura S, Tomomatsu

Y, Matsumura T, Takihara Y, Inatani M (2013), "Anterior capsule contraction and flare intensity in the early stages after

cataract surgery in eyes with diabetic retinopathy" J Cataract

Refract Surg 39 (5): p 716–721

9 Tugal-Tutkun I and Herbort CP (2010), "Laser flare photometry: a noninvasive, objective, and quantitative

method to measure intraocular inflammation" International

ophthalmology 30 (5): p 453-464

10 Zaczek A, Zetterström C (1998), "Aqueous flare intensity after

phacoemulsification in patients with diabetes mellitus" J

Cataract Refract Surg 24(1): p 1099- 1104

11 Zaczek A, Olivestedt G, Zetterström C (1999), "Visual outcome after phacoemulsification and IOL implantation in diabetic

patients" Br J Ophthalmol 83(2): p 1036–1041

Ngày nhận bài báo: 24/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/11/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w