1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả phẫu thuật lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ tại Bệnh viện Quân Y 175

7 104 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 337,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả, tính an toàn của phẫu thuật lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 60 bệnh nhân được phẫu thuật lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ tại bệnh viện quân Y 175 từ tháng 6/2016 đến tháng 6/2018. Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, không đối chứng.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT LẤY SỎI THẬN

QUA DA ĐƯỜNG HẦM NHỎ TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175

Nguyễn Việt Cường * , Trần Hoài Nam * , Nguyễn Văn Khẩn * , Phạm Đức Vinh **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả, tính an toàn của phẫu thuật lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 60 bệnh nhân được phẫu thuật lấy sỏi thận qua da đường hầm

nhỏ tại bệnh viện quân Y 175 từ tháng 6/2016 đến tháng 6/2018 Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, không đối chứng

Kết quả: 60 bệnh nhân được phẫu thuật lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ với tỉ lệ thành công là 100%; kết quả

phẫu thuật tốt 70%, khá 23,34%, trung bình 6,66% Tuổi trung bình là 47,42 ± 1,46 (25-73) tuổi; 63,33 % nam, 36,67% nữ 100% bệnh nhân được chọc dò và nong đường hầm vào đài dưới với một đường hầm Thời gian chọc

dò, tạo đường hầm trung bình 9,35 ± 2,66 phút, thời gian tán và lấy sỏi trung bình 31,93 ± 12,48 phút, thời gian phẫu thuật trung bình 74,02 ± 16,37 phút Không gặp tai biến nào trong mổ, biến chứng theo phân loại Clavien – Dindo là 30% gồm độ I, độ II và độ IIIa, trong đó sốt sau mổ chiếm 25% Không có bệnh nhân nào tổn thương

nội tạng hay phải truyền máu Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 8,18 ± 2,38 ngày, ngắn nhất 4 ngày, lâu

nhất 15 ngày Tỉ lệ sạch sỏi sớm sau mổ 86,67%, sót sỏi 13,33% Tỉ lệ sạch sỏi liên quan đến phân loại ở nhóm Guy 1 cao nhất 91,3%, Guy 2: 72,73%, Guy 3: 66,67%

Kết luận: Lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ là phương pháp điều trị sỏi thận an toàn và hiệu quả đối với sỏi

thận dưới 3cm

Từ khóa: sỏi thận, lấy sỏi qua da, lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ

ABSTRACT

EVALUATION THE RESULTS OF MINI PERCUTANEOUS NEPHROLITHOTOMY AT MILITARY

HOSPITAL 175

Nguyen Viet Cuong, Tran Hoai Nam, Nguyen Van Khan, Pham Duc Vinh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3- 2019: 53 – 59

Objectives: To evaluate the effectiveness, safety of kidney stones removal through mini percutaneous

nephrolithotomy

Methods: 60 patients undergoing mini percutaneous nephrolithotomy at 175 Military Hospital from June

2016 to June 2018 Case study, cross-sectional, uncontrolled

Results: 60 patients were operated for mini percutaneous nephrolithotomy with a success rate of 100%; The

results of surgery are excellent 70%, good 23.34% and average 6.66% The average of age was 47.42 ± 1.46 (25-73) years old and 63.33% male, 36.67% female 100% of the patients were screened and tuned into the lower calyx with one tunnel Detection tunnel 9.35 ± 2.66 minutes, time for canopy and grafting was 31.93 ± 12.48 minutes, surgery time 74.02 ± 16.37 minutes No serve complications, complications were found in the Clavien-Dindo class of 30% grade I, grade II and grade IIIa, with postoperative fever 25% No patients had any organ damage or blood transfusion The duration of hospitalization after surgery was 8.18 ± 2.38 days, the shortest was

4 days, the longest was 15 days The rate of stone removes 86.67%, gravel remedy 13.33% The gravel cleanliness rate related to the Guy 1 group was highest at 91.3%, Guy 2: 72.73% and Guy 3: 66.67%

*Bệnh viện Quân Y 175 **Bệnh viện Quân Y 4 - Quân Đoàn 4

Tác giả liên lạc: ThS.BS Trần Hoài Nam ĐT: 0356129538 Email: trannamglht@gmail.com

Trang 2

Conclusion: Mini percutaneous nephrolithotomy is a safe and effective method of treating kidney stones less

than 3cm

Keywords: kidney stones, percutaneous nephrolithotomy (PCNL), mini PCNL

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sỏi thận là một bệnh hay gặp trong các bệnh

lý tiết niệu, chiếm khoảng 30 - 40% tổng số bệnh

nhân sỏi tiết niệu Tỉ lệ mắc bệnh tùy thuộc vào

tuổi, giới tính, lối sống, thói quen ăn uống,

chủng tộc và vị trí địa lý Việc lựa chọn phương

pháp sỏi thận tùy theo đặc điểm lâm sàng, cận

lâm sàng, kích thước, vị trí, số lượng, hình thái

sỏi và đài bể thận, trang thiết bị của cơ sở và

kinh nghiệm phẫu thuật viên Hiện nay, các

phương pháp điều trị sỏi thận ít xâm hại như tán

sỏi ngoài cơ thể, phẫu thuật nội soi thận ngược

dòng, lấy sỏi thận qua da đang được ưu tiên áp

dụng, thay thế dần mổ mở Lấy sỏi thận qua da

được thực hiện đầu tiên bởi Frenström và

Johannson năm 1976 với đường hầm tiêu chuẩn

Để giảm tỉ lệ biến chứng liên quan đến việc

dùng dụng cụ kích thước lớn như mất máu, rách

đài bể thận, đau sau phẫu thuật, lấy sỏi thận qua

da phát triển theo hướng ít xâm hại hơn bằng

cách nong đường hầm nhỏ hơn vào thận Năm

1998, lần đầu tiên lấy sỏi thận qua da đường

hầm nhỏ được Jackman và cộng sự thực hiện

thành công trên trẻ em với bộ nong kích thước

11Fr Sau đó, lấy sỏi thận qua da đường hầm

nhỏ dần được áp dụng cho người lớn và đang

trở thành một lựa chọn điều trị hiệu quả trong

thời gian gần đây ở nhiều trung tâm tiết niệu

trên thế giới Mức độ an toàn, hiệu quả của lấy

sỏi thận qua da đường hầm nhỏ ở trên thế giới

và trong nước đã có một số tác giả báo cáo Tại

bệnh viện quân y 175, từ tháng 3/2016 đã triển

khai kỹ thuật lấy sỏi thận qua da đường hầm

nhỏ và bước đầu thu được những kết quả đáng

khích lệ Để góp phần khẳng định giá trị của

phương pháp lấy sỏi thận qua da đường hầm

nhỏ với những luận chứng khoa học, chúng tôi

nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết phẫu thuật lấy sỏi

thận qua da đường hầm nhỏ tại bệnh viện quân y

175” Với mục tiêu đánh giá tính hiệu quả, an

toàn và một số yếu tố quan trọng góp phần

thành công của phương pháp lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ điều trị sỏi thận

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

60 bệnh nhân (BN) sỏi thận điều trị bằng phương pháp lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ (mini PCNL) tại khoa Ngoại Tiết Niệu, Bệnh viện Quân y 175 trong khoảng thời gian từ 3/2016 đến 3/2018 BN được chẩn đoán sỏi thận

có chỉ định can thiệp ngoại khoa lấy sỏi qua da Lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ trong nghiên cứu này áp dụng các trường hợp sỏi kích thước < 30mm, BN đồng ý tham gia nghiên cứu Loại trừ các BN có sỏi ở thận lạc chỗ, thận móng ngựa, thận ghép, cột sống cong vẹo, chống chỉ định gây mê, không nằm sấp được do có bệnh tim mạch như nhịp chậm xoang, suy tim; bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), có rối loạn đông máu, nhiễm trùng niệu chưa được điều trị

ổn định

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, không đối chứng

Phương tiện nghiên cứu

Máy X-quang di động C-Arm, nguồn sáng,

hệ thống camera nội soi, bàn mổ đa năng không cản quang, kim chọc dò đài thận, dây dẫn đường Dụng cụ nong của hãng Kaltorz theo bộ nong đường hầm nhỏ 18 Fr, Amplatz 16,5 Fr Máy tán sỏi sử dụng năng lượng laser Holmium YAG Hệ thống dịch tưới rửa bằng nước muối sinh lý 0,9%

Quy trình kỹ thuật mổ

Gây mê nội khí quản

Đặt thông niệu quản theo guide-wire lên đài

bể thận vượt sỏi dưới màn hình tăng sáng, cố định ống thông NQ vào thông Foley

Chọc dò và tạo đường hầm tiếp cận sỏi

Chuyển bệnh nhân tư thế bệnh nhân nằm

Trang 3

sấp, độn gối dưới bụng ngang vị trí của thận,

độn gối mỏng dưới ngực, hai tay dạng Vị trí

chọc dò trên da thường nằm sau đường nách

sau, hướng trùng với trục đài thận định chọc,

kim tạo với mặt phẳng lưng khoảng 400- 500,

kiểm tra và điều chỉnh hướng kim trên C-Arm

thẳng và chếch 300, kim vào vị trí khi rút nòng

kim có nước tiểu chảy ra hoặc có cảm giác chạm

sỏi Luồn dây dẫn đường, rút kim chọc dò Nong

đường hầm tới 18 Fr, đặt Amplatz, safety wire

Soi và tán sỏi

Dùng máy nội soi thận 12,5 Fr Tiến hành tán

sỏi bằng laser Holmium YAG, mảnh sỏi còn lớn

thì gắp bằng kìm, bơm rửa để các mảnh sỏi nhỏ

thoát ra ngoài theo Amplatz Kiểm tra còn sót sỏi

hay không bằng C-Arm và soi trực tiếp Nếu còn

sỏi tùy thuộc vào kích thước, vị trí của sỏi, tình

trạng bệnh nhân mà quyết định dừng hay tiếp

tục soi tìm tán sỏi

Kết thúc phẫu thuật

Dẫn lưu thận qua da bằng ống Foley 14 Fr,

bơm bóng khoảng 3 -5 ml, có thể đặt thông JJ

hoặc không BN được rút thông tiểu và thông

niệu quản sau 2-3 ngày Ống thông mở thận ra

da được rút sau 5 - 7 ngày Chụp X quang hệ

niệu (KUB) trước khi rút ống thông mở thận ra

da để kiểm tra kết quả sạch sỏi Tái khám sau 01

tháng: chụp KUB, siêu âm kiểm tra

Thu thập số liệu

Theo mẫu thống nhất với đặc điểm lâm

sàng, cận lâm sàng Ghi nhận trong mổ với đài

thận chọc, vị trí chọc, thời gian phẫu thuật, tai

biến biến chứng phẫu thuật theo phân loại

Clavien-Dindo Hậu phẫu ghi nhận tình trạng

tiểu máu, sốt, đau hông lưng sau mổ Đánh giá

kết quả sạch sỏi: dựa vào nội soi thận, C-Arm

lúc mổ và chụp X quang KUB sau mổ Tiêu

chuẩn sạch sỏi: hết sỏi hoặc còn mảnh sỏi <

5mm Phẫu thuật thất bại khi không chọc được

đường hầm vào thận hoặc không tiếp cận

được sỏi, hoặc phải chuyển phương pháp

trong quá trình phẫu thuật

Xử lý số liệu

Bằng phần mềm Epi-Info 3.7.5 và Epical

2000 Giá trị p < 0,05 được xem như có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ

Có 60 BN được phẫu thuật lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ với tuổi trung bình là 47,42

±11,46 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi, lớn nhất 73 tuổi Bệnh nhân nam chiếm tỉ lệ 63,33%, cao hơn so với nữ Tiền sử can thiệp lấy sỏi thận, niệu quản cùng bên có 13 BN, trong đó có 3 BN ESWL thất bại Có 15 BN sỏi thận bên phải, 15 BN sỏi thận bên trái, có 30 BN có sỏi cả 2 thận Tỉ lệ mini PCNL thận bên trái: 58,33%, thận bên phải: 41,67% Có 3 BN thiếu máu mức độ nhẹ, 2 BN ure và creatinin huyết thanh tăng Có 10 BN được cấy khuẩn nước tiểu trước mổ, kết quả 2

BN có nhiễm khuẩn đường tiết niệu trước mổ Sau mổ có 7 BN được cấy khuẩn nước tiểu, kết quả có 1 BN có kết quả dương tính

Đặc điểm sỏi thận

Kích thước sỏi trung bình: 19,12 ± 4,28 mm, viên nhỏ nhất kích thước 11 mm, viên lớn nhất

có kích thước 30 mm Sỏi thận 1 viên chiếm tỷ lệ cao nhất 42/60 BN (70%) Đài bể thận 43,33% ứ nước độ 1, 18,34% ứ nước độ 2 Phân loại sỏi theo phân loại Guy có: nhóm Guy 1 chiếm 46/60 (76,67%) BN, Guy 2 có 11/60 (18,33%) BN, Guy 3

có 3/60 (5%) BN

Kết quả phẫu thuật

Vị trí chọc ở da dưới xương sườn 12 chiếm 98,33%, có 1,67% vị trí chọc ngoài da ở gian sườn

11 và 12 Đường hầm chọc dò vào thận 100% ở đài thận dưới, không có trường hợp nào chọc vào đài giữa và đài trên 100% bệnh nhân dùng

một đường hầm để tán sỏi

Thời gian phẫu thuật TB 74,02 ± 16,37 phút, nhanh nhất 50 phút, lâu nhất 120 phút Thời gian chọc và tạo đường hầm trung bình là 9,35 ± 2,66 phút Thời gian tán lấy sỏi TB 31,93 ± 12,48 phút Phương pháp xử lý sỏi chủ yếu tán và lấy sỏi chiếm 65%, tán vụn sỏi chiếm tỉ lệ 35% 100% dẫn lưu thận ra da, 6 BN đặt JJ xuôi dòng Tỷ lệ

Trang 4

sạch sỏi sớm sau mổ là 86,67 % (52/60 BN), sót

sỏi 13,33% (8/60 BN) (Bảng 1)

Bảng 1: Thời gian phẫu thuật (n = 60)

Thời gian các thì phẫu thuật TB ± ĐLC

GTNN-GTLN

Thời gian tán, lấy sỏi (phút) 31,93 ± 12,48 15 - 65

Bảng 2: Liên quan thời gian tán sỏi với kích thước sỏi

(n =60)

KT sỏi

(mm) Số BN(n)

Thời gian tán sỏi (Phút)

TB ± ĐLC GTNN - GTLN

Bảng 3: Liên quan thời gian tán sỏi với số lượng sỏi

(n=60)

Số lượng sỏi Số BN(n) Thời gian tán sỏi (Phút)

TB ± ĐLC GTNN - GTLN

Tai biến trong phẫu thuật

Chúng tôi không gặp trường hợp nào xảy ra

tai biến: chảy máu, tổn thương nội tạng, rách đài

bể thận, tụt dây dẫn đường, tụt sheath và các tai

biến khác trong mổ

Bảng 4: Phân loại biến chứng theo Clavien - Dindo

Clavien

-Dindo Biến chứng Số BN Tỉ lệ %

Biến chứng chủ yếu loại I, II theo Clavien -

Dildo tỉ lệ 23,34% Không có biến chứng chiếm:

42 BN (70%) Điểm VAS sau mổ trung bình

4,07±0,85, không có trường nào đau nhiều, đau ít

tỉ lệ 38,33%, đau vừa tỉ lệ 61,67% (Bảng 4)

Kết quả phẫu thuật tốt, khá ở những trường

hợp không ứ nước thận là 22/23 BN (95,65%), ứ

nước độ 1 là 24/26 BN (92,31%), ứ nước độ 2 là

10/11 BN (90,91%) Sự khác nhau về mức độ

thành công với các mức độ ứ nước thận không

có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Thời gian đặt dẫn lưu thận TB 6,07±2,37 ngày Thời gian đặt thông niệu quản TB 2,43±1,01 ngày Thời gian hậu phẫu trung bình

8,18±2,38 ngày, ngắn nhất 4 ngày, lâu nhất 15

ngày Sau mổ có 3/60 BN cần can thiệp bổ sung đặt thông JJ chiếm 5%

BÀN LUẬN

Hiện nay, các kỹ thuật lấy sỏi qua da ngày càng được nghiên cứu và phát triển Trong đó,

để giảm tỉ lệ biến chứng liên quan đến việc dùng dụng cụ kích thước lớn như mất máu, rách đài

bể thận, đau sau phẫu thuật, lấy sỏi thận qua da phát triển theo hướng ít xâm hại hơn bằng cách nong đường hầm nhỏ hơn vào thận Theo khuyến cáo chỉ định lấy sỏi qua da (PCNL) của EAU năm 2015, chúng tôi lựa chọn các BN có chỉ định PCNL nhưng khối lượng sỏi không lớn, kích thước viên lớn nhất ≤ 30 mm, sỏi không phức tạp để thực hiện mini PCNL chặt chẽ, đảm bảo an toàn và hiệu quả cao Trong nghiên cứu của chúng tôi, sỏi < 25 mm là chủ yếu chiếm tỉ lệ 91,67% Không có trường hợp nào sỏi phức tạp, tất cả sỏi thuộc phân loại Guy 1, Guy 2, Guy 3 Nếu lựa chọn khối lượng sỏi lớn khi làm mini PCNL sẽ kéo dài thời gian tán và lấy sỏi, nguy cơ chảy máu, các tai biến biến chứng tim mạch, nhiễm khuẩn sẽ tăng lên Kết quả tiến hành kỹ thuật mini PCNL trong nghiên cứu của chúng tôi thành công 100%, không có BN nào thất bại Trong đó mức độ tốt 70%, mức độ khá đạt 23,34%, mức độ trung bình 6,66% Sau mổ có 3

BN phải can thiệp bổ sung bằng cách đặt thông

JJ ngược dòng, trong đó có 2 BN do sót sỏi gây cơn đau quặn thận, 1 BN rò nước tiểu sau mổ 8 ngày thì khỏi Tỉ lệ sạch sỏi sớm sau mổ của chúng tôi 86,67 %, tương đương với các tác giả

Vũ Nguyễn Khải Ca (2015), báo cáo mini PCNL trên 30 BN tỉ lệ sạch sỏi 86,2%, Nguyễn Văn Ân (2016) tiến hành mini PCNL trên 20 BN tỉ lệ sạch sỏi 80% ngay sau mổ Hoàng Long tiến hành mini PCNL dưới hướng dẫn siêu âm 270 BN tỉ lệ

Trang 5

sạch sỏi sớm sau mổ 77,7% Kết quả này chứng

minh nếu lựa chọn và chỉ định mini PCNL chặt

chẽ, hợp lý thì mini PCNL là phương pháp hiệu

quả và an toàn

Thời gian phẫu thuật trung bình trong

nghiên cứu của chúng tôi là 74,02 ± 16,37 phút,

nhanh nhất 50 phút, lâu nhất 120 phút So với

Zimmermenns V (2012) tiến hành mini PCNL

trên 652 BN với nhiều kích cỡ sỏi có thời gian mổ

trung bình 65 ± 31 phút, trong đó có 183 BN kích

thước sỏi > 5 cm2 thời gian mổ TB 77 ± 34 phút

thì thời gian mổ của chúng tôi tương đương(15)

Sebaey A (2015) thực hiện mini PCNL trên 80

BN, chia làm 2 nhóm đặt dẫn lưu thận và không

đặt dẫn lưu thận sau mổ Thời gian mổ của mỗi

nhóm lần lượt là 46,9 và 40,6 phút(10) Vũ Nguyễn

Khải Ca năm 2015, tiến hành mini PCNL trên 30

BN dưới hướng dẫn của siêu âm thời gian mổ

trung bình 89,87 phút, ngắn nhất 55 phút, dài

nhất 188 phút với kích thước sỏi trung bình 12,24

mm(14) Nguyễn Văn Ân năm (2016), báo cáo 20

BN được lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ thời

gian mổ trung bình 111,25 ± 22,74 phút(7) Trong

270 BN thực hiện mini PCNL được Hoàng Long

báo cáo năm 2017, thời gian mổ trung bình 69,53

± 27,18 phút, nhanh nhất 35 phút, lâu nhất 150

phút(4) Theo các tác giả, thời gian mổ tỉ lệ thuận

với kích thước sỏi, tỉ lệ nghịch với kích thước

đường hầm Với việc thu nhỏ đường hầm nên

phải tán sỏi thành các mảnh thật nhỏ mới có thể

bơm rửa và lấy mảnh sỏi ra ngoài, vì thế càng

thu nhỏ đường hầm thì thời gian mổ sẽ lâu hơn

Kỹ thuật tán sỏi rất quan trọng, để bảo đảm tán

sỏi thành các mảnh vụn và tạo điều kiện cho đào

thoát sỏi sau khi tán, chúng tôi thường tán từ rìa

phía có khoảng trống của viên sỏi, theo phương

pháp ‘‘rỉa’’ từ từ

Dẫn lưu sau mổ có dẫn lưu thận ra da và

dẫn lưu niệu quản Tùy theo đặc điểm, kích

thước sỏi, quá trình mổ có thuận lợi không, có

tổn thương niệu quản không, tình trạng chảy

máu nhiều hay ít mà quyết định đặt dẫn lưu hay

không Gupta V (2005) trong số 1405 BN điều trị

bằng PCNL, lựa chọn 96 BN sỏi đài dưới trước

đó điều trị thất bại với ESWL có kích thước sỏi

<1 cm, không đặt dẫn lưu thận ra da và dẫn lưu niệu quản sau mổ Kết quả theo dõi có 1 BN rò nước tiểu sau mổ được đặt thông JJ ngược dòng

bổ sung, sau đó khỏi Tác giả kết luận với sỏi đài dưới < 1 cm sau PCNL không đặt dẫn lưu thận

ra da và dẫn lưu niệu quản an toàn, giảm giá thành(3) Shah HN năm 2005 so sánh nhóm 10

BN không đặt dẫn lưu thận ra da với nhóm 10

BN đặt dẫn lưu thận ra da Bước đầu thấy không đặt dẫn lưu thận ra da yêu cầu giảm đau ít hơn

có ý nghĩa thống kê(11) Cũng Shah HN trong báo cáo không dẫn lưu thận ra da trên 46 BN với kích thước sỏi TB 33 mm, kết quả an toàn, hiệu quả(12) Năm 2017 Sebaey A so sánh 80 BN được thực hiện mini PCNL giữa đặt dẫn lưu thận ra

da (40 BN) và không đặt dẫn lưu thận ra da (40 BN) Kết quả không dẫn lưu thận ra da tỉ lệ đau sau mổ giảm hơn(10) Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% BN được dẫn lưu thận ra da kết hợp với dẫn lưu niệu quản, trong đó 90% đặt thông niệu quản sau mổ, 10% đặt thông JJ Tuy tất cả BN đều mổ thuận lợi, không có tai biến nào xảy ra trong mổ nhưng chúng tôi vẫn đặt dẫn lưu thận ra da nhằm tạo ra một kênh để chuyển lưu nước tiểu, máu và mảnh sỏi vụn Hơn nữa việc cấy khuẩn nước tiểu trước mổ không được tiến hành thường quy, tỉ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại Việt Nam không triệu chứng còn cao, nếu không đặt dẫn lưu thận ra

da có nguy cơ cao hơn xảy ra các biến chứng nhiễm khuẩn Mặt khác, kỹ thuật can thiệp nội mạch cầm máu thận tại bệnh viện Quân y 175 còn chưa đồng bộ, nên sau mổ chúng tôi đặt dẫn lưu thận vừa để theo dõi chảy máu thứ phát sau

mổ vừa để bơm bóng chèn cầm máu khi cần Chúng tôi chỉ đặt thông JJ trong những trường hợp sỏi lớn, tiên lượng nguy cơ tắc nghẽn niệu quản do mảnh sỏi, không có trường hợp nào đặt

thông JJ vì nguyên nhân khác

Thời gian đặt dẫn lưu thận ra da TB 6,05 ± 2,36 ngày, ngắn nhất 3 ngày, lâu nhất 15 ngày Trường hợp lưu thông thận 15 ngày do mảnh sỏi kẹt niệu quản sau phẫu thuật gây hạn chế lưu

Trang 6

thông nước tiểu, khi kẹp thông dẫn lưu thận, BN

đau tức mạn sườn thắt lưng tăng lên BN này

được đặt JJ ngược dòng bổ sung, sau đó ổn định

được rút dẫn lưu thận

Đau sau mổ: Điểm VAS sau mổ trung bình

của chúng tôi 4,07±0,85 điểm Faziw AM so sánh

điểm VAS giữa 75 BN làm mini PCNL với 75 BN

làm sPCNL kết quả lần lượt 3,2±0,6 và 3,3±0,8(1)

Trong nghiên cứu về MIP của Ruhayel Y kết

quả: Giuti năm 2007 tiến hành trên 40 BN với

đường hầm kích thước 14 Fr có điểm VAS TB:

5,53±1,14, Knoll năm 2010 thực hiện mini PCNL

cho 25 BN kết quả VAS TB: 3±3(9) Kết quả của

chúng tôi không có trường hợp nào đau nhiều

Về mức độ đau có 61,67% BN có cảm giác đau

vừa, 38,33% BN đau ít sau mổ

Tai biến và biến chứng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không gặp

trường hợp nào tai biến trong mổ Có 18/60 BN

có biến chứng, tỉ lệ 30% bao gồm các loại biến

chứng I, II, IIIa theo phân loại Clavien – Dildo

So với các tác giả khác, tỉ lệ biến chứng theo

phân loại Clavien – Dindo của chúng tôi cao

hơn Tuy nhiên trong các biến chứng của chúng

tôi, không có trường hợp nào nặng, chỉ gồm các

biến chứng độ I, độ II và độ IIIa, trong đó sốt sau

mổ là chủ yếu

Sốt sau mổ chiếm tỉ lệ khá cao 25%, khả năng

do nhiễm khuẩn đường tiết niệu tiềm tàng

không triệu chứng hoặc do độc tố vi khuẩn tồn

tại trong sỏi Quá trình tán sỏi, giải phóng độc tố

vi khuẩn gây sốt Đây là biến chứng thường gặp

trong PCNL(5) Biến chứng chảy máu thứ phát

gặp 1 BN sau mổ BN này chảy máu mức độ ít

không phải truyền máu, chỉ điều trị nội khoa và

bơm tăng kích thước bóng chèn đến ngày thứ

năm sau mổ thì hết chảy máu Không có trường

hợp nào phải truyền máu

Tỉ lệ biến chứng trong báo cáo của Sung YM

năm 2006 trên 72 BN sốt 11,1%, rò nước tiểu qua

vết mổ 2,8%(13) Theo Ferakis N trong nghiên cứu

hồi cứu đa trung tâm thấy rằng tỉ lệ biến chứng

theo Clavien trong các loạt mini PCNL từ 11,9%

đến 37,9%(2) Trong báo cáo của Nguyễn Văn Ân,

tỉ lệ biến chứng theo phân độ Clavien – Dindo là 4/20 BN chiếm tỉ lệ 20% Có 1 BN biến chứng phân độ IIIb do tụt dây dẫn đường trong mổ, phải chuyển mổ mở Năm 2018, Nguyễn Văn Truyện trong 93 BN, 3 BN chảy máu phải chuyển mổ mở tỉ lệ 3,2%, 4 BN phải truyền máu

tỉ lệ 4,3%(8) Theo chúng tôi, có nhiều khâu trong kĩ thuật

để đảm bảo hiệu quả và hạn chế tai biến biến chứng của phẫu thuật lấy sỏi qua da, trong đó chọc dò vào thận tiếp cận sỏi thuận lợi là một trong những yếu tố quan trọng nhất Thông thường, vị trí thuận lợi để chọc vào thận cho hầu hết sỏi bể thận, sỏi bể thận có kết hợp sỏi đài dưới hoặc cả đài dưới và đài trên, đài thận được lựa chọn chọc sẽ là đài sau dưới Sỏi được tán và lấy từ đài dưới, qua cổ đài dưới vào bể thận và lên đài trên Trường hợp sỏi bể thận đơn thuần hoặc có kết hợp sỏi đài giữa, đài thận nên được lựa chọn chọc là đài giữa, sỏi được tán và lấy từ đài giữa vào bể thận sẽ thuận lợi Những trường hợp sỏi thận có cả 3 đài, sỏi san hô, chọc vào đài dưới thận trước, sau đó tùy theo trường hợp cụ thể trong mổ mà quyết định có chọc đường hầm thứ 2, thứ 3 vào các đài khác trên và giữa để có thể lấy được tối đa sỏi thận trong cuộc mổ Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân được chọc đường hầm vào đài dưới với 1 đường hầm

Năm 2017, Hoàng Long và cộng sự báo cáo

270 BN được lấy sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm Kết quả đường hầm chọc vào đài giữa thận được thực hiện nhiều nhất 71,5%, chọc vào đài dưới 23,7%, chọc vào đài trên thấp nhất 4,8% Theo tác giả, chọc vào đài giữa có thuận lợi khoang đài giữa

bể thận là khoang rộng nhất so với đài trên và đài dưới Nên được ưu tiên chỉ định cho sỏi bể thận đơn thuần hoặc kết hợp sỏi đài thận và sỏi san hô Đường hầm từ đài giữa vào bể thận sau khi đặt Amplatz, có thể xoay Amplatz lên các đài trên - dưới, trước - sau đều thuận lợi và dễ dàng hơn, khi nong qua các cổ đài để tiếp cận sỏi trong các đài nhỏ dễ hơn Đồng thời cũng thuận

Trang 7

lợi hơn cho việc soi xuống bể thận, niệu quản tán

lấy sỏi và đặt thông JJ khi cần(4) Nguyễn Phúc

Cẩm Hoàng năm 2016 trong 44 bệnh nhân,

đường hầm vào đài dưới thận là chủ yếu chiếm

79,5%(6) Nguyễn Vân Ân năm 2016 trong 20 BN

có 80% đường hầm vào đài dưới(7)

Vị trí chọc dò vào đài thận nào phụ thuộc vị

trí, số lượng, hình thái sỏi, giải phẫu đài bể thận

cũng như kinh nghiệm của phẫu thuật viên

Đường vào thận an toàn phải đảm bảo các yếu

tố: chọc vào đỉnh vòm đài, trùng với trục đài

thận định chọc, không đi xuyên qua cổ đài thận

và khoảng cách từ chỗ rạch da đến đài thận phải

ngắn nhất Đường vào thận từ đài dưới có ưu

điểm: dễ thực hiện, chắc chắn lấy hết sỏi bể thận

và trong một số trường hợp có thể tiếp cận được

sỏi đài trên, giảm khả năng làm tổn thương phổi,

màng phổi Tuy nhiên khả năng tiếp cận sỏi ở

đài giữa, sỏi ở khúc nối bể thận, niệu quản và ở

một số đài thận chung quanh đài dưới rất khó

Nếu sỏi ở đài trên, thao tác có thể gặp khó khăn

do đụng mông bệnh nhân Để giảm những hạn

chế này chúng tôi chọn góc chọc hợp với mặt

phẳng lưng một góc đủ lớn khoảng 500

KẾT LUẬN

Tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ đối với

sỏi thận dưới 3cm là phương pháp an toàn và

hiệu quả, hạn chế tới mức thấp tổn thương nhu

mô thận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Fawzi AM, Sakr AMN, Youssef MK, et al (2015) "Minimally

invasive percutaneous nephrolithotomy versus standard PCNL

for management of renal stones in the flank-free modified

supine position: Single center experience" European Urology

Supplements, 14(2):pp.584

2 Ferakis N, Stavropoulos M (2015) "Mini percutaneous

nephrolithotomy in the treatment of renal and upper ureteral

stones: Lessons learned from a review of the literature" Urol Ann, 7(2):141-148

3 Gupta V, Sadasukhi TC, Sharma KK, et al (2005) "Tubeless and

stentless percutaneous nephrolithotomy" BJU Int, 95(6):905-906

4 Hoàng Long, Trần Quốc Hòa, Nguyễn Đình Liên và cs (2017)

"Tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn bằng

siêu âm, lựa chọn tối ưu trong điều trị sỏi đài bể thận" Tạp chí Y Dược học, Trường Đại học y Dược Huế, Số đặc biệt, pp.304-314

5 Moreno-Palacios J, Aviles-Ibarra OJ, Garcia-Pena E, et al (2018)

"Rearrangement of the Guy's stone score improves prediction of

stone-free rate after percutaneous nephrolithotomy" Turk J Urol,

44(1):36-41,

6 Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (2016) "Lấy sỏi thận qua da: kinh

nghiệm tại Bệnh viện Bình Dân" Tài liệu hội thảo: Lấy sỏi thận qua

da đường hầm nhỏ, Bệnh viện Bình Dân, TP Hồ Chí Minh, pp.3-20

7 Nguyễn Văn Ân, Chung Tuấn Khiêm, Nguyễn Lê Quý Đông và

cs (2016) "Bước đầu đánh giá hiệu quả và an toàn của phương

pháp tán sỏi qua da đường hầm nhỏ với Laser Holmium" Y học

TP Hồ Chí Minh, 20(3s):173-179

8 Nguyễn Văn Truyện, Vũ Thanh Tùng, Phạm Đình Hoài Vũ (2018) "Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ vào thận tại Bệnh viện đa khoa Thống nhất

Đồng nai" Y học TP Hồ Chí Minh, 22(2):108-115

9 Ruhayel Y, Tepeler A, Dabestani S, et al (2017) "Tract Sizes in Miniaturized Percutaneous Nephrolithotomy: A Systematic Review from the European Association of Urology Urolithiasis

Guidelines Panel" Eur Urol, 72(2):220-235,

10 Sebaey A, Khalil MM, Soliman T, et al (2016) "Standard versus tubeless mini-percutaneous nephrolithotomy: A randomised

controlled trial" Arab J Urol, 14(1):18-23,

11 Shah HN, Kausik VB, Hegde SS, et al (2005) "Safety and efficacy

nephrolithotomy" Urology, 66(3):500-504,

12 Shah HN, Kausik VB, Hegde SS, et al (2005) "Tubeless percutaneous nephrolithotomy: a prospective feasibility study

and review of previous reports" BJU Int, 96(6):879-883,

13 Sung YM, Choo SW, Jeon SS et al (2006) "The “mini-perc” technique of percutaneous nephrolithotomy with a 14-Fr

peel-away sheath: 3-year results in 72 patients" Korean J Radiol, 7:50-56

14 Vũ Nguyễn Khải Ca, Hoàng Long, Chu Văn Lâm và cs (2015)

"Tán sỏi thận qua da bằng đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của

siêu âm" Y học TP Hồ Chí Minh, 19(4):277-281

15 Zimmermanns V, Kurzidim S, Liske P, et al (2012) “Minimal invasive PCNL (MPCNL) - proven efficiency and safety after

more than 650 consecutive patients" Eur Urol Suppl, 11:pp.1035

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w