1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học

91 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC BÙI THỊ THÚY PHƯƠNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” - VẬT LÍ 10 NHẰM PHÁT

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ THÚY PHƯƠNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” - VẬT LÍ 10

NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ THÚY PHƯƠNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “ ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” - VẬT LÍ 10

NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí

Mã số: 8.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Thu Hiền

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả quá trình học tập và nghiên cứu của em tại trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các Thầy, các Cô trong trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Lê Thị Thu Hiền, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các Thầy giáo, cô giáo tổ vật

lí trường THPT Đào Duy Từ Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em tiến hành khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm đề tài

Hà Nội, tháng 6 năm 2019

Tác giả

Bùi Thị Thúy Phương

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh nhóm truyền thống và nhóm hợp tác 13

Bảng 1.2 Cấu trúc năng lực hợp tác giải quyết vấn đề theo PISA 15

Bảng 1.3 Nội dung chi tiết cấu trúc NL hợp tác GQVĐ theo PISA 16

Bảng 3.1 Sĩ số và phân bố điểm thi chất lƣợng đầu học kì 1 của nhóm lớp TN, ĐC 64

Bảng 3.2 Điểm số của hai nhóm TN và nhóm ĐC 69

Bảng 3.3 Phân bố điểm theo mức Giỏi, khá, trung bình, yếu 69

Bảng 3.4 Phân bố tần số lũy tích hội tụ lùi của hai nhóm TN và ĐC 71

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực 8

Hình 1.2 Mô hình các thành phần cấu trúc của năng lực 9

Hình 2.1 Grap nội dung kiến thức chương “ Động lực học chất điểm” 29

Hình 2.2 Ảnh minh họa sử dụng gậy khi leo núi 32

Hình 2.3 Ảnh minh họa máy bay di chuyển trên đường băng 33

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Chất lượng học tập đầu kì I của nhóm TN và ĐG 65 Biểu đồ 3.2 Phân bố điểm của hai nhóm TN và nhóm ĐC 70 Biểu đồ 3.3 Đường phân bố tần số lũy tích hội tụ lùi của hai nhóm TN và ĐC71

Trang 8

vi

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp mới của đề tài 5

8 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Khái niệm năng lực và phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh THPT 6

1.1.1 Khái niệm năng lực 6

1.1.2 Cấu trúc của năng lực 7

1.1.3 Khung năng lực chính theo OECD và những năng lực hình thành cho học sinh phổ thông 10

1.2 Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề 11

1.2.1 Khái niệm về học hợp tác 11

1.2.2 Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ 12

1.2.3 Vấn đề và giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí THPT 14

1.2.4 Thế nào là năng lực hợp tác giải quyết vấn đề 14

1.2.5 Cơ sở hình thành của năng lực hợp tác giải quyết vấn đề 15

1.2.6 Cấu trúc của hoạt động hợp tác giải quyết vấn đề 15

Trang 9

vii

1.3 Bài tập vật lí 17

1.3.1 Khái niệm bài tập vật lí 17

1.3.2 Mục đích sử dụng bài tập vật lí 17

1.3.3 Phân loại bài tập vật lí 18

1.3.4 Phương pháp giải bài tập vật lí 19

1.3.5 Xây dựng lập luận trong giải bài tập vật lí 20

1.3.6 iải bài tập ật lí tính toán 21

1.3.7 Bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học vật lí THPT 21

1.3.8 Thực trạng dạy học phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh THPT thông qua bài tập vật lí gắn với thực tiễn 22

Kết luận chương 1 27

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÍ GẮN VỚI THỰC TIỄN CHƯƠNG “ ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” - VẬT LÍ 10 28

2.1 Tổng quan nội dung chương trình chương “ Động lực học chất điểm”28 2.1.1 Vị trí và vai trò của chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 28

2.1.2 Grap Nội dung kiến thức chương “ Động lực học chất điểm” [3] 29

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập vật lí gắn với thực tiễn chương “ Động lực học chất điểm” [2], [6] 30

2.2.1 Hệ thống bài tập định tính 30

2.2.2 Hệ thống bài tập định lượng 38

2.3 Xây dựng tiến trình dạy học một số bài ở chương “ Động lực học chất điểm” có sử dụng bài tập gắn với thực tiễn theo định hướng phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề 48

Kết luận chương 2 60

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 61

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 61

3.3 Phương pháp thực nghiệm 62

3.3.1 Phương pháp quan sát 62

Trang 10

viii

3.3.2 Phương pháp thống kê toán học 62

3.4 Đối tƣợng và thời gian, địa điểm thực nghiệm sƣ phạm 62

3.5 Nội dung thực nghiệm sƣ phạm 62

3.6 Xây dựng tiêu chí đánh giá 63

3.6.1 Đánh giá định tính 63

3.6.2 Đánh giá định lượng 63

3.7 Kết quả thực nghiệm 64

3.7.1 Đánh giá định tính 66

3.7.2 Đánh giá định lượng 68

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 1 77

PHỤ LỤC 2 80

Trang 11

Liên hiệp quốc UNESCO đã đề xướng mục đích học tập: "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình" như một lời khẳng định

về sự bất diệt của việc học Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học là việc cần thiết và cấp bách để đáp ứng được mục tiêu học tập và tạo ra nguồn lực phù hợp yêu cầu của giai đoạn hiện nay

Bộ Giáo dục và đào tạo định hướng mục tiêu của giáo dục phổ thông là phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực sáng tạo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Điều này được nêu rõ trong mục 8, điều 2 của

Luật giáo dục năm 2015 : “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” [9]

Tại nghị quyết số 29, Hội nghị Trung Ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đã đưa ra những quan điểm mới đáp ứng yêu cầu của nền công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay Trong đó, nêu rõ quan

điểm “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.” [1] Đồng thời, nghị quyết đưa ra mục tiêu mà giáo dục

hướng đến là sự phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học Giáo dục không chỉ là việc truyền thụ kiến thức đơn thuần mà còn chú trọng đến việc hình thành các NL, kỹ năng cho người học Lý thuyết phải gắn liền với thực tiễn, như vậy học tập không mang tính hàn lâm mà ứng dụng thực

Trang 12

2

tiễn trong cuộc sống hàng ngày Phương pháp dạy học tiếp cận năng lực trong thời đại 4.0 hiện nay là phương pháp không chỉ Việt Nam mà rất nhiều các nước trên Thế giới cũng đang hướng đến

Vật lí là một môn học mang tính khoa học thực nghiệm, chính vì thế các kiến thức vật lí gắn liền với thực tiễn đời sống Ngoài việc giảng dạy lý thuyết vật lí thì bài tập vật lí gắn với thực tiễn luôn giữ một vai trò quan trọng trong thực hiện tiến trình dạy học của người giáo viên Trong quá trình giải bài tập vật lí gắn liến với thực tiễn sẽ giúp tăng sự hứng thú trong học tập cho học sinh, giúp củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức của bài giảng, phát triển năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, xây dựng những

kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn

Thực tế hiện nay, nhiều giáo viên còn dạy học bài tập theo phương pháp truyền thống khiến nhiều học sinh thụ động chỉ biết đến các phương pháp giải đã được đưa ra và áp dụng máy móc công thức vào tính toán làm giảm đi bản chất vật lí, thiếu khả năng tư duy và vận dụng cao trong những bài tập nâng cao và thiếu sự liên tưởng, áp dụng vào thực tiễn

Trong chương trình vật lí THPT, chương "Động lực học chất điểm" – Vật lí 10 là phần có nội dung lý thuyết khó hiểu và khó nhớ hơn đối với học sinh, học sinh thường không hứng thú khi giải bài tập Do đó, nếu xây dựng

và sử dụng được hệ thống bài tập gắn với thực tiễn chương "Động lực học chất điểm" – Vật lí 10 thì sẽ kích thích học sinh tìm tòi, khám phá, giúp học sinh hiểu sâu, mở rộng lý thuyết từ đó phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh

Do đó, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “ Xây dựng và sử dụng bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học chương “Động lực học chất điểm”- Vật

lí 10 nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh”

Trang 13

3

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học chương

“Động lực học chất điểm” Vật lí 10 nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Bài tập Vật lí gắn với thực tiễn và quy trình

sử dụng bài tập Vật lí để phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của HS trong dạy học Vật lí

- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình dạy học bài tập gắn với thực tiễn

chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 tại trường THPT Đào Duy Từ Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng được bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 thì sẽ phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh trung học phổ thông

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của

HS, về bài tập Vật lí, về bài tập gắn với thực tiễn môn Vật lí

- Tìm hiểu thực trạng về dạy học bài tập gắn với thực tiễn tại trường

THPT Đào Duy Từ Hà Nội

- Phân tích cấu trúc, nội dung dạy học chương “Động lực học chất

điểm” - Vật lí 10 theo chuẩn kiến thức, kĩ năng

- Xây dựng hệ thống bài tập gắn với thực tiễn chương “Động lực học

chất điểm”- Vật lí 10

- Thiết kế tiến trình dạy học có sử dụng bài tập vật lí gắn với thực tiễn

để phát triển triển năng lực hợp tác GQVĐ cho HS

Trang 14

4

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả của việc

sử dụng bài tập thực tiễn trong giảng dạy theo hướng phát triển năng lực hợp tác GQVĐ của học sinh

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu:

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên để nghiên cứu các tài liệu về dạy học gắn với thực tiễn, phương pháp dạy học bộ môn vật lí theo hướng

phát huy năng lực hợp tác giải quyết vấn đề

Nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lý luận của năng lực, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác giải quyết vấn đề để xây dựng lí

do chọn đề tài và cơ sở lí luận

Nghiên cứu sách giáo khoa vật lí 10 và các tài liệu tham khảo có liên quan đến chủ đề “ Động lực học chất điểm”

- Các phương pháp nghiên cứu thông qua thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ và sự hứng thú của học sinh

thông qua tiết học bài tập vật lí gắn với thực tiễn

+ Phương pháp điều tra: Thực hiện phỏng vấn một số học sinh trong

lớp sau tiết học bài tập để đánh giá mức độ hiệu quả của tiết dạy và thái độ, sự hứng thú của học sinh đối với tiết dạy

Trưng cầu ý kiến của các giáo viên vật lí khác về thực trạng dạy học bài tập gắn với thực tiễn chương “Động lực học chất điểm”

+ Phương pháp TN khoa học

- Phương pháp thống kê toán học : Những số liệu thu được từ TNSP,

chúng tôi sử dụng phương pháp này để đo lường, đánh giá được tính khả thi của đề tài

Trang 15

5

7 Đóng góp mới của đề tài

- Về lý luận: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển năng

lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh thông qua dạy các bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học Vật lí

- Về thực tiễn: Xây dựng được bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học

chương “Động lực học chất điểm” - Vật lí 10 và các tiến trình dạy học sử dụng bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học các bài "Động lực học chất

điểm" - Vật lí 10

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh THPT

Chương 2 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập vật lí gắn với thực tiễn chương “Động lực học chất điểm” - vật lí 10

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm năng lực và phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh THPT

1.1.1 Khái niệm năng lực

Khái niệm năng lực thu hút được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và

ở Việt Nam quan tâm, năng lực được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách hiểu khác nhau

Trong từ điển tiếng việt của Viện ngôn ngữ học, năng lực được hiểu là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó [11]

Theo tài liệu tập huấn bồi dưỡng “ Phương pháp biên soạn, tổ chức giảng dạy và đánh giá bài giảng tích hợp” : Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.[5]

John Erpenbeck - Nhà khoa học người Đức đã chỉ ra: “…năng lực được xây dựng dựa trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị như các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí” [8]

Theo nhà tâm lí học người Pháp Denyse Tremblay quan niệm rằng: “ năng lực là khả năng hành động để đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng nguồn lực hợp tác một cách hiệu quả nhằm giải quyết các vấn đề” [10]

Theo bộ trưởng giáo dục OECD - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới quan niệm “Sự phát triển bền vững và sự gắn kết xã hội phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của tất cả chúng ta với năng lực được hiểu là bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ và giá trị” [16, tr4]

Trong khoa học tâm lý, năng lực được coi là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp

Trang 17

Một người được coi là có năng lực về một lĩnh vực phải là người có khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân để giải quyết thành công các vấn đề được đưa ra thuộc lĩnh vực đó

1.1.2 Cấu trúc của năng lực

Hiện nay, cấu trúc của năng lực được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau Cấu trúc của năng lực bao hàm kiến thức, kĩ năng, thái độ và phẩm chất của chủ thể hành động NL được biểu hiện thông qua việc kết hợp linh hoạt các kiến thức, kĩ năng và thái độ để xử lý một tình huống thực tế NL khác với khả năng và tiềm năng Trong GD, NL hình thành và phát triển thông qua hoạt động của người học, muốn đo lường và đánh giá năng lực phải đánh giá thông qua tình huống xác định mà chủ thể hành động

Như vậy, tùy theo cách tiếp cận mà mỗi tác giả có thể đưa ra mô hình khác nhau về cấu trúc năng lực Trong GD, năng lực được chia thành ba phần như mô hình tảng băng của tác giả Sigmund Freud miêu tả cấu trúc bộ máy tư duy của con người Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực đã thể hiện được quan điểm của các nhà giáo dục về đánh giá kết quả học tập của người học – không chỉ đánh giá qua bề nổi, qua sản phẩm mà người học thể hiện ra bên ngoài mà còn khai thác, đánh quá những nhân tố tiềm ẩn của họ/ phần chìm

Trang 18

(Nguồn: Tài liệu tập huấn kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường tiểu học, Bộ giáo dục và đào tạo.)

Từ mô hình trên, chúng ta thấy được 3 được phân bố rất rõ ràng:

Tầng 1 – Phần tâm thức được xem là đỉnh của tảng băng Nó bao gồm những suy nghĩ, kỹ năng, thái độ trở thành hành động – Quan sát được

Tầng 2 – Phần ý thức là những suy nghĩ, cảm xúc, những kiến thức có sẵn chỉ biểu hiện thành hành động khi cần thiết, chúng ở dạng tiềm năng – Không quan sát được

Tầng 3 – Phần tiềm thức là tầng sâu nhất Đây là nguồn gốc hành vi của con người, nó ảnh hưởng đến các phán đoán của ý thức Trong phần tiềm thức, những cảm xúc, động cơ có tính quyết định rất lớn Bởi nếu cá nhân mỗi người học thực sự mong muốn và quyết tâm, họ có thể đạt được những điều ở tầng 2 và thể hiện qua hành vi có thể quan sát được ở tầng 1, còn nếu họ

Trang 19

độ khác nhau được gọi là tiêu chí chất lượng (quality criteria)

Dưới đây là một mô hình biểu đạt khác về cấu trúc năng lực

Hình 1.2 Mô hình các thành phần cấu trúc của năng lực

(Nguồn: Tài liệu tập huấn kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường tiểu học, Bộ giáo dục và đào tạo.)

Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 nhóm năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn ( Nhóm năng lực phát triển bản thân), năng lực phương pháp (nhóm năng lực công cụ), năng lực xã hội ( nhóm năng lực về quan hệ xã hội) , năng lực cá thể ( nhóm năng lực làm chủ bản thân)

Năng lực chuyên môn Năng lực phương pháp

Năng lực

xã hội Năng lực

cá thể

Trang 20

Khả năng sử dụng kiến thức và tương tác thông tin: năng lực này đòi hỏi sự phản ánh quan trọng về bản chất của thông tin và các kiến thức văn hóa, xã hội Năng lực thông tin là cần thiết, là cơ sở để hiểu các lựa chọn và hình thành nên ý kiến, đưa ra quyết định và thực hiện các hành động có trách nhiệm

Khả năng sử dụng hệ thống công nghệ thông tin tương tác để hoàn thành mục tiêu của người học: tìm kiếm tài liệu qua internet; tương tác, trao đổi qua email,…

Thứ hai, người học cần có khả năng tương tác trong các nhóm không đồng nhất, bao gồm: khả năng duy trì các mối quan hệ tốt với những người khác, khả năng hợp tác hợp tác, khả năng quản lý và giải quyết xung đột

Thứ ba, người học cần có khả năng hoạt động tự chủ, bao gồm: khả năng hình thành và thực hiện kế hoạch cuộc sống và dự án cá nhân; khả năng bảo vệ và khẳng định quan điểm, lợi ích, nhu cầu của bản thân.[16]

Đây là những năng lực chung cần có và có thể hình thành, phát triển ở học sinh trong tất cả các môn học và hoạt động GD Dựa trên bản chất của những năng lực chung cần hình thành và phát triển, Chương trình giáo dục

Trang 21

Năng lực giao tiếp và hợp tác: năng lực này được thể hiện trong quan

1.2 Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề

1.2.1 Khái niệm về học hợp tác

Học hợp tác là hình thức học sinh cùng làm việc trong những nhóm nhỏ

để hoàn thành công việc chung Theo đó, quan điểm học tập này yêu cầu sự tham gia, đóng góp trực tiếp của người học vào quá trình học tập, người học phải làm việc cùng nhau để nỗ lực phối hợp giải quyết vấn đề chung Trong học hợp tác, GV trao quyền chủ động cho HS, các em được tham gia và quyết định cách thức, tiến trình học tập GV chỉ là người hỗ trợ, hướng dẫn khi cần thiết.[7]

Học hợp tác sẽ có nhiều ảnh hưởng tốt đến tính tích cực, tự giác, khả năng giao tiếp và tinh thần làm việc nhóm trong hoạt động học tập của học sinh như:

- Tạo điều kiện cho tất cả các HS trong lớp đều được tham gia vào các hoạt động học tập trong giờ học

Trang 22

1.2.2 Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian được giới hạn, mỗi nhóm chịu trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng thành viên trong nhóm

Trong dạy học hợp tác, người dạy cũng sẽ có các hình thức tổ chức học tập với những yêu cầu cụ thể mang tính đặc thù riêng:

- Xây dựng các bài tập yêu cầu người học phải tư duy

- Đoàn kết các thành viên trong nhóm, tạo sự tin cậy lẫn nhau để hợp tác làm việc

- Đảm bảo cho tất cả các HS trong nhóm đều làm việc, tạo điều kiện cho các

cá nhân nắm vững kiến thức và kỹ năng

- GV phải quan sát HS đã làm việc như thế nào, nắm được những kiến thức

gì, hướng dẫn HS cách đánh giá, cách suy nghĩ, cách lắng nghe và tiếp thu ý kiến của người khác

- GV phải chú trọng việc phát triển các năng lực cho học sinh: năng lực giao tiếp, năng lực tự chủ,…

Trang 23

Nhiệm vụ nhóm đơn giản, một cá

nhân cũng có thể thực hiện

Nhiệm vụ nhóm phức tạp, yêu cầu lượng kiến thức lớn kết hợp nhiều kiến thức liên môn, học sinh cần có

sự tương tác với các thành viên trong nhóm

Học sinh tin rằng họ được đánh giá

theo cá nhân không phải theo nhóm

Như vậy, họ sẽ ít tương tác và không

chia sẻ, học hỏi từ các thành viên

khác

Học sinh tin rằng hoàn thành tốt nhiệm vụ phải dựa vào nỗ lực của cả nhóm Họ sẽ giúp đỡ nhau bằng cách giải thích, chia sẻ một số kinh nghiệm bản thân có được

Khi nhóm không hoàn thành tốt, các

thành viên sẽ đổ lỗi cho nhau và sẽ

trở nên chán nản khi làm việc

Họ giữ trách nhiệm liên kết các thành viên và giải quyết các mâu thuẫn Các thành viên luôn giữ tinh thần làm việc cao trong khi làm việc cùng nhau Đưa mục đích chung lên trên cái tôi cá nhân

Giáo viên không cung cấp lại phản

hồi cho những hoạt động của nhóm

Giáo viên cung cấp phản hồi nhằm giúp việc hoạt động của nhóm trở nên tốt hơn

Trang 24

14

1.2.3 Vấn đề và giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí THPT

Hoạt động nhận thức của con người chỉ thực sự bắt đầu khi con người gặp phải mâu thuẫn: một bên là trình độ hiểu biết đang có, bên kia là nhiệm

vụ mới phải giải quyết một vấn đề được đặt ra Để khắc phục mâu thuẫn và giải quyết thành công vấn đề thì phải dựa trên kiến thức đã có, xây dựng và phát triển kiến thức, kỹ năng, phương pháp mới Như vậy, hoạt động của học sinh trong quá trình học tập chính là hoạt động giải quyết vấn đề

Vấn đề là cách thức hoặc kết quả mà HS chưa biết cách thực hiện hoặc chưa biết cách thực hiện nào là tối ưu, nhưng HS đã nắm được kiến thức nền tảng, để từ đó HS cần phải tư duy để tìm tòi ra kết quả hay cách thức hình thành bài làm

1.2.4 Thế nào là năng lực hợp tác giải quyết vấn đề

Được OECD chọn là một trong lĩnh vực mới được đánh giá trong PISA

2015, CPS được định nghĩa trong khung dự thảo là khả năng của một cá nhân tham gia hiệu quả vào quá trình Theo đó hai hoặc nhiều tác nhân cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách chia sẻ sự hiểu biết và nỗ lực cần có để đi đến một giải pháp và tập hợp kiến thức, kỹ năng và nỗ lực để đạt được giải pháp tối ưu (OECD, 2013) [14]

CPS có khả năng thúc đẩy các kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng xã hội và lòng tự trọng của các thành viên trong nhóm Bằng cách sử dụng sự hợp tác và giao tiếp, các thành viên thường học hỏi lẫn nhau và xây dựng kiến thức có ý nghĩa thường dẫn đến kết quả học tập tốt hơn so với công việc cá nhân [19]

Theo tiến sĩ Green – người khởi nguồn mô hình CPS và mô tả trong các cuốn sách khác nhau của mình, việc giải quyết vấn đề thuộc loại hợp tác và chủ động Mục tiêu là thúc đẩy sự hợp tác giữa người lớn và trẻ em và để trẻ

em tham gia giải quyết các vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng Do

đó, mô hình CPS không mang tính trừng phạt và không đối nghịch, giảm khả

Trang 25

15

năng xung đột, tăng cường mối quan hệ, cải thiện giao tiếp và giúp trẻ em, người lớn học hỏi, thể hiện các kỹ năng về mặt tích cực hơn của bản chất con người: đồng cảm, đánh giá cao cách thức hành vi của một người đang ảnh hưởng đến người khác, giải quyết những bất đồng theo những cách không liên quan đến xung đột, theo quan điểm của người khác và trung thực [18]

1.2.5 Cơ sở hình thành của năng lực hợp tác giải quyết vấn đề

Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề đòi hỏi sự tương tác giữa hai người trở lên trong việc giải quyết một vấn đề nào đó Các cá nhân phải nhận thức được mâu thuẫn giữa tình huống thực tế và hiểu biết của bản thân để từ đó biến mẫu thuẫn thành vấn đề cần được giải quyết dựa trên khả năng của bản thân trong việc kết hợp với nhau để tìm tòi, khám phá, tổng hợp và xử lý thông tin từ nhiều nguồn khác nhau

1.2.6 Cấu trúc của hoạt động hợp tác giải quyết vấn đề

Khung CPS trong PISA: CPS được thiết kế dành riêng cho đánh giá dựa trên máy tính chế độ (CBA) với hai lĩnh vực cốt lõi có liên quan: Giải quyết vấn đề thành thạo và cộng tác thành thạo Trong GD, có thể khái quát cấu trúc NL hợp tác GQVĐ theo PISA chia thành hai phần: năng lực hợp tác

và năng lực giải quyết vấn đề

Bảng 1.2 Cấu trúc năng lực hợp tác giải quyết vấn đề theo PISA

NĂNG LỰC HỢP TÁC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Năng lực hợp tác

Trang 26

16

Bảng 1.3 Nội dung chi tiết cấu trúc NL hợp tác GQVĐ theo PISA [10]

Thiết lập và đóng góp kho dữ liệu chung

Lựa chọn giải pháp thích hợp

để giải quyết vấn

đề

Duy trì nhóm làm việc

Phát hiện các kiểu hợp tác để đạt được yêu cầu

và tiến hành thiết lập mục tiêu

Hiểu được các nguyên tắc giải quyết vấn đề

Diễn tả vấn đề Xây dựng một bài

miêu tả chung và nhận thức được ý nghĩa của vấn đề

Xác định và miêu tả mục tiêu cần được hình thành

Miêu tả các nguyên tắc và tổ chức của nhóm

Lên kế hoạch và

thực hiện

Giao tiếp với các thành viên trong nhóm về hoạt động nhóm đang hướng tới

Thực hiện kế hoạch

Theo dõi các nguyên tắc đã được đưa ra

Giám sát và

phản ánh

Giám sát và sửa chữa những hiểu biết

đã được các thành viên trong nhóm chia sẻ

Giám sát kết quả của hành động và đánh giá thành công khi giải quyết vấn đề

Giám sát, cung cấp phản hồi và khả năng thích nghi với nguyên tắc và cách thức

tổ chức nhóm

Trang 27

17

1.3 Bài tập vật lí

1.3.1 Khái niệm bài tập vật lí

BTVL là một vấn đề được đặt ra, đòi hỏi HS vận dụng các kiến thức,

kỹ năng, kỹ xảo để giải quyết vấn đề Qua đó, bài tập vật lí giúp HS ôn tập đào sâu, mở rộng kiến thức, làm phát triển tư duy sáng tạo của người học Đồng thời, GV thông qua quá trình giải bài tập đánh giá được mức độ nắm vững kiến thức của HS

Bài tập vật lí gắn với thực tiễn là những vấn đề được đưa ra liên quan gần gũi với đời sống, để giải quyết thành công vấn đề HS không những phải nắm chắc, vận dụng linh hoạt các kiến thức nền tảng: định nghĩa, định luật, tính chất,… mà còn phải hiểu sâu lý thuyết, vận dụng tốt và tư duy ra các hệ quả của chúng Bài tập vật lí gắn với thực tiễn chú trọng đến việc áp dụng lý thuyết vào đời sống đòi hỏi người học phải tư duy linh hoạt và sáng tạo trong quá trình giải bài tập

- Phương tiện rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức khái quát

đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, học tập đi đôi thực hành trong đời sống

- Rèn luyện tư duy sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp NCKH cho học sinh

- Rèn luyện những đức tính: tự lập, cẩn thận, kiên trì, tinh thần vượt khó

Trang 28

18

- Là phương tiện để kiểm tra đánh giá khả năng tổng hợp và vận dụng kiến thức, kỹ năng của HS

1.3.3 Phân loại bài tập vật lí

Phân loại bài tập vật lí theo tính chất bài tập:

Bài tập định tính: là những bài tập đơn giản mà khi giải, học sinh không cần phải thực hiện các phép tính phức tạp hay chỉ phải làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được

Với bài tập định tính HS phải hiểu rõ các khái niệm, định luật Vật lí và nhận biết những biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể bởi HS chỉ cần lập luận lôgic để chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng hay dự đoán hiện tượng

gì sẽ xảy ra

Ưu điểm khi giải các bài tập định tính: phát triển óc quan sát, tư duy sáng tạo tăng thêm hứng thú, khả năng lập luận và phân tích của học sinh Do vậy, khi dạy GV cần ưu tiên loại bài tập này hàng đầu sau khi học lý thuyết và trong khi luyện tập, ôn tập Bài tập định tính có thể là bài tập đơn giản, trong đó chỉ

áp dụng một một phép suy luận logic, một quy tắc, định luật Ví dụ: giải thích hiện tượng nguyệt thực, hiện tượng cầu vồng,…

Bài tập tính toán: là những bài tập mà muốn giải chúng ta phải thực hiện một loạt phép tính phức tạp và kết quả thu được một đáp số định lượng, giá trị của một số đại lượng vật lý

Bài tập thí nghiệm: là bài tập dựa trên việc làm thí nghiệm Kết quả tìm được để kiểm chứng lời giải thích lý thuyết hoặc để giải bài tập vật lí Những thí nghiệm này thường đơn giản HS có thể làm ở nhà thông qua những dụng

cụ đơn giản dễ tìm hoặc tự làm được

Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng tốt về giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt là làm sáng tổ mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành

Nội dung chính của bài tập thí nghiệm là vận dụng các định luật Vật lí để lý giải các hiện tượng mới

Trang 29

19

Bài tập đồ thị: là loại bài tập mà các số liệu trên đồ thị được dùng làm

dữ kiện để tìm ra yêu cầu của bài Với loại bài tập này đòi hỏi học sinh phải biểu diễn và giải thích quá trình diễn biến của hiện hượng nêu trong bài tập đồ thị Khi giải bài tập đồ thị đòi hỏi HS biểu diễn các số liệu thực nghiệm và vẽ chính xác đồ thị

1.3.4 Phương pháp giải bài tập vật lí

Việc rèn luyện cho HS biết cách giải bài tập một cách linh hoạt, nhanh chóng và khoa học bằng tư duy nhạy bén thông qua tổng hợp lý thuyết và tạo mối tương quan logic giữa các dữ kiện đề bài cho để đảm bảo đi đến kết chính xác là một việc cần thiết và quan trọng Bài tập vật lí rất đa dạng và phong phú cho nên phương pháp giải bài tập vật lí cũng có nhiều cách Tuy nhiên, có thể vạch ra một số dàn bài chung gồm những bước chính sau:

Bước 1: Tìm hiểu đầu bài

Trong bước tìm hiểu đề bài, ta cần đọc kỹ đề để phân biệt được đâu là ấn số

và đâu là dữ kiện bài cho

Sau đó, mã hóa các dữ kiện đề bài cho thành kí hiệu vật lí để tóm tắt đề bài Nếu cần thiết, ta phải vẽ hình để minh họa và diễn đạt những điều kiện của bài

số và các dữ kiện đã cho

Trang 30

20

Phương pháp tổng hợp : Trình tự làm ngược lại với phương pháp phân tích: Xuất phát từ các dữ kiện của đầu bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi để đi đến công thức có chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho

Bước 4: Biện luận

Sau khi xây dựng lập luận, ta tiến hành biện luận kết quả thu được để loại bỏ những kết quả không đúng hoặc không phù hợp với điều kiện bài tập, không phù hợp thực tế

1.3.5 Xây dựng lập luận trong giải bài tập vật lí

Giải bài tập Vật lí định tính

Bài tập định tính thường có 2 dạng: giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng sẽ xảy ra

a) Bài tập giải thích hiện tượng có thể đưa ra một qui trình sau đây:

* Một là, Trong quá trình tìm hiểu đầu bài cần đặc biệt chú trọng về cách diễn đạt khi mô tả hiện tượng trong đầu bài bằng ngôn ngữ Vật lí (tức là dùng khái niệm Vật lí thay cho khái niệm dùng trong đời sống hàng ngày)

* Hai là, phân tích hiện tượng đó

* Ba là, Xây dựng lập luận dựa trên những phân tích ở bước 2:

- Tìm trong đề bài những dấu hiệu có liên quan đến một tính chất Vật lí hoặc một định luật Vật lí đã biết

- Phát biểu đầy đủ nội dung tính chất đó, định luật đó

- Xây dựng mối quan hệ giữa các tính chất vật lí đã được học với hiện tượng

đã cho, nghĩa là giải thích được nguyên nhân của hiện tượng

b) Bài tập dự đoán hiện tượng

Thực chất, đây là loại bài tập dựa vào những điều kiện của đề bài, người học phân tích những định luật, tính chất vật lí chi phối hiện tượng, từ đó đưa ra dự đoán hiện tượng gì xảy ra và xảy ra như thế nào Như vậy là, ta đã biết những điều kiện cụ thể, bây giờ ta đi tìm quy luật chung chi phối hiện tượng cùng loại và đưa ra kết luận

Trang 31

21

1.3.6 iải bài tập ật lí tính toán

Trong quá trình giải các bài tập tính toán cần phải thực hiện bước 1 và

2 giống như khi giải bài tập định tính Riêng bước 3 khi đi xây dựng lập luận

có thể sử dụng hai phương pháp sau: phân tích và tổng hợp

Phương pháp phân tích bắt đầu từ việc tìm một định luật, một qui tắc diễn đạt bằng một công thức có chứa đại lượng cần tìm và một đại lượng khác chưa biết, tiếp theo tìm những định luật, công thức khác có mối quan hệ giữa những đại lượng chưa biết này với đại lượng đã biết trong đầu bài Cuối cùng,

ta tìm được một công thức trong đó chỉ chứa một đại lượng cần tìm với các đại lượng đã biết

Phương pháp tổng hợp việc giải bài tập bắt đầu từ những đại lượng đã cho dựa vào các định luật, qui tắc Vật lí, ta phải tìm những công thức chứa đại lượng đã cho với đại lượng trung gian mà ta dự kiến có liên quan đến đại lượng ta cần tìm Cuối cùng, ta tìm được một công thức trong đó chỉ chứa một đại lượng cần tìm với các đại lượng đã biết

Kết hợp hai phương pháp đó là phân tích và tổng hợp

Trong thực tế giải các bài tập hai phương pháp trên không tách rời nhau mà thường xen kẽ, hỗ trợ cho nhau

1.3.7 Bài tập gắn với thực tiễn trong dạy học vật lí THPT

Bài tập vật lí có nội dung gắn với thực tiễn là những kiến thức được cụ thể hóa thông qua những hiện tượng có thật xuất hiện trong tự nhiên, hoặc từ những số liệu thực tế, từ đó đòi hỏi HS phải ứng dụng và tổng hợp các kiến thức đã biết để giải quyết các vấn đề thực tiễn từ đó kích thích khả năng tư duy, khám phá và thích thú môn học

Trong quá trình dạy và học, bài tập thực tiễn giúp HS hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, tổng hợp kiến thức thông qua việc HS tham gia vào các hoạt động học tập GV tổ chức HS tiếp thu những kiến thức, kinh nghiệm của xã hội và góp phần vào sự thay đổi xã hội

Trang 32

22

Quá trình dạy học hiện nay không thuần túy chỉ là dạy cho HS kiến thức,

kỹ năng theo hướng tiếp nhận một chiều mà còn phải dạy cho HS khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn theo đúng phương châm: Học phải đi đôi với hành Do đó, trong quá trình dạy học việc khai thác, sử dụng các bài tập gắn với thực tiễn đóng vai trò quan trọng trong việc dạy học phát triển năng lực cho HS

1.3.8 Thực trạng dạy học phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh THPT thông qua bài tập vật lí gắn với thực tiễn

Để làm phong phú cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng dạy học Vật lí theo định hướng phát triển năng lực hợp tác của học sinh phổ thông như sau:

* Đối tượng khảo sát:

06 GV tổ Vật lí, thuộc trường THPT Đào Duy Từ, quận Thanh Xuân,

TP Hà Nội

88 HS lớp 10 trường THPT Đào Duy Từ, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội

* Thời gian và hình thức khảo sát

- Thời gian khảo sát: từ ngày 15/10/2018 đến ngày 21/11/2018

- Hình thức khảo sát: Phiếu điều tra ( phụ lục 2 đính kèm) và phỏng vấn, dự giờ

* Kết quả khảo sát:

a, Đối với học sinh

Nội dung câu hỏi Câu trả lời Lựa chọn Tỉ lệ %

Trang 33

Ngồi trật tự Nghe giảng bài

và ghi chép bài đầy đủ 46 52,27 Thảo luận nhóm cùng các

16 18,18

Lắng nghe các bạn trong

Không cần làm gì vì có các 13 14,77

Trang 34

24

bạn khác trong nhóm làm Giúp đỡ, chia sẻ kiến thức với các thành viên khác trong nhóm

đỡ chia sẻ kiến thức với các thành viên trong nhóm Từ đó cho thấy, nếu hoạt động theo nhóm thông thường như hiện nay, học sinh chưa hoàn toàn tham gia tích cực vào các hoạt động học tập Nếu thay đổi phương thức tổ chức hoạt động theo nhóm hợp tác và có thang đánh giá cụ thể sẽ giúp phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh

b, Đối với giáo viên

Trong chương trình học phổ thông, Vật lý là một môn học mang tính khoa học thực nghiệm HS chỉ thật sự hứng thú và chủ động tham gia vào quá trình học tập khi những kiến thức được học ứng dụng trực tiếp trong đời sống

Trang 35

25

hàng ngày, khiến HS tò mò, thắc mắc mà cố gắng phát huy hết khả năng của mình để giải quyết vấn đề

Để phong phú hơn về cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi

đã tiến hành điều tra thực trạng dạy học môn Vật lí theo hướng phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh THPT thông qua phỏng vấn

và dự giờ các thầy cô trong tổ Vật lý trường THPT Đào Duy Từ Hà Nội

Từ thực tế giảng dạy của bản thân, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng bài tập gắn với thực tiễn nhằm phát huy tính tích cực, tự học, khả năng làm việc nhóm của học sinh chưa nhiều Việc dạy học vẫn đặt nặng về truyền thụ kiến thức, phương pháp dạy học ít được đổi mới, sáng tạo Qua đó, các tiết học chưa đem lại hứng thú cho học sinh, chưa đặt học sinh vào đúng vị trí trung tâm của việc tiếp nhận tri thức Học sinh khi giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn lúng túng, chưa chủ động

Một số thầy cô đã tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học tích cực, tuy nhiên, dạy học tích cực vẫn mang tính khiên cưỡng và chưa thường xuyên Nội dung sử dụng trong các hoạt động còn cứng nhắc và chưa làm cho học sinh phát triển tối đa các năng lực như: năng lực làm việc nhóm, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp Phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ được tổ chức nhưng các thành viên trong nhóm chủ yếu vẫn dựa vào những thành viên tích cực tham gia, một số thành viên ỉ lại và chưa thực

sự chủ động Việc đánh giá phần lớn thông qua sản phẩm chung của nhóm, chưa quan tâm nhiều đến thái độ và sự đóng góp thực tế của các thành viên trong nhóm

Qua dự giờ tiết dạy của thầy giáo Nguyễn Lập Quyết lớp 10A0, tôi nhận thấy rằng: để minh họa các lý thuyết của bài dạy, thầy dẫn chứng các ví

dụ gắn với thực tiễn rất hay và không khí lớp học sôi nổi, vui vẻ, học sinh hào hứng và cuốn hút vào các ví dụ của thầy Tuy nhiên, phương pháp dạy học và thầy sử dụng ở đây là nêu vấn đề và giải quyết vấn đề Từ đó, các học sinh có

Trang 36

26

kiến thức và kĩ năng tốt sẽ hứng thú với bài dạy, vẫn còn tình trạng học sinh chưa chú ý và không bắt nhịp kịp với tiến độ của lớp Qua đó, tôi nhận thấy rằng: nếu kết hợp được với phương pháp dạy học theo nhóm sẽ phát triển năng lực của học sinh nhiều hơn, những học sinh tích cực, có kiến thức, kĩ năng tốt sẽ giúp những học sinh yếu hơn, từ đó, phát triển năng lực giao tiếp, khả năng hợp tác để cùng giải quyết vấn đề, sự chia sẻ, gắn kết giữa các thành viên trong lớp cũng sẽ nâng lên

Qua phỏng vấn, hầu hết các thầy cô đều cho rằng: Việc sử dụng bài tập vật lý gắn với thực tiễn sẽ kích thích trí tò mò, khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tế để giải quyết vấn đề từ đó không khí lớp học sôi nổi hơn và tiết học đạt được hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, trong quá trình truyền thụ kiến thức, những ví dụ gắn với thực tiễn đôi khi bị lãng quên, dạy học lại đơn thuần là truyền thụ các kiến thức hàn lâm cho học trò

Cô Vũ Diệu Linh chia sẻ: “Việc dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ chỉ đạt hiệu quả cao đối với những đối tượng có lực học khá giỏi trở lên Những học sinh có lực học trung bình hay yếu, nếu được quan tâm đúng mức thì sẽ đạt hiệu quả, còn với cách áp dụng như hiện tại thì sẽ không đem lại hiệu quả đối với những đối tượng học sinh này bởi số lượng học sinh khá đông, trong thời gian ngắn giáo viên còn lúng túng trong quá trình tổ chức hoạt động nhóm hợp tác Chính vì thế, tôi có sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ nhưng hạn chế trong quá trình giảng dạy”

Theo thầy Đào văn Quân: Việc tổ chức dạy học môn Vật lí gắn với thực tiễn theo phương pháp dạy học hợp tác là hoàn toàn cần thiết bởi chúng

ta đang sống trong thời đại công nghệ 4.0, đòi hỏi nền giáo dục từng bước phát triển theo định hướng tích cực hóa các hoạt động học tập và phát triển toàn diện cho học sinh

Qua phỏng vấn và chia sẻ, hầu hết các GV đều nhận thấy ưu điểm việc

sử dụng bài tập gắn với thực tiễn trong quá trình phát triển năng lực của học

Trang 37

27

sinh, tuy nhiên, một vài GV không đánh giá cao các phương pháp dạy học mới cụ thể là phương pháp dạy học theo nhóm hợp tác, nguyên nhân là do GV ngại thay đổi phương pháp dạy học truyền thống đã quen thuộc, họ cho rằng đổi mới PPDH mất nhiều thời gian và kết quả chưa chắc đã tốt bằng phương pháp hiện nay họ vẫn đang sử dụng

Như vậy, dạy học vật lí gắn với thực tiễn nhằm phát huy năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh hiện nay chưa được nhiều thầy cô quan tâm

và sử dụng hiệu quả Với ưu điểm của phương pháp dạy học này đòi hỏi các

GV phải có kỹ năng vận dụng các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm gắn với thực tiễn phù hợp với nội dung của bài học thì sẽ phát huy được tính tích cực của HS và kết quả học tập đạt được hiệu quả cao

Kết luận chương 1

Ở chương 1, tôi đã hệ thống hóa các cơ sở lí luận về dạy học phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho HS THPT Cụ thể trong luận văn đã nêu ra các khái niệm về năng lực, năng lực giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, năng lực hợp tác giải quyết vấn đề

Bên cạnh đó, trong chương này tôi còn tiến hành nghiên cứu thực trạng dạy học Vật lí theo định hướng phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh tại trường THPT Đào Duy Từ Hà Nội nhằm phong phú thêm cơ

sở lý luận của đề tài

Từ cơ sở lí luận và thực tiễn cho thấy việc sử dụng bài tập gắn với thực tiễn trong quá trình dạy học hợp tác theo nhóm là phương pháp dạy học mới, phù hợp mọi đối tượng HS và giúp HS phát huy tối đa tính tích cực trong quá trình học tập

Trang 38

28

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÍ GẮN VỚI THỰC TIỄN CHƯƠNG “ ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” -

VẬT LÍ 10 2.1 Tổng quan nội dung chương trình chương “ Động lực học chất điểm”

2.1.1 Vị trí và vai trò của chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10

Vật lí là một trong các môn tự nhiên quan trọng nhất của chương trình THPT HS bắt đầu học vật lí từ lớp 6 của bậc học THCS, tuy nhiên từ lớp 10 THPT, các kiến thức vật lí mới được trình bày một cách hệ thống, saua sắc và đầy đủ hơn Trong chương trình THPT, môn vật lí chủ yếu dùng phương pháp thực nghiệm; hầu hết các khái niệm, định luật, công thức… đều được rút ra từ các quan sát, thí nghiệm trong thực tế

Chương trình vật lí 10 cơ bản bao gồm 2 phần:

PHẦN MỘT – CƠ HỌC

Chương I Động học chất điểm

Chương II Động lực học chất điểm

Chương III Cân bằng và chuyển

động của vật rắn

Chương IV Các định luật bảo toàn

PHẦN HAI - NHIỆT HỌC Chương V Chất Khí

Chương VI Cơ sở của nhiệt động lực học

Chương VII Chất rắn và chất lỏng

Sự chuyển thể

Nội dung kiến thức chương Động lực học chất điểm thuộc phần cơ học, nằm sau chương Động học chất điểm Ở chương I ( động học chất điểm) người ta nghiên cứu cách xác định vị trí của các vật trong không gian tại những thời điểm khác nhau và mô tả các tính chất của chuyển động các vật bằng phương trình toán học, nhưng chưa xét đến nguyên nhân chuyển động

Ở chương II ( động lực học chất điểm sẽ đi nghiên cứu cụ thể hơn về mối liên quan giữa chuyển động và lực

Chương II: Động lực học chất điểm trình bày ba định luật của Niu – tơn Đây là cơ sở của toàn bộ cơ học Ngoài ra, nội dung chương còn đề cập đến những lực thường gặp trong cơ học như: Lực hấp dẫn, lực đàn hồi và lực

Trang 39

2.1.2 Grap Nội dung kiến thức chương “ Động lực học chất điểm” [3]

Hình 2.1 Grap nội dung kiến thức chương “ Động lực học chất điểm”

ĐỘNG LỰC HỌC

CHẤT ĐIỂM

TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH LỰC ĐIỀU KIỆN CÂN BẰNG CỦA CHẤT ĐIỂM

BA ĐỊNH LUẬT NIU - TƠN

Trang 40

30

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập vật lí gắn với thực tiễn chương “ Động lực học chất điểm” [2], [6]

2.2.1 Hệ thống bài tập định tính

Câu 1: Trên bến Đục, một người bước từ chiếc thuyền này sang chiếc thuyền

khác để di chuyển lên bờ Mỗi chân của người đó đặt trên một thuyền Để không bị ngã xuống dòng suối Yến thì người này phải dùng lực giữ hai thuyền lại Khi hai thuyền ở gần nhau (hai chân người đó dang hẹp) thì người

đó thấy dễ dàng giữ thăng bằng hơn khi hai thuyền ở vị trí xa hơn (hai chân người đó dang rộng)? Em hãy giải thích hiện tượng trên?

Hướng dẫn:

Bước 1: Tìm hiểu đầu bài, nắm vững giả thiết của bài tập

Từ các dữ kiện của đề bài, ta thấy xuất hiện khái niệm lực Lực giữ hai thuyền lại làm hai thuyền không chuyển động và người đó thăng bằng, Trọng lực của người đó được phân tích thành hai lực theo phương của hai chân làm thuyền trôi ra xa

Bước 2: Phân tích hiện tượng

Trọng lực được phân tích thành hai lực thành phần theo hai chân của người

đó Khi hai thuyền ở gần nhau (hai chân người đó dang hẹp) Trọng lực chính

F h l được biểu diễn như hình 2 Từ hình vẽ ta thấy, hai lực thành phần theo phương của hai chân sẽ rất nhỏ hơn so với trọng lực hướng xuống nên lực đẩy hai thuyền ra do trọng lực của người là nhỏ => người đó không bị ngã

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w