Bài viết trình bày việc so sánh kết quả dung tích hồng cầu (Hct) bằng kỹ thuật lấy máu mao mạch và động mạch ở bệnh nhi SXHD nặng có đo HAĐMXL.
Trang 1SO SÁNH KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM DUNG TÍCH HỒNG CẦU GIỮA KỸ THUẬT
LẤY MÁU TẠI MAO MẠCH VÀ ĐỘNG MẠCH
Ở TRẺ SỐT XUẤT DENGUE NẶNG
Nguyễn Lê Ngọc Trâm *, Bùi Thị Bích Phượng *, Nguyễn Minh Tuấn **
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: So sánh kết quả dung tích hồng cầu (Hct) bằng kỹ thuật lấy máu mao mạch và động
mạch ở bệnh nhi SXHD nặng có đo HAĐMXL
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Kết quả: Từ 01/07/2013 đến 30/06/2014, có 60 trẻ SXHD nặng theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Y Tế Thế
Giới 2009 được đưa vào nghiên cứu Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả Hct giữa hai phương pháp xét nghiệm máu mao mạch và máu động mạch Xét nghiệm Hct qua mao mạch dễ thực hiện,
an toàn, ít tốn kém, có thể áp dụng trong mọi trường hợp nhưng có thể làm đau cho bệnh nhân nếu phải lặp lại nhiều lần Xét nghiệm Hct qua máu động mạch có ưu điểm là ít đau hơn nhưng kỹ thuật phức tạp, nguy hiểm, tốn thời gian và chi phí hơn
Kết luận: Hct là một xét nghiệm quan trọng trong theo dõi điều trị bệnh nhân SXHD Những bệnh nhân
SXHD nặng có đặt catheter động mạch thì khi xét nghiệm máu có thể kết hợp với thử Hct để ít làm đau cho bệnh nhân nhưng cần tránh lạm dụng vì cũng có nhiều nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng hơn so với lấy máu thử Hct qua mao mạch
Từ khóa: Sốt xuất huyết Dengue nặng, dung tích hồng cầu, máu mao mạch, động mạch xâm lấn
ABSTRACT
COMPARISON OF HEMATOCRIT IN CAPILLARY AND ARTERIAL BLOOD FROM PATIENTS WITH
SEVERE DENGUE
Nguyen Le Ngoc Tram, Bui Thi Bich Phuong, Nguyen Minh Tuan
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 198 - 202
Objectives: To compare hematocrit in capillary and arterial blood from severe dengue patients having
arterial catheter for monitoring invasive blood pressure
Study design: Cross-sectional study
Results: 60 severe dengue patients according to WHO 2009 criteria were enrolled into the study from 1 July
2013 to 30 Jun 2014 There was no statistically significant difference in Hct between capillary and arterial blood Measurement of capillary hematocrit is simple, safe, inexpensive, suitable for every case but may hurt the patients when repeated On the contrary, measurement of arterial hematocrit is less painful but the technique is complicated, unsafe, time-consuming and expensive
Conclusions: Hematocrit is an important test for monitoring dengue patients Taking advantage of the
arterial catheter in severe dengue patients to measure the hematocrit can help them feel less painful, but this technique should not be abused because of the higher risk for bleeding and infection
Bệnh viện Nhi Đồng 1
Tác giả liên lạc: ĐD Nguyễn Lê Ngọc Trâm, ĐT: 0989233826, Email: traulun1985@gmail.com
Trang 2
Key words: Severe dengue, hematocrit, capillary, invasive arterial blood
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đo dung tích hồng cầu (Hematocrit-Hct) là
một xét nghiệm thường quy trong quá trình điều
trị và theo dõi chăm sóc trẻ bệnh Sốt Xuất Huyết
Dengue (SXHD) Ở những bệnh nhi sốc SXHD,
để đảm bảo tính liên tục và chính xác trong quá
trình điều trị, theo dõi và chăm sóc, bác sĩ
thường có chỉ định đo huyết áp động mạch xâm
lấn (HAĐMXL), một kỹ thuật có đặt catheter
động mạch(2) Do đó điều dưỡng có thể tận dụng
đường này để lấy máu xét nghiệm Hct, giúp
bệnh nhân giảm đau do không phải chích nhiều
lần vào đầu ngón tay, cho nên chúng tôi tiến
hành nghiên cứu này nhằm so sánh kết quả Hct
lấy máu tại mao mạch và động mạch ở bệnh nhi
SXHD nặng có đo HAĐMXL
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá kỹ thuật lấy máu qua động mạch
xâm lấn để đo Hct trên bệnh nhân SXHD nặng
về khả năng thực hiện, tính an toàn và quy trình
thực hiện kỹ thuật qua khảo sát ý kiến của điều
dưỡng So sánh sự khác biệt về kết quả của Hct
bằng kỹ thuật lấy máu tại mao mạch và động
mạch ở bệnh nhi SXHD nặng có đo HAĐMXL
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả những trẻ SXHD nặng nhập khoa SXH Bệnh Viện Nhi Đồng 1 từ 01/07/2013 đến 30/06/2014 có đặt catheter đo huyết áp động mạch xâm lấn
Cỡ mẫu
Lấy trọn
Tiêu chí chọn mẫu
Trẻ được chẩn đoán SXHD nặng nhập khoa SXH BVNĐ1 từ 01/07/2013 đến 30/06/2014, thỏa tiêu chí: được chẩn đoán lâm sàng SXHD(2) nặng theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (TCYTTG) năm 2009 xác định bằng huyết thanh chẩn đoán Mac ELISA (IgM) Dengue dương tính Có chỉ định đo HAĐMXL hoặc có chỉ định đặt catheter động mạch quay
Tiêu chí loại trừ
Những bệnh nhân có bệnh lý kèm theo như
dị tật bẩm sinh, tim bẩm sinh, nhiễm trùng nặng, bệnh về máu
Thu thập số liệu
Dựa vào bảng thu thập dữ liệu
Xử lý dữ liệu
Bằng phần mềm SPSS 16.0 So sánh trung bình của hai nhóm độc lập bằng kiểm định t-test
Các bước tiến hành kỹ thuật lấy mẫu máu xét nghiệm Hct tại mao mạch và động mạch cùng lúc(1)
1.1 Chuẩn bị
dụng cụ
Lancet vô trùng, gòn tẩm cồn 700 , gòn khô, găng sạch, ống mao dẫn, đất sét, máy quay ly tâm
Ống chích 5 ml, ống chích 1 ml, gòn tẩm cồn 700, gòn khô, 0,5 ml Heparin 5000UI/ml pha 500 ml NaCl 0,9 % (lưu Catheter động mạch), găng sạch, ống mao dẫn, đất sét, máy quay ly tâm
1.2 Các bước
tiến hành
Thông báo và Giải thích với thân nhân Mang khẩu trang, rửa tay
Chọn vị trí đâm lancet:
Mặt bên đầu ngón tay Sát trùng tay nhanh Mang găng sạch Sát trùng vị trí lấy máu, lau lại bằng gòn khô Đặt vị trí lấy máu thấp, vuốt máu nhẹ nhàng về
Thông báo và giải thích với thân nhân Mang khẩu trang, rửa tay
Mang găng Ngưng đo HAĐMXL Sát trùng nắp đậy kim luồn bằng gòn có tẩm cồn 700, lau lại bằng gòn khô
Dùng ống chích 5ml đâm vào nắp đậy kim luồn, rút đủ lượng máu cần dùng để làm các XN khác (trong trường
Trang 3KỸ THUẬT LẤY MÁU MAO MẠCH KỸ THUẬT LẤY MÁU ĐỘNG MẠCH
nơi định lấy máu Đâm lancet, để máu tự chảy, không nặn Lau bỏ giọt máu đầu bằng gòn khô Đặt ống mao quản vào để lấy máu, lấy khoảng 2/3 ống
Ghim đất sét Đặt ống mao dẫn vào máy quay ly tâm trong 5 phút
Đọc kết quả Ghi lại kết quả
hợp Bác sĩ chỉ định thêm các XN khác) hoặc 1ml máu (không đo HAĐMXL hoặc không làm thêm XN) Dùng ống 1ml đâm vào nắp đậy kim luồn, rút khoảng 0,3ml-0,5ml máu
Lấy máu từ ống 1ml vào ống mao dẫn Bơm khoảng 0,5 ml NaCl 0,9% có pha Heparin để thông lại catheter động mạch
Sát trùng nắp đậy kim luồn bằng gòn tẩm cồn 700, lau lại bằng gòn khô
Tiếp tục đo HAĐMXL Ghim đất sét, đặt ống mao dẫn vào máy quay ly tâm trong 5 phút
Đọc kết quả Ghi lại kết quả 1.3 Theo dõi
sau khi lấy máu
Chảy máu ít Cầm máu nhanh Đau
Không chảy máu Catheter động mạch thông, hoạt động tốt Không đau
BẢNG ĐÁNH GIÁ ĐAU CHO TRẺ EM (Tài liệu của Seattle’s children Hospital
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ 01/07/2013 đến 30/06/2014,
có 60 trẻ được chọn vào nghiên cứu với kết quả
như sau:
Đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân tham gia nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ
Tần suất (%)
Tuổi (năm) 8,2 2,3 Giới: Nam (n, %) 26 (43,3) BMI (kg/m2) 17,3 1,4
Trang 4Đặc điểm bệnh nhân SXH
Bảng 2: Đặc điểm bệnh SXH
Đặc điểm SXHD nặng
Sốc SXH Dengue (n, %) 46 (76,7)
Sốc SXH Dengue nặng (n, %) 6 (10,0)
Xuất huyết nặng (n, %) 6 (10,0)
Suy đa cơ quan (n, %) 2 (3,3)
Ngày của bệnh khi thử Hct (trung vị,
khoảng) 5 (4 - 7)
Vị trí thử Hct
Máu mao mạch:
Đầu ngón tay (n, %) 60 (100)
Máu động mạch:
Động mạch quay (n, %) 56 (93,4)
Động mạch mu chân (n, %) 4 (6,6)
Kết quả Hct
Bảng 3: Kết quả Hct
Tại mao mạch Tại động mạch
Kết quả Hct (%,
trung bình SD) 34 8 33 7 0,823
Đánh giá kỹ thuật đo Hct bằng lấy máu qua
mao mạch và động mạch xâm lấn trên bệnh
nhân SXHD nặng về khả năng thực hiện, tính an
toàn và quy trình thực hiện kỹ thuật
Bảng 4: Khả năng thực hiện
Chi tiết
Đo Hct bằng lấy máu Tại mao
mạch
Tại động mạch
Thời gian thực hiện kĩ thuật
(Phút,trung bình) 7-9 (6) 10-12(11)
Khả năng thực hiện nhiều lần
trên cùng vị trí Thấp Cao
Khả năng hợp tác của bệnh
nhân (N,%)
( Theo bảng đánh giá đau )
60(100) Không hợp tác
3(5) Không hợp tác Chi phí Thấp Cao
Bảng 5: Tính an toàn
Tại mao mạch Tại động mạch
Đau (Dựa vào bảng
đánh giá đau ) 60 (100) 3 (5)
Chảy máu 6(10) 14(23,34)
Tại mao mạch Tại động mạch
Tổn thương mô 2(3,3) 30(50) Nguy cơ huyết khối, tắc
mạch tại chỗ 0 10(16,67) Nguy cơ nhiễm trùng 5(8,33) 20(33.34)
Bảng 6: Quy trình thực hiện kỹ thuật
Tại mao mạch Tại động mạch
Đánh giá chung Đơn giản Phức tạp Chuẩn bị dụng cụ Ít, đơn giản Nhiều Các bước thực hiện Ít Nhiều Chế độ kiểm soát
nhiễm khuẩn
Đơn giản, thường quy Nghiêm ngặt Chế độ theo dõi sau
thực hiện Thường quy Chặt chẽ
BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi trung bình của những trường hợp SXHD nặng là 8,22,3 (tuổi) và tỉ lệ nam/nữ là tương tự như nhau Phần lớn các trường hợp SXHD nặng
là sốc SXHD hoặc sốc SXHD nặng theo phân loại của TCYTTG 2009 Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của tác giả như NM Tiến và HND Liêm về các đặc điểm về tuổi và giới tính trong SXHD nặng(3,4)
Phần lớn những bệnh nhân SXHD nặng khi đặt catheter động mạch để theo dõi HAĐMXL hoặc lấy máu theo dõi nhiều lần khí máu động mạch, chức năng đông máu, chức năng gan…, động mạch quay là vị trí thường được sử dụng
vì dễ tiếp cận, dễ chăm sóc và dễ cầm máu nếu
có xuất huyết hơn là các vị trí khác như động mạch mu chân, động mạch chày sau Trong nghiên cứu của chúng tôi, vị trí đặt catheter động mạch quay chiếm 93,4% so với tại động mạch mu chân chỉ có 6,6% trường hợp Tất cả các trường hợp lấy máu mao mạch để xét nghiệm Hct đều được thực hiện ở đầu ngón tay vì đây cũng là vị trí dễ tiếp cận, dễ lấy máu và thường sạch hơn so với vị trí ở ngón chân
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả
Trang 5Hct giữa hai phương pháp lấy máu tại mao
mạch và động mạch ở bệnh nhi sốc SXHD
Theo Lee Goldman và Andrew I Schafer, các
yếu tố ảnh hưởng đến kết quả Hct bao gồm
tình trạng bệnh lý, số lượng hồng cầu, kích
thước hồng cầu còn vị trí lấy máu như mao
mạch, động mạch, tĩnh mạch không gây ảnh
hưởng lên kết quả của Hct(5)
Kết quả Hct tại mao mạch và động mạch có
kết quả tương đương, sự chênh lệch là rất nhỏ,có
thể sử dụng kết quả Hct tại động mạch trong
quá trình điều trị và theo dõi bệnh nhân SXH
nặng có đo HAĐMXL
Bệnh nhân SXH nặng có sự hợp tác rất kém
trong quá trình lấy máu mao mạch, 100% cảm
thấy rất đau, trong khi đó chỉ có 3% bệnh nhân
cho thấy cảm giác đau trong kĩ thuật lấy máu
động mạch, tỉ lệ hợp tác của bệnh nhân trong kĩ
thuật lấy máu mao mạch rất cao chiếm 90% Tuy
nhiên, về các nguy cơ như chảy máu, tổn thương
mô, nguy cơ nhiễm trùng thì kĩ thuật lấy máu
động mạch có tỉ lệ cao hơn rất nhiều so với kĩ
thuật lấy máu tại mao mạch Cùng với quy trình
kĩ thuật phức tạp, thời gian thực hiện dài hơn so
với kĩ thuật lấy máu mao mạch, yêu cầu về chế
độ kiểm soát nhiễm khuẩn cao, thì kĩ thuật lấy
máu động mạch để thử Hct nên được cân nhắc
trước khi thực hiện Việc vận dụng kĩ thuật này
để thử Hct nên linh động và chỉ nên áp dụng
trong những trường hợp cần thiết: Bệnh nhân có
tri giác kích thích nhiều, lấy nhiều loại xét
nghiệm cùng lúc với Hct,…
KẾT LUẬN
Kết quả Hct của kỹ thuật lấy máu mao mạch
và máu động mạch trên bệnh nhân SXHD là
tương tự như nhau Kỹ thuật xét nghiệm Hct qua mao mạch dễ thực hiện, an toàn, ít tốn kém,
có thể áp dụng trong mọi trường hợp nhưng có thể làm đau cho bệnh nhân nếu phải lặp lại nhiều lần Trên những bệnh nhân đã được đặt catheter động mạch, khi cần lấy máu để thực hiện những xét nghiệm khác nhằm theo dõi tình trạng bệnh lý thì có thể kết hợp cùng lúc để thử Hct qua máu động mạch để giảm số lần đâm kim thử máu trên bệnh nhân Tuy nhiên, không nên lạm dụng lấy máu qua động mạch chỉ để thử Hct vì có nguy cơ như dễ chảy máu nặng, nhiễm trùng và chi phí cao hơn so với lấy máu qua mao mạch Cần lưu ý quy trình chống nhiễm khuẩn nghiêm ngặt khi thực hiện lấy máu xét nghiệm qua động mạch để đảm bảo an toàn cho người bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chí Thượng, Kỹ thuật điều dưỡng Nhi Khoa, Tr 277, Nhà xuất bản Y học, Tp Hồ Chí Minh
2 Bộ Y tế (2011), Phác đồ điều trị sốt xuất huyết Dengue, Tr 11-12
sốt xuất Dengue kéo dài ở trẻ em, Luận án chuyên khoa 2, Đại học Y Dược Tp.HCM, Tr 61 - 62
sàng, cận lâm sàng và điều trị ở trẻ em bi sốc sốt xuất huyết có rối loạn đông máu Y Học TP Hồ Chí Minh, 2010, Tập 14, Phụ bản của Số 1, Tr 67-74
5 Goldman L, Schafer AI (2015) Goldman-Cecil Medicine, 25 th
ed Elsevier, , 1059-1067
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/6/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/7/2016