1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh siêu âm động mạch chủ bụng ở bệnh nhân tăng huyết áp và đái tháo đường týp 2

6 133 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 302,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tần suất mắc bệnh của tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường týp 2 (ĐTĐ týp 2) ngày càng gia tăng trong đó tổn thương mạch máu lớn là một trong những biến chứng cơ quan đích quan trọng, trong đó động mạch chủ bụng (ĐMC bụng) là một trong những mạch máu lớn bị ảnh hưởng bởi THA và ĐTĐ. Vì vậy, việc khảo sát đặc điểm hình thái và chức năng của ĐMC bụng trên bệnh nhân (BN) THA và ĐTĐ typ 2 là cần thiết.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH SIÊU ÂM ĐỘNG MẠCH CHỦ BỤNG

Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

Lê Som Lan*, Mai Công Sao** Huỳnh Kim Phượng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: tần suất mắc bệnh của tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường týp 2 (ĐTĐ týp 2) ngày càng gia

tăng trong đó tổn thương mạch máu lớn là một trong những biến chứng cơ quan đích quan trọng, trong đó động mạch chủ bụng (ĐMC bụng) là một trong những mạch máu lớn bị ảnh hưởng bởi THA và ĐTĐ Vì vậy, việc khảo sát đặc điểm hình thái và chức năng của ĐMC bụng trên bệnh nhân (BN) THA và ĐTĐ typ 2 là cần thiết

Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, cắt ngang, mô tả

Kết quả: Nghiên cứu tiến hành trên 37 đối tượng THA và 37 đối tượng ĐTĐ týp 2 (nhóm bệnh), 35 đối

tượng bình thường (nhóm chứng) Ghi nhận không có sự khác biệt đáng kể về đường kính lòng mạch (IMT), các chỉ số huyết động giữa hai nhóm, tuy nhiên IMT và tỷ lệ mảng xơ vữa (MXV) nhóm THA và ĐTĐ typ 2 dày và nhiều hơn nhóm chứng một cách có ý nghĩa thống kê, IMT đoạn ĐMC bụng 1 là 3,9 ± 1,1mm, 3,6 ± 0,9mm và đoạn ĐMC bụng 2 là 3,4 ± 1,1mm, 3,2 ± 0,7mm so với nhóm chứng IMT đoạn ĐMC bụng 1 là 2,3 ± 0,4mm và IMT đoạn ĐMC bụng 2 1,8 ± 0,3mm (p<0,004) Tỷ lệ mảng xơ vữa ở đối tượng THA chiếm 97,3%, ĐTĐ týp 2 chiếm 94,65%, so với 51,4% ở nhóm chứng (p<0,05) Có 1 trường hợp phình ĐMC bụng ở đối tượng THA chiếm 2,9%

Kết luận: Dày lớp nội trung mạc và xơ vữa ở ĐMC bụng trong bệnh THA và ĐTĐ týp 2 thường xuất hiện

sớm, có khả năng dự báo và là dấu hiệu để theo dõi tình trạng xơ vữa động mạch Siêu âm ĐMC bụng còn giúp phát hiện và theo dõi điều trị sớm phình ĐMC bụng

Từ khóa: Tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2, động mạch chủ bụng, siêu âm

ABSTRACT

ULTRASONOGRAPHIC CHANGES OF ABDOMINAL AORTIC ARTERY IN HYPERTENSIVE AND

TYPE 2 DIABETES PATIENTS

Le Som Lan,Mai Công Sao, Huynh Kim Phuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 2 - 2017: 47- 52

Objective: To study morphological characteristics and functions of the abdominal aorta in patients with

hypertension and type 2 diabetes

Methods: Cross-sectional, descriptive study

Results: The study is performed in 37 subjects with arterial hypertension and in 37 subjects with type 2

diabetes (study group), 35 healthy subjects (control group) The results do not show significant differences in luminal diameters, hemodynamic indices in both groups But IMT and the incidence of atherosclerotic plaques in hypertensive and type 2 diabetes groups have meaningfully significant differences as compared to control group

In hypertensive and type 2 diabetes group, the IMT in abdominal aorta 1 is 3.9 ± 1.1mm, 3.6 ± 0.9mm and in abdominal aorta 2 is 3.4 ± 1.1mm, 3.2 ± 0.7mm as compared to control group 2.3 ± 0.4mm and 1.8 ± 0.3mm,

* Khoa Chăm sóc Sức khỏe theo yêu cầu-BV Chợ Rẫy

** Khoa Chẩn đoán hình ảnh-BV Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

respectively The incidence of atherosclerotic plaques is found 97.3% in hypertensive, 94.65% in type 2 diabetes as compared to 51.4% in control group There is one case with aneurysm of abdominal aorta in arterial hypertension group

Conclusion: Intima-media thickening and atherosclerosis of abdominal aorta in patients with arterial

hypertension and type 2 diabetes usually appear early, that can be used as a prognosis predictor and documented for follow-up of arterial atherosclerosis Doppler ultrasonography also helps in early detecting, monitoring and treating aneurysm of abdominal aorta

Key words: hypertension, type 2 diabetes, abdominal aorta, ultrasonography

ĐẶT VẤN ĐỀ

THA và ĐTĐ đã được biết đến như là bệnh

lý gây xơ vữa động mạch, xơ vữa động mạch là

quá trình bệnh lý phức tạp diễn ra ở lớp nội -

trung mạc của động mạch, từ đó gây ra các biến

chứng mạch máu lớn, mạch máu nhỏ, là nguyên

nhân quan trong gây nên biến chứng tim mạch

và tử vong ở bệnh THAvà đái tháo đường

Để khảo sát hình thái và chức năng mạch

máu thì siêu âm mạch là phương pháp có nhiều

ưu thế như: tiện lợi, không xâm lấn, không gây

tai biến, giá hợp lý, giá trị chẩn đoán cao

Nhằm phát hiện sớm những thay đổi về

hình thái và chức năng của mạch máu, giúp điều

trị phòng ngừa nhằm hạn chế sự tiến triển và

biến chứng của bệnh, chúng tôi tiến hành:

“Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh siêu âm ĐMC

bụng ở BN THA và ĐTĐ týp 2” với mục tiêu

nghiên cứu như sau:

Khảo sát đặc điểm vận tốc dòng máu trong

ĐMC bụng trên nhóm BN THA, ĐTĐ có so sánh

với nhóm chứng

Khảo sát đặc điểm hình thái ĐMC bụng trên

nhóm BN THA, ĐTĐ có so sánh với nhóm

chứng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nhóm bệnh: THA dựa theo tiêu chuẩn của

ESH/ESC 2013: THA khi có HA tâm thu ≥ 140

mmHg và/hoặc HA tâm trương ≥90 mmHg,

hoặc BN đang điều trị bằng các thuốc hạ HA

Chẩn đoán ĐTĐ theo tiêu chuẩn của ADA 2013

gồm: 1/Một mẫu đường huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dl

(11,1 mmol/L), kết hợp với các triệu chứng của tăng đường huyết 2/Đường huyết lúc đói ≥ 126

mg/dl (7,0 mmol/L) (sau 8 giờ nhịn ăn) 3/ Đường

huyết 2 giờ sau khi uống 75gram glucose ≥

200mg

Nhóm chứng: gồm những người đã kiểm tra sức khỏe tổng quát không ghi nhận tiền căn hoặc đang mắc các bệnh như: tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, đột quỵ, đái tháo đường, bệnh thận mạn, ung thư, hội chứng chuyển hóa… Các đối tượng lấy theo mẫu thuận tiện, đến khám và điều trị ngoại trú tại khoa Chăm sóc Sức khỏe theo yêu cầu và Khoa Nội tiết của Bệnh viện Chợ Rẫy từ ngày 02/01/2014 đến ngày 07/12/2014

Phương pháp nghiên cứu

Tiến cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Các biến số khảo sát

Siêu âm 2D, TM, Doppler xung màu khảo sát tại 2 vị trí trên và dưới chỗ chia động mạch thận, với các biến số:

Đường kính lòng động mạch cuối tâm

trương (Dd) Đường kính lòng động mạch cuối tâm thu (Ds) Độ dày lớp nội trung mạc

(IMT-Intima-Media) Mảng xơ vữa: khi IMT > 2mm

Vận tốc đỉnh tâm thu (Vs) Vận tốc cuối tâm trương (Vd) Vận tốc trung bình (Vm) Thời gian gia tốc (ACCT) Chỉ số trở kháng (RI) Chỉ số mạch đập (PI) Tỷ số vận tốc đỉnh tâm thu và cuối tâm trương (S/D)

Xử lý số liệu

Kết quả được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0

Trang 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung

Giới

Nam: 20 (27,8%), Nữ: 52 (72,2%)

Tuổi

Nhỏ nhất: 25, lớn nhất: 79, trung bình là 53,63

± 11,32

Đặc điểm vận tốc dòng máu trong ĐMC bụng của các nhóm

Bảng 1 So sánh vận tốc dòng máu trong ĐMC bụng giữa các nhóm

SD

X 

NhómTHA (2) (n=37)

SD

X 

Nhóm ĐTĐ (3) (n=37)

SD

X  P (1&2) P (1&3) P (2&3)

bụng đoạn 1 và đoạn 2 giữa các nhóm bệnh và nhóm bình thường khác biệt không có ý nghĩa

Bảng 2 So sánh các chỉ số thời gian tăng tốc, tỉ lệ A/ B ratio, chỉ số mạch đập, chỉ số trở kháng

SD

X 

Nhóm THA (2) (n=37)

SD

X 

Nhóm ĐTĐ (3) (n=37)

SD

X  P (1&2) P (1&3) P (2&3)

ACCT

(ms)

Phép kiểm t độc lập

Thời gian gia tốc ACCT tại ĐMC bụng đoạn

1 ở nhóm chứng và nhóm ĐTĐ thấp hơn so với

nhóm THA có ý nghĩa thống kê p<0,05, chỉ số

mạch đập PI của nhóm THA đoạn ĐMC 2 thấp hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với p = 0,047

Đặc điểm hình thái ĐMC bụng của các nhóm

Bảng 3: So sánh đặc điểm hình thái ĐMC bụng giữa nhóm THA, ĐTĐ và nhóm chứng

SD

X 

Nhóm THA (2) (n=37)

SD

X 

Nhóm ĐTĐ (3) (n=37)

SD

X  P (1&2) P (1&3) P (2&3)

IMT

(mm)

Dd

(mm)

Ds

(mm)

Phép kiểm t độc lập

Các chỉ số IMT, Dd, Ds giữa nhóm THA,

ĐTĐ và nhóm chứng có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p≤0,004, giữa nhóm THA và nhóm ĐTĐ sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Trang 4

Bảng 4 Tỷ lệ MXV trên siêu âm ĐMCB giữa nhóm

THA, ĐTĐ và nhóm chứng

Mảng xơ

vữa

Nhóm THA

(n=37) (%)

Nhóm ĐTĐ (n=37) (%)

Nhóm chứng (n=35) (%)

Có 36 (97,3) 35 (94,6) 18(51,4)

Không 1 (2,7) 2 (5,4) 17 (48,6)

Không có sự khác biệt về tỷ lệ MXV giữa các

nhóm THA và ĐTĐ, có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về tỷ lệ MXV giữa các nhóm THA,

ĐTĐ so với nhóm chứng (p<0,05)

BÀN LUẬN

Đặc điểm vận tốc dòng chảy qua các đoạn

ĐMC bụng của nhóm THA, ĐTĐ và nhóm

chứng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu được

kết quả trình bày trong các bảng 1, 2, 3 Phân tích

so sánh thống kê thấy chưa có khác biệt về các

chỉ số dòng chảy giữa các nhóm nghiên cứu với

p>0,05 Điều này hoàn toàn hợp lý bởi kết quả đo

độ dày thành mạch, các mảng vữa xơ cho thấy

chúng chỉ dày 2-4mm, chưa gây hẹp lòng mạch

có ý nghĩa, do vậy chưa gây biến đổi vận tốc Các

tài liệu kinh điển cho thấy khi lòng động mạch

ngoại vi hẹp trên 50% thì mới có sự thay đổi về

vận tốc dòng máu, khi đó vận tốc tối đa Vs của

ĐMC bụng tăng trên 120cm/s

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy vận

tốc tối đa ở các đoạn động mạch và ở các nhóm

có sự khác biệt và có độ phân tán (SD) khá lớn,

tuy nhiên khi so sánh theo chi bình phương thì

sự khác biệt cũng không có ý nghĩa thống kê

Nhưng so sánh với nghiên cứu của Trần Công

Đoàn thì có một số trường hợp không khác biệt,

một số trường hợp sự khác biệt có ý nghĩa

Trong thực hành, điều chỉnh góc giữa tia siêu

âm và hướng dòng máu rất quan trọng, nếu có

sai lệch 5-10 độ cũng có thể gây sai số vận tốc,

và đây có lẽ là một lý do Ngoài ra, do việc chọn

nhóm đối tượng và phương tiện nghiên cứu có

khác nhau, cũng có thể ảnh hưởng đến các

thông số(10)

So sánh các chỉ số vận tốc tâm trương Vd

cũng có những sự giống và khác tương tự Riêng

với vận tốc trung bình do máy tự động đo đạc tính toán, chúng tôi nhận thấy hầu hết không có

sự khác biệt có ý nghĩa Như vậy có lẽ những sai

số trong thao tác thủ công cũng vẫn là vấn đề cần chú ý cho những người làm siêu âm thực hành Sự khác biệt ở nhiều thông số giữa các nghiên cứu, giữa các nhóm cũng là lý do nhiều khuyến cáo cho rằng, ngoài việc áp dụng các giá trị tham số đối chiếu chung thì mỗi phòng khám cũng nên có những nghiên cứu đưa ra thông số tham chiếu cho cơ sở của mình

Đặc điểm về hình thái siêu âm ĐMC bụng

Kích thước lòng ĐMC

Bảng 3, khi so sánh giữa các nhóm ghi nhận

đường kính lòng động mạch ở hai giai đoạn tâm thu và tâm trương trên hai nhóm bệnh lý THA

và ĐTĐ đều có hiện tượng giãn ra hơn so với trị

số Ds và Dd bình thường Tuy nhiên giữa hai nhóm này lại không khác nhau, có thể đều do có tác động của quá trình bệnh lý THA làm áp lực trong lòng động mạch tăng lên tất nhiên là yếu

tố gây giãn lòng động mạch Kết quả ở nhóm chứng, so với nhóm bệnh thì các chỉ số này thấp hơn có ý nghĩa với p≤0,004 So với Trần Công Đoàn(10) nghiên cứu trên siêu âm 145 người bình thường có kết quả đường kính động mạch chủ bụng đo trên siêu âm TM đoạn trên và dưới thận lần lượt là 18,6 ± 2,2mm, 14,7 ± 2,0mm ở tâm thu

và 16,2 ± 2,2mm, 13,3 ± 2,4mm ở tâm trương, thì con số của chúng tôi có nhỏ hơn, có lẽ do nhóm chúng tôi nghiên cứu số lượng ít hơn, tuổi trung bình thấp hơn

Nhưng chỉ số trung bình của đường kính lòng ĐMC bụng thì tâm thu của nhóm bệnh THA và ĐTĐ cũng chỉ là 20,6 ± 3,2 (đoạn 1) và 13,9 ± 2,2 (đoạn 2), chưa vượt qua thông số của Nguyễn Phước Bảo Quân ở người bình thường là: ngang mức cơ hoành: 2-2,5cm, vị trí phân chia động mạch chậu: 1.5-2cm(7)

Các chỉ số hình thái

IMT, đường kính lòng động mạch tâm thu, tâm trương của nhóm THA và nhóm ĐTĐ đều cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê

Trang 5

(p<0,001), chứng tỏ trong bệnh THA và ĐTĐ có

sự dày lên của IMT tại ĐMC bụng khi so sánh

với người bình thường (bảng 3)

Nghiên cứu trên mổ tử thi trẻ em đã ghi

nhận các tổn thương xơ vữa động mạch bắt

đầu phát triển đầu tiên trong lớp áo trong của

ĐMC(4) Trong một nghiên cứu trên trẻ em của

Järvisalo và cs (2001), khi tiến hành khảo sát

đo đường kính lòng mạch IMT của ĐMC bụng

và ĐM cảnh cho 88 trẻ em tuổi trung bình là

11 ± 2, trong đó 16 trẻ bị tăng cholesterol, 44 đã

mắc bệnh ĐTĐ týp 1 và 28 trẻ khỏe mạnh Kết

quả cả IMT của ĐMC và động mạch cảnh đều

tăng đáng kể trong nhóm rối loạn lipid máu

và ĐTD so với nhóm chứng trẻ khỏe mạnh,

nhưng sự khác biệt rõ rệt hơn đối với ĐMC

Các tác giả rút ra kết luận trẻ em có tăng

cholesterol máu và ĐTĐ có tăng kích thước

IMT so với người khỏe mạnh, với mức tăng

tương đối lớn trong IMT của ĐMC hơn trong

IMT của động mạch cảnh Điều này có thể

được giải thích xơ vữa động mạch khởi phát ở

lớp nội mạc của ĐMC, các dữ liệu cho thấy

IMT của ĐMC có thể là dấu chỉ điểm đánh giá

tiền lâm sàng bệnh xơ vữa động mạch(4)

Marcos và Cs nghiên cứu về độ dày lớp IMT

tại ĐM cảnh ở các BN ĐTĐ týp 2 và THA so với

người bình thường, thấy sự khác biệt IMT tính

theo tuổi giữa nhóm ĐTĐ và nhóm bình thường

là 0,040mm, giữa nhóm THA và nhóm bình

thường là 0,026 mm Các tác giả này kết luận:

IMT dày nhất ở nhóm ĐTĐ, nhưng mức độ tăng

hàng năm của IMT thì lớn hơn ở nhóm BN THA

So sánh với kết quả nghiên cứu của các tác giả

này, kết quả tăng IMT của nhóm ĐTĐ và THA

của chúng tôi là tương đồng(6)

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Thanh Liêm trên siêu âm động mạch cảnh ghi

nhận: IMT >0,7mm chiếm 77,17% trên BN

THA, IMT >0,7mm chiếm 95,96% trên BN

ĐTĐ, chỉ có 12,5% có IMT >0,7mm trên nhóm

không ĐTĐ và không THA(8)

Bùi Nguyên Kiểm và Cs ghi nhận rằng: độ dày trung bình và tỷ lệ dày của lớp nội trung mạc tại ĐM cảnh gốc ở người già có THA và/hoặc ĐTĐ cao hơn một cách có ý nghĩa thống

kê so với nhóm người già không có yếu tố nguy

cơ này(2) Nhìn chung các kết quả về thay đổi hình thái của ĐMC bụng trong nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu khác trong và ngoài nước

Mặc dù sự thay đổi về hình thái của cả 2 nhóm này với nhóm chứng rất rõ rệt và có ý nghĩa thống kê với p<0,05, các đặc điểm siêu

âm ĐMC bụng về hình thái giữa hai nhóm THA và ĐTĐ không có sự khác biệt có ý nghĩa, chứng tỏ sự biến đổi về hình thái ĐMC bụng của hai nhóm bệnh lý này trong nghiên cứu của chúng tôi diễn ra khá tương đồng Cả hai nhóm bệnh đều có sự dày lên của IMT, giãn rộng đường kính ĐMC bụng, cả tâm thu lẫn tâm trương Mặc dù hai bệnh lý khác nhau, nhưng cùng gây nên tổn thương chung

là biến đổi hình thái ĐMC bụng

Xơ vữa ĐMC bụng

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận mảng

xơ vữa ĐMV bụng ở nhóm chứng trên 18/37 trường hợp chiếm tỷ lệ 51,4%, nhóm THA có 36/37 trường hợp chiếm tỷ lệ 97,3%, nhóm ĐTĐ có 35/37 trường hợp có mảng xơ vữa chiếm tỷ lệ 94,6% Như vậy tỷ lệ mảng xơ vữa

ở các nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng nhiều

và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm ghi nhận mảng xơ vữa động mạch cảnh ở nhóm BN bị THA 41,49%, nhóm không THA 5,26%, nhóm ĐTĐ mảng xơ vữa chiếm 60,87% trường hợp, nhóm không ĐTĐ chỉ gặp trong 24,77% trường hợp; các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p< 0,01(8) Khi so sánh với nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mảng xơ vữa ở ĐMC bụng của chúng tôi cao hơn tỷ lệ mảng

xơ vữa trên ĐM cảnh của Nguyễn Thanh Liêm; theo một số nghiên cứu, điều này có thể

Trang 6

do tổn thương xơ vữa động mạch bắt đầu từ

lớp áo trong của ĐMC bụng trước

Haygert và Cs thấy tỷ lệ xơ vữa của động

mạch cảnh trên BN THA cao hơn trên BN không

THA khoảng sáu lần (OR=5,653) Trong khi đó,

sự hiện diện đồng thời của xơ vữa ĐMC bụng

kết hợp với xơ vữa động mạch cảnh, nhiều khả

năng xảy ra gấp gần hai lần (OR: 10,752), so với

sự hiện diện của mảng xơ vữa chỉ ở động mạch

cảnh trên BN THA Chứng tỏ tình trạng xơ vữa

ĐMC bụng ở BN THA là rất nổi bật(3)

Phình ĐMC bụng

Trong quá trình chọn lọc các đối tượng

nghiên cứu Chúng tôi gặp 3 trường hợp phình

ĐMC bụng Hai trường hợp nằm trong bệnh

cảnh vừa THA vừa ĐTĐ nên không thuộc đối

tượng nghiên cứu, trường hợp còn lại nằm trong

nhóm BN THA BN bị THA đã 20 năm Vị trí

phình dưới chỗ xuất phát của động mạch thận,

chiều dài đoạn phình 61mm, đường kính ngang

lớn nhất 31mm, cổ trước đoạn phình # 16mm, cổ

sau # 15mm, vậy tỷ lệ thấy phình ĐMC bụng của

chúng tôi gặp 2,9% nếu chỉ tính riêng trong

nhóm THA (1,4% nếu tính chung)

Blois (2012) gặp tỷ lệ phình ĐMC bụng từ 3

đến 4 cm đường kính là 4,4%, cao hơn của chúng

tôi, có lẽ do các đối tượng của Blois có tuổi trung

bình lớn hơn của chúng tôi(1)

Theo nghiên cứu của Pârv và Cs thì trong 62

phụ nữ ở tuổi mãn kinh có 2 người (3.2%) và ở

108 nam tuổi tương đương là 3 (2,8%) bị phình

ĐMC bụng(9), tỷ lệ này cũng cao hơn với phát

hiện của chúng tôi

Siêu âm được cho là phương tiện tầm soát và

theo dõi rất tiện lợi Theo một số tác giả siêu âm

có độ nhạy 94-100%, độ chuyên biệt 98-100%,

trong phát hiện phình ĐMC bụng(5,11)

KẾT LUẬN

Trong nhóm THAvà ĐTĐ týp 2 có sự dày lên

của lớp nội trung mạc và xơ vữa ở ĐMC bụng

nhiều hơn so với nhóm chứng một cách có ý

nghĩa Không có sự khác biệt đáng kể về đường

kính lòng động mạch, các chỉ số chức năng huyết động của ĐMC bụng, giữa nhóm BN bị THA và bệnh ĐTĐ týp 2 so với nhóm chứng

Tổn thương dày lớp nội trung mạc và mảng

xơ vữa ở ĐMC bụng trong nhóm THA và nhóm ĐTĐ týp 2, có khả năng dự báo và dùng làm dữ kiện để theo dõi bệnh xơ vữa động mạch Siêu

âm ĐMC bụng là kỹ thuật đơn giản, dễ làm, không xâm lấn, có thể thực hiện rộng rãi, giúp tầm soát phát hiện điều trị sớm xơ vữa động mạch, đặc biệt giúp phát hiện sớm túi phình để

có kế hoạch theo dõi và điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Blois B., (2012) “Office-based ultrasound screening or

abdominal aortic aneurysm” Can Fam Physician, 58,

pp.172-178

2 Bùi Nguyên Kiểm, Phạm Thắng, Trần Đức Thọ (2004) “Đánh giá bề dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh gốc ở người già

có THA và/hoặc đái tháo đường” Y học thực hành số 8, tr:

49-50

3 Haygert CJP, Alves GRT, Suzigan BH, et al (2013) “Association Between Abdominal Aortic Atherosclerosis and Carotid Artery

Atherosclerosis” Eur J Gen Med., 10(4), pp 226-231

4 Järvisalo M.J., Jartti L., Salonen K.L., et al (2001) “Increased Aortic Intima-Media Thickness A Marker of Preclinical

Atherosclerosis in High-Risk Children” Circulation, 104, pp

2943-2947

5 LeFevre M.L., (2014) “Screening for Abdominal Aortic Aneurysm: U.S Preventive Services Task Force

Recommendation Statement” Ann Intern Med., 161 (4), pp

281-290

6 Marcos M.A.G., Rodriguez J.I.R., Sa´nchez E.R., et al (2011)

“Carotid Intima-Media Thickness in Diabetics and

Hypertensive Patients” Rev Esp Cardiol.,64 (7), pp 622–625

7 Nguyễn Phước Bảo Quân (2013) "Siêu âm Doppler mạch máu "

Tập 2, nhà xuất bản Đại học Huế, tr 639 - 659

8 Nguyễn Thanh Liêm (2004), “Khảo sát xơ vữa ĐM cảnh ở BN tai

biến mạch não bằng siêu âm duplex” Luận văn thạc sỹ Y Học Đại

học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

9 Pârv F., Balint M., Avram I., et al (2012) “Study of aortic

atherosclerosis in women” Journal of Experimental Medical & Surgical Research Cercetãri Experimentale & Medico-Chirurgicale,

Year XIX (1-2), pp 17–20

10 Trần Công Đoàn (2004), “Nghiên cứu một số chỉ số hình thái-chức năng của ĐMC bụng và động mạch chậu ngoài bằng phương pháp siêu âm” Luận án Tiến sĩ Y học Học viện Quân y

11 U.S Preventive Services Task (2005) “Force Screening for Abdominal Aortic Aneurysm: Recommendation Statement”

Ann Intern Med., 142, pp 198-202

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w