1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan nhập viện vì xuất huyết tiêu hóa

5 131 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 311,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) trên thường được phân loại: do vỡ giãn và không do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản (TMTQ). Và ở bệnh nhân xơ gan, ngoài nguyên nhân XHTH do vỡ giãn TMTQ đã được xác định thì có đến 30 – 40% nguyên nhân xuất huyết là do loét dạ dày tá tràng. Điều này đặt ra thách thức cho các nhà lâm sàng trong việc xử trí cấp cứu ở các bệnh nhân xơ gan nhập viện vì XHTH.

Trang 1

TỶ LỆ LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN NHẬP VIỆN

VÌ XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

Hà Vũ*, Ngô Thị Thanh Quýt**

TÓM TẮT

Mở đầu: Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) trên thường được phân loại: do vỡ giãn và không do vỡ giãn tĩnh

mạch thực quản (TMTQ) Và ở bệnh nhân xơ gan, ngoài nguyên nhân XHTH do vỡ giãn TMTQ đã được xác định thì có đến 30 – 40% nguyên nhân xuất huyết là do loét dạ dày tá tràng Điều này đặt ra thách thức cho các nhà lâm sàng trong việc xử trí cấp cứu ở các bệnh nhân xơ gan nhập viện vì XHTH Tuy nhiên, tỉ lệ loét dạ dày

tá tràng trên bệnh nhân xơ gan nhập viện vì XHTH vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở Việt Nam

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan nhập viện vì XHTH

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, cắt ngangthực hiện trên225 bệnh nhân xơ gan

tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Thống Nhất từ 01/2014 – 03/2015

Kết quả: Trong số 225 bệnh nhân xơ gan nhập viện vì XHTH, tuổi trung bình là 56,15± 13,1 tuổi, tỉ lệ nam/

nữ là 3/1 Phân loại Child – Pugh A, B, C lần lượt là 19,1%, 37,3%, và 43,6% Nguyên nhân gây xơ gan thường gặp nhất là rượu và viêm gan siêu vi Tỉ lệ XHTH do loét dạ dày tá tràng là 36% và do vỡ giãn TMTQ là 64%

Kết luận: Tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan nhập viện vì XHTH vào khoảng 36%

Từ khoá: Xơ gan, loét dạ dày tá tràng, xuất huyết tiêu hóa

ABSTRACT

PREVALENCE OF GASTRO DUODENAL ULCERS IN CIRRHOTIC PATIENTS

WHO HAVE BEEN HOSPITALIZED WITH GASTROINTESTINAL BLEEDING

Ha Vu, Ngo Thi Thanh Quyt

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 94 - 98

Background: Upper gastrointestinal bleeding is usually classified as either variceal or non-variceal In

cirrhotic patients, variceal bleeding has been extensively studied but 30–40% of cirrhotic patients who bleed have caused by gastro duodenal ulcers That is a big problem for physicians in first aid for cirrhotic patients who have been hospitalized with gastrointestinal bleeding (GI bleeding)

Objective: To identify prevalence of gastro duodenal ulcers in cirrhotic patients who have been hospitalized

with GI bleeding

Subjects and methods: A cross-sectional study was conducted on225 cirrhotic patients atChoRay hospital

andThong Nhat hospital from October 2014 to March 2015.

Results: In 225 patients who have been hospitalized with GI bleeding, mean age 56.15± 13.1, Male/female

ratio = 3/1 Child – Pugh classification are 19.1% (A), 37.3% (B), and 43.6%(C) The most reason of cirrhosis in this study are alcohol and virus 36% of cirrhotic patients who bleed have caused by gastro duodenal ulcers and 64% have caused by bleeding esophageal varices

Conclusion: 36% of cirrhotic patients who bleed have caused by gastro duodenal ulcers

Keywords: Cirrhosis, gastro-duodenal ulcers, gastrointestinal bleeding

* Bộ môn Nội khoa Y ĐH Quốc Gia Tp HCM ** Khoa Tiêu hoá Bệnh viện Thống Nhất

Tác giả liên lạc: BS Hà Vũ ĐT: 0983979500 Email: havudr@gmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xơ gan là bệnh lý rất thường gặp tại khoa

Nội tiêu hoá gan mật Ở giai đoạn mất bù, xơ

gan có nhiều biến chứng, đặc biệt là xuất huyết

tiêu hóa Đây là biến chứng rất nặng nề, và làm

gia tăng tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân xơ gan Xuất

huyết tiêu hóa trên thường được phân loại thành

2 nhóm lớn là: do vỡ giãn và không do vỡ giãn

tĩnh mạch thực quản (TMTQ) Đặc biệt ở bệnh

nhân xơ gan thì nguyên nhân hàng đầu gây

XHTH vẫn là do vỡ các TMTQ giãn, tuy nhiên,

trong các số liệu gần đây cho thấy có một tỉ lệ

không nhỏ XHTH ở bệnh nhân xơ gan là do loét

dạ dày tá tràng Sự hiện diện của loét dạ dày tá

tràng ở bệnh nhân xơ gan thay đổi từ 2 – 42%( 3)

tùy theo nghiên cứu, và các tổn thương loét này

có thể trầm trọng hơn nhất là khi các bệnh nhân

xơ gan thường có giảm tiểu cầu và rối loạn đông

máu đi kèm(3)

Do đó việc chẩn đoán chính xác ngay từ đầu

nguyên nhân gây XHTH ở các bệnh nhân xơ gan

để có hướng xử trí thích hợp là một thách thức

rất lớn đối với các nhà lâm sàng tiêu hóa Thật

vậy, nếu XHTH do vỡ giãn TMTQ thì xử trí hàng

đầu là thắt thun TMTQ giãn và sử dụng thuốc

làm giảm áp lực tĩnh mạch (TM) cửa, nhưng nếu

XHTH do loét dạ dày tá tràng thì ưu tiên hàng

đầu là nội soi cầm máu và sử dụng các loại thuốc

ức chế tiết acid dịch vị liều cao Tuy nhiên, trong

thực tế lâm sàng không phải lúc nào chúng ta

cũng có thể nội soi cấp cứu để cầm máu, điều

này phụ thuốc rất lớn vào trình độ của bác sĩ nội

soi và trang thiết bị y tế tại cơ sở đó Vì vậy điều

trị nội khoa bằng thuốc giảm áp TM cửa hay

thuốc ức chế tiết acid liều caotrong lúc không có

nội soi hoặctrong khi chờ nội soi đóng vai trò rất

quan trọng trong tiên lượng sống còn của bệnh

nhân xơ gan Đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy

chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này, nhằm

mục tiêu xác định tỉ lệ thực tế XHTH do loét dạ

dày tá tràngở bệnh nhân xơ gan và từ đó đề ra

hướng xử trí ban đầu thích hợp đối với các bệnh

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân đến khám tại phòng khám và nhập khoa Nội Tiêu hoá Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh Viện Thống Nhất từ10/2014 – 03/2015 thoả mãn các điều kiện sau:

Tiêu chuẩn nhận bệnh

- Tuổi ≥ 18 tuổi

- Được chẩn đoán xơ gan và đang hoặc vừa mới XHTH đến khám tại phòng khám và nhập khoa Nội tiêu hoá Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh Viện Thống Nhất, thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn mẫu

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không có xơ gan

- Bệnh nhân không có xuất huyết tiêu hóa

- Bệnh nhân từ chối nội soi tiêu hoá trên

- Bệnh nhân xơ gan có huyết khối tĩnh mạch cửa, hoặc bị ung thư gan

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiền cứu

Phương pháp tiến hành

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán xơ gan nhập viện vì xuất huyết tiêu hóa được ghi nhận: Các thông tin cá nhân: tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ

Khai thác tiền căn, nguyên nhân xơ gan và lí

do nhập viện hoặc khám bệnh

Khám lâm sàng đánh giá: hội chứng tăng áp cửa và hội chứng suy tế bào gan và bất thường của các cơ quan khác, tình trạng mất máu, sinh hiệu…

Nội soi tiêu hoá trên để xác định nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa ở các bệnh nhân này Bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm máu: Công thức máu, PT, INR, aPTT, nhóm máu, AST,

Trang 3

TT, Bilirubin GT, GGT, ALP, ion đồ, HBsAg,

Anti HCV,…

Siêu âm bụng tại khoa để đánh giá mức độ

xơ hoá, tìm các dấu hiệu tăng áp cửa như lách to,

dịch ổ bụng và tìm các biến chứng khác của xơ

gan

Các kết quả trên sẽ được ghi nhận vào

bệnh án mẫu đã soạn sẵn

KẾT QUẢ

Trong tổng số 225 trường hợp xơ gan nhập

Khoa Nội Tiêu Hoá Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh

viện Thống Nhất từ 01/2014 đến 03/2015, chúng

tôi ghi nhận được các kết quả sau đây:

Bảng 1: Đặc điểm chung bệnh nhân trong nhóm

nghiên cứu

BilirubinTP (mg%) 4,74 ± 6,46

Tiểu cầu ( /mm3) 74000 ± 46000

Bảng 2: Phân bố nguyên nhân gây xơ gan

(n=225) Tỉ lệ (%)

Viêm gan siêu vi B + rượu 23 10,2

Viêm gan siêu vi C + rượu 8 3,6

23%

15%

32%

3%

10%

4%

Viêm gan sv B Viêm gan sv C Rượu Viêm gan sv B,C

Biểu đồ 1: Phân bố theo nguyên nhân gây xơ gan

Nhận xét:

Trong các nguyên nhân gây xơ gan thì viêm gan do siêu vi là nguyên nhân hàng đầu (40,9%)

mà chủ yếu là viêm gan siêu vi B

Nguyên nhân thứ 2 gây xơ gan là rượu

Bảng 3: Phân bố theo phân loại Child – Turcotte – Pugh

19.1% 37.3% 43.6%

Child A Child B Child C Phân loại Child - Pugh

Biểu đồ 2: Phân bố theo phân loại Child – Pugh

Nhận xét: Số bệnh nhân Child C chiếm tỉ lệ

cao nhất (43,6%)

Bảng 4: Tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan

nhập viện vì XHTH

36%

64%

Loét dạ dày tá tràng/

Xơ gan

Loét Không loét

Biểu đồ 3:Tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ

gan nhập viện vì XHTH

Nhận xét: Loét dạ dày tá tràng chiếm tỉ lệ khá cao

(36%) ở bệnh nhân xơ gan nhập viện vì xuất huyết

tiêu hoá

Trang 4

BÀN LUẬN

Tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ

gan nhập viện vì XHTH

Xuất huyết tiêu hóa ở bệnh nhân xơ gan là

một biến chứng rất thường gặp Biến chứng này

chiếm đến 25% trong các nguyên nhân gây tử

vong ở bệnh nhân xơ gan Và một trong những

nguyên nhân đã được xác định gây XHTH ở các

bệnh nhân này là do vỡ giãn TMTQ, tuy nhiên

có một tỉ lệ không nhỏ các trường hợp XHTH

này là do loét dạ dày tá tràng Nhưng cho đến

nay việc chẩn đoán, điều trị và bệnh sinh của

XHTH do loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ

gan vẫn chưa được mô tả đầy đủ và rõ ràng

Điều này là do xơ gan thường là tiêu chuẩn loại

trừ trong phần lớn các nghiên cứu về XHTH trên

do loét dạ dày tá tràng Vì vậy, các khuyến cáo

về xử trí đối với các bệnh nhân xơ gan bị XHTH

do loét dạ dày tá tràng vẫn còn thiếu sót và đang

được nghiên cứu(3)

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tất cả

các bệnh nhân xơ gan nhập viện vì xuất huyết

tiêu hoá khi nội soi tiêu hoá trên thì có đến 36%

trường hợp có loét dạ dày tá tràng, tức là gần 1/3

dân số nghiên cứu Số liệu này cũng phù hợp với

nhiều báo cáo của các tác giả trên thế giới, theo

đó tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan

dao động từ 2-42%(3)

Kết quả của chúng tôi có cao hơn so với

nghiên cứu của Chen LS và cộng sự, theo tác giả,

tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan

khoảng 20% cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ loét dạ

dày tá tràng ở nhóm người khoẻ mạnh (4%)

Nguyên nhân theo tác giả là có liên quan đến

tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở bệnh

nhân xơ gan(6)

Theo tác giả Fujiwara, tỉ lệ loét dạ dày tá

tràng tăng gấp 4,22 lần hơn ở nhóm bệnh nhân

xơ gan so với nhóm người khoẻ mạnh, nguyên

do được cho là có liên quan đến sự giảm tính đề

kháng, giảm các yếu tố bảo vệ niêm mạc ở các

Tuy nhiên tỉ lệ loét dạ dày tá tràng có thể tăng lên khá cao, khoảng 48% trong nghiên cứu của Lo và cộng sự(5) Trong một nghiên cứu khác của Ahmed Gado và cộng sự thực hiện trên 103 bệnh nhân xơ gan cho thấy có đến 30-40% bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá là

do loét dạ dày tá tràng(3)

Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Trần Ngọc Lưu Phương và cộng sự thực hiện tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan vào khoảng 13,9%, thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi(1)

Để lý giải cho sự gia tăng biến chứng loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan, nhiều tác giả cho rằng đó là do giảm sự bảo vệ niêm mạc, do tăng histamine vì gan suy không còn khả năng giáng hoá các histamin này, và được cho là có liên quan mật thiết với tình trạng gia tăng áp lực tĩnh mạch cửa nhưng không liên hệ rõ rệt với sự

nhiễm Helicobacter pylori(2) Trong lâm sàng, thông tin này rất hữu ích cho việc chẩn đoán và xử trí ban đầu ở các bệnh nhân xơ gan nhập viện vì xuất huyết tiêu hoá, nó nâng cao vai trò và ý nghĩa của thuốc ức chế tiết aicd trong xử trí ban đầu ở các bệnh nhân này

khi chưa có kết quả nội soi tiêu hoá trên

KẾT LUẬN

Chúng tôi đã khảo sát tỉ lệ loét dạ dày tá tràng ở 225 bệnh nhân xơ gan nhập viện vì XHTH tạiKhoa Nội Tiêu hoá Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Thống Nhất và đã thu được kết quả như sau: Tỉ lệ XHTH do loét dạ dày tá tràng ở bệnh nhân xơ gan là 36%, còn do vỡ giãn TMTQ

là 64% Nghiên cứu này cho thấy cần nâng cao vai trò của các thuốc ức chế tiết acid dịch vị trong

xử trí cấp cứu ban đầu nhằm đạt được hiệu quả điều trị tối ưu ở các bệnh nhân xơ gan nhập viện

vì XHTH trong khi chờ nội soi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahmed G, Basel E, et al (2013) “Prevalence and outcome of peptic ulcer bleeding in patients with liver cirrhosis”

Trang 5

2 Chen LS, Lin HC, Hwang SJ, Lee FY, Hou MC, Lee SD (1996)

“Prevalence of gastric ulcer in cirrhotic patients and its

relations to portal hypertension” J Gastroenterol Hepatol , 11,

pp 59–64

3 Fujiwara Y, Arakawa T, Higuchi K, Kuroki T (1998), Fujiwara

(chủ biên) “Gastrointestinal lesions in liver cirrhosis” Nippon

Rinsho;56, pp 2387–2390

4 Hoàng Trọng Thảng (2006), “Xơ gan”, Hoàng Trọng Thảng

(chủ biên) Bệnh tiêu hoá Gan - mật Nhà xuất bản Y học, chi

nhánh Hà Nội, trang 315-330

5 Lo GH, Yu HC, Chan YC, et al (2005) “The effect of

eradication of Helicobacter pylori on the recurrence of

duodenal ulcers in patients with cirrhosis” Gastrointest Endosc; 62, pp 350–356

6 Trần Ngọc Lưu Phương, Nguyễn Thị Cẩm Tú và Nguyễn Thị Thanh Trúc (2010), “Khảo sát đặc điểm nội soi dạ dày thực

quản trên bệnh nhân xơ gan” Tạp chí Y học TPHCM, Tập 14,

số 2, trang 135 – 145

Ngày nhận bài báo: 01/07/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/07/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w