Kỹ nghệ mô đang được quan tâm trong những thập kỷ gần đây như là một liệu pháp mới trong điều trị và tái tạo mô. Đặc biệt, khung nền 3 chiều đóng vai trò là một cấu trúc vật lý tạm thời hỗ trợ cho sự phát triển của tế bào và tạo thành các mô mới. Tại Việt Nam, hiện có rất ít các nghiên cứu trong lĩnh vực nhiều tiềm năng này.
Trang 1CHẾ TẠO KHUNG NỀN 3 CHIỀU TỪ POLYME PHÂN HỦY SINH HỌC (POLYCAPROLACTONE) VÀ KHẢO SÁT SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẾ BÀO
GỐC TRUNG MÔ TỪ TỦY XƯƠNG NGƯỜI
Hồ Thị Kim Ngân* * , Nguyễn Thị Mai Trâm* * , Nguyễn Thành Trung*, Nguyễn Trọng Nam*
TÓM TẮT
Mở đầu: Kỹ nghệ mô đang được quan tâm trong những thập kỷ gần đây như là một liệu pháp mới trong
điều trị và tái tạo mô Đặc biệt, khung nền 3 chiều đóng vai trò là một cấu trúc vật lý tạm thời hỗ trợ cho sự phát triển của tế bào và tạo thành các mô mới Tại Việt Nam, hiện có rất ít các nghiên cứu trong lĩnh vực nhiều tiềm năng này
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo tổng kết quy trình chế tạo khung nền 3 chiều từ polyme
phân hủy sinh học (polycaprolactone) bằng phương pháp đông khô nhũ tương Khung nền 3 chiều này được kiểm tra khả năng phân hủy sinh học và thử nghiệm nuôi cấy tế bào gốc trung mô người
Kết quả: Khung nền từ polyme phân hủy sinh học (Polycaprolactone -PCL) được chế tạo với hai phần trăm
khối lượng nước khác nhau trong nhũ tương (gọi tắt là 20% và 40%) Các khung nền được dùng để khảo sát, kiểm tra ảnh hưởng đối với sự tương thích sinh học và sự phát triển của tế bào gốc trung mô lấy từ tủy xương người (bone marrow derived human mesenchymal stem cell - hBMMSC) hBMMSC đã được cấy lên và phát triển trên khung nền thành công Sau lần lượt 1, 3, 7 ngày nuôi cấy trong buồng phản ứng sinh học, sự phát triển của tế bào cấy trong khung nền được ghi nhận thông qua việc kiểm tra độ gia tăng số lương tế bào bằng phương pháp MTT cải tiến (khoảng 6% và 16% tế bào phát triển sau 7 ngày lần lượt cho khung nền chế tạo với 20% nước và 40% nước trong nhũ tương)
Kết luận: Chúng tôi đã thành công trong việc chế tạo khung nền 3 chiều từ PCL và khảo sát sự tương thích
sinh học của loại vật liệu này với tế bào gốc trung mô từ tủy xương người hBMMSC được cấy lên thành công và phát triển khá tốt trên loại vật liệu này Kết quả nghiên cứu thể hiện tiềm năng của việc ứng dụng loại vật liệu này trong kỹ nghệ mô tại Việt Nam
Từ khóa: Khung nền 3 chiều từ polyme, poly (ɛ-caprolactone), đông khô nhũ tương, tế bào gốc trung mô
người
ABSTRACT
POLYMERIC SCAFFOLD FABRICATION AND PRELIMINARY INVESTIGATION OF BONE STEM
CELL PROLIFERATION
Ho Thi Kim Ngan*, Nguyen Thi Mai Tram*, Nguyen Thanh Trung, Nguyen Trong Nam
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * No 6 - 2016: 228 - 234*
Background: Tissue engineering has been focused in the past decades as a new therapy for tissue repair and
regeneration Specifically, 3D scaffold plays an important role as a type of temporary architecture to assist cell growth and tissue formation
This study reports the fabrication of polymeic 3D scaffolds for bone tissue regeneration using emulsion freeze-drying method Poly (ɛ-caprolactone) was specially chosen as the biodegradable polymer Water-in-oil emulsion of PCL in dichloromethane and water was investigated using Span80 as the surfactant Cell proliferation, cell
* * Trường Đại học Quốc Tế, đại học quốc gia TPHCM ** Đại học Y Dược TPHCM
Trang 2biocompatibility and biodegradation of PCL scaffolds were examined The former was monitored by MTT assay
Method: PCL foams with different percentages of water (20% and 40%) were successful fabricated,
characterized by scanning election microscopy and tested with bone marrow derived human mesenchymal stem cell (hBMMSC) for biocompatibility and cell proliferation hBMMSC was successfully seeded and grown on PCL scaffolds After 1, 3, and 7 days of culturing on scaffold, increased cell viability observed via modified MTT assay After 7 days of cell culture, cells proliferated by around 6% and 16% with 20% water scaffold and 40% scaffold accordingly
Result: This study highlighted the cell biocompatibility and cell proliferation of hBMMSC originated from a
Vietnamese donor on successfully fabricated PCL scaffolds Emulsion freeze-drying method is a feasible and approachable method for scaffold fabrication The results outline the potential of applying this type of material to tissue engineering in Vietnam
Keywords: Polymeic 3D scaffold, poly (ɛ-caprolactone), emulsion freeze-drying, human mesenchymal stem
cell
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kỹ nghệ mô (tissue engineering–TE) đã phát
triển nhanh trong những thập kỷ gần đây, chứng
minh khả năng phát triển, tái tạo hoặc thay thế
mô, áp dụng cho việc thay đổi hoàn toàn những
mô và cơ quan sinh học bệnh và bị tổn thương,
cụ thể như mô xương(7,9) mô sụn(3,5), và mô cơ(1)
Trong hướng nghiên cứu này, khung nền 3 chiều
(3D scaffold) hoạt động như là một kiến trúc vật
lý tạm thời cho sự phát triển của tế bào(2,6,10) Rất
nhiều loại vật liệu được sử dụng để thay thế và
điều trị các mô xương bệnh hoặc mô tổn thương
bao gồm: kim loại, sứ, và vật liệu cao phân tử
(polyme, tự nhiên và tổng hợp) Trong số đó, vật
liệu cao phân tử (polyme) tổng hợp là một trong
những nhóm vật liệu sinh học được quan tâm
nhiều trên thế giới(6) Nhóm vật liệu này được
nghiên cứu nhiều do tính chất vật lý, cơ lý, hóa
học có thể điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thực
tế Đồng thời chúng dễ dàng được tạo thành
những hình thù và kích cỡ phù hợp cho việc
thay thế các phần xương cần được chữa trị
Trong số các vật liệu trong nhóm này,
polycaprolactone (PCL) là loại vật liệu polyme
tổng hợp có đặc tính phân hủy sinh học được
quan tâm nhiều vì nó được hiệp hội FDA (Food
and Drug Administration, USA) công nhận cho
sử dụng trong y học và thực phẩm
Trong lĩnh vực kỹ nghệ mô xương, các loại tế
bào đã được nuôi cấy và sự phát triển của chúng
trên khung nền được khảo sát trong rất nhiều
nghiên cứu in vitro và in vivo(1,3,5,7) Đặc biệt, các hợp chất polyme tổng hợp có thành phần chủ yếu là PCL được chứng minh là có khả năng tương tác tốt với dòng nguyên bào xương (osteoblast) trích từ người.4
So với thế giới, lĩnh vực y học tái tạo hiện đang vẫn còn mới mẻ ở Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu này tập trung vào việc chế tạo khung nền 3 chiều từ polyme PCL và khảo sát sự tương tác và sự phát triển của tế bào trên loại vật liệu này Phương pháp đông khô nhũ tương được áp dụng chính để chế tạo khung nền Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam, khung nền được chế tạo thủ công và khảo sát sự hỗ trợ cho tế bào gốc trung mô từ tủy xương người
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nguyên vật liệu
Tất cả hóa chất được mua từ công ty Sigma Chemical Co Khối lượng nguyên tử trung bình (Mw) của PCL là 70000-90000 Dichloromethane tinh chất (DCM) and petroleum ether được sản xuất bởi công ty Fischer (Loughborough, UK) Tế bào gốc trung mô được lấy từ Phòng thí nghiệm
Tế bào gốc, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TPHCM Môi trường nuôi tế bào (MSCCult Kit medium) và trypsin-EDTA 0.25% cũng được mua từ Phòng thí nghiệm Tế bào gốc (BioMedFactory, SCL) Môi trường MSCCult Kit
Trang 3medium có chứa DMEM/F12 bổ sung thêm 15%
huyết thanh bào thai bê FBS (fetal bovine serum),
kháng sinh, L-glutamine, EGF (epidermal
growth factor) and bFGF (basic fibroblast growth
factor) (Sigma Aldrich, St Louis, MO, USA)
Phương pháp nghiên cứu
Chế tạo khung nền từ PCL
Phương pháp chế tạo được phát triển bởi
Whang và Baker các cộng sự(1,8).Tất cả dụng cụ
và khuôn 18 lỗ (được làm thủ công) (Hình 1)
được hấp khử trùng ở 1200C trong 20 phút để
chế tạo khung nền trong điều kiện gần như vô
trùng Cánh khuấy PTFE được ngâm trong cồn
70% trong 3 giờ 0,77g Polycaprolactone (PCL)
được hòa tan trong 4,5mL dichloromethane
(DCM) và 0,25g Span®80, được sử dụng như
chất hoạt động bề mặt, trong một bình cầu đáy
tròn 50mL Sau khi polyme được hòa tan hết,
2mL nước cất được nhỏ từng giọt vào hỗn
hợp, sử dụng kim tiêm vô trùng 1mL Khi thu
được nhũ tương, không khí bên trong nhũ
tương sẽ được loại bỏ bằng máy hút chân
không và nhũ tương sẽ được cho vào khuôn
bằng muỗng Sau khi để lắng trong 30 phút,
khuôn sẽ được làm lạnh cấp tốc bằng ni-tơ
lỏng và chuyển vào máy đông khô chân
không Mẫu được đông khô trong 24 giờ và
ngâm trong 24 giờ tiếp theo để loại bỏ chất
hoạt động bề mặt Hình dạng và cấu trúc
khung nền được khảo sát bằng kình hiển vi
điện tử (SEM) vận hành tại 5,0kV Khung nền
được cắt lớp và chụp dưới kính hiển vi điện tử
không cân phủ
Hình 1: Khuôn 18 lỗ dùng để tạo hình cho khung nền
Kiểm tra khả năng phân hủy sinh học của khung nền
Khối lượng ban đầu của khung nền (W0) được xác định bằng cân phân tích và sau đó khử trùng bằng cách ngâm trong cồn 70% trong1 giờ, rửa 1 lần với nước cất và 5 lần với dung dịch PBS
đã tiệt trùng Sau khi loại bỏ nước đọng bằng giấy lọc sạch, khung nền được đặt trong đĩa 24 giếng và ngâm trong 2mL dung dịch PBS/giếng Đĩa được đặt trong tủ CO2 ở 380C Tại lần lượt các thời điểm cố định (ngày 10, 20, 30, 40), khung nền được lấy ra và để khô tự nhiên trong 24 tiếng trước khi được kiểm tra khối lượng lần tiếp theo (Wt) Phần trăm khối lượng giảm (%) được tính bằng công thức (W0 - Wt)/W0 x 100%.(1)
Nuôi cấy tế bào gốc trung mô
Tế bào gốc trung mô lấy từ tủy xương người (hBMMSC) được xét nghiệm âm tính với HBV, HIV, mycoplasma, vi khuẩn và nấm Tế bào được nuôi trong tủ CO2 (Galaxy 14S, New Brunswick company) ở điều kiện 380C, 95% không khí ẩm với nồng độ 5% CO2 20%wt và 40%wt scaffold với độ dày từ 2-3mm và đường kính 10mm được chọn cho bước nuôi tế bào Tất
cả khung nền được khử trùng trong 1 giờ bằng cồn 70%, rửa qua một lần với nước cất và năm lần với dung dịch PBS sạch Nước sẽ được thấm hút bớt bằng giấy lọc Tám khung nền mỗi loại
sẽ được cho vào một đĩa nuôi cấy tế bào 24 giếng, trong mỗi loại 6 khung nền sẽ được phủ bởi tế bào, 2 khung nền còn lại không có tế bào
để làm chất nền đối chiếu 20µL dịch tế bào chứa 1x105 tế bào được pipet lên bề mặt khung nền và
để kết dính trong 2 giờ 2mL của môi trường nuôi MSCCult Kit medium được lấp đầy các khung nền; khung nền sẽ nằm trong môi trường trong 7 ngày và được thay mới mỗi 2-3 ngày.(1)
Kiểm tra sự phát triển của tế bào (Phương pháp MTT cải biến)
Khi tế bào còn sống và diễn ra các hoạt động biến dưỡng, tế bào sẽ sản xuất ra một loại enzyme gọi là succinate dehydrogenase, có thể chuyển hóa MTT
Trang 4(3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium bromide) thành tinh thể
formazan màu tím Tuy nhiên, để có được kết
quả chính xác và tránh bỏ sót các tế bào nằm sâu
bên trong lòng khung nền, phương pháp MTT
với chu trình cải tiến bởi Baker được áp dụng.1
Một bước thêm vào so với phương pháp chuẩn
là sử dụng DCM để hòa tan hoàn toàn khung
nền nhằm giải phóng các tinh thể nằm sâu bên
trong Độ hấp thụ được đo trong cuvette thạch
anh ở bước sóng 570nm, sử dụng máy Cary 60
UV-Vis spectrophotometer - Simple Reads
Application (Agilent Technologies)
KẾT QUẢ Chế tạo khung nền PCL và khảo sát tính chất
Khung nền được chế tạo xốp và khá mềm, với độ dày khoảng 2-3mm và đường kính 10mm Nhũ tương được tạo thành khi nhỏ nước cất từng giọt bằng kim tiêm tiệt trùng 1mL trong quá trình khuấy Không khí trong nhủ tương được loại bỏ trong môi trường chân không Hình chụp SEM của hai loại khung nền cũng ghi nhận
hệ thống lỗ trống bên trong khung nền Kích thước lỗ xốp dao động từ 1µm đến 100 µm ở tất
cả các hình chụp SEM (Xem Hình 2)
Hình 2: Hình chụp ) mặt cắt của các khung nền bằng kính hiễn vi điện tử (SEM) % khối lượng nước (a,b) = 20 % (e,f)
= 40% (a,e) Scale 100μm, x50 (b,f) Scale 100μm, x250
Trang 5Khả năng phân hủy sinh học của khung
nền
Hai khung nền scaffold mỗi loại được chọn
ngẫu nhiên để kiểm tra tính thích nghi sinh học
của khung nền 20% scaffold cho thấy sự giảm
nhanh về khối lượng trong 30 ngày đầu ủ trong PBS ở 380C (Hình 3) Điều tương tự cũng được ghi nhận ở 40% scaffold Thêm vào đó, khung nền có khối lượng lớn thì có khối lượng giảm ghi nhận được cao hơn
Hình 3: Phần trăm khối lượng giảm đi so với thời gian ủ Khung nền được tạo ra bằng phương pháp đông khô nhũ tương với
hai hàm lượng nước khác nhau trong nhũ tương.Khung nền được khử trùng trong 3 giờ bằng cồn 70% và ủ trong 40 ngày
0.1065g; mẫu 2: 0.0616g Hình 7B: PCL scaffold - % nước = 40%, Khối lượng ban đầu: mẫu 1: 0.0498g, mẫu 2: 0.0411g
Nuôi cấy tế bào gốc trung mô
Tế bào trung mô được nuôi cấy theo quy
trình chuẩn của phòng thí nghiệm tế bào gốc,
Đại học Khoa học Tự nhiên Một lớp tế bào và
100mL môi trường được tiến hành nuôi cấy Sau
một tuần, số lượng tế bào ghi nhận tăng thêm 3
lần Các tế bào này được cấy lên bề mặt khung
nền và sự phát triển của tế bào được kiểm tra bằng phương pháp MTT cải tiến sau thời gian 1,
3, 7 ngày Kết quả MTT (Hình 4) cho thấy 20% scaffold hỗ trợ tốt hơn cho sự phát triển của tế bào, so với 40%wt scaffold do ghi nhận được giá trị hấp thụ cao hơn
Hình 4 Kết quả MTT sau 7 ngày nuôi cấy cùng tế bào của hai loại khung nền.
BÀN LUẬN
Nghiên cứu này tập trung vào việc chế tạo
khung nền 3 chiều từ polyme PCL và khảo sát sự
phát triển của tế bào gốc trung mô trên loại vật
liệu này nhằm ứng dụng trong kỹ nghệ mô
xương.Trong quá trình khảo sát, chất lượng
khung nền có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
sau: khối lượng polyme, độ nhớt của nhũ tương, không khí giữ trong nhũ tương trong quá trình khuấy, tốc độ cho nước, thể tích nước trong nhũ tương và sự có mặt của chất hoạt động bề mặt Lần lượt từng loại nhũ tương với 20% và 40% được khảo sát Kết quả cho thấy hai loại scaffold
có sự khác biệt về hình dáng và độ xốp 40% scaffold có độ xốp cao hơn Scaffold với nhiều
Trang 6nước trong nhũ tương hơn sẽ mềm và xốp hơn
Đặc tính này có thể làm ảnh hưởng đến sự phát
triển của tế bào; vì kích thước lỗ trống sẽ thay
đổi với độ xốp có thể dẫn đến vận chuyển trao
đổi chất và hấp thu các chất dinh dưỡng của tế
bào trở nên hạn chế Không khí bị giữ lại trong
nhũ tương có thể ảnh hưởng đến việc tạo ra
khung nền đạt tiêu chuẩn Không khí có thể phá
vỡ hệ thống mạng lưới bên trong scaffold khi áp
suất tác động lên khung nền trong quá trình
đông khô Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ khi
áp dụng chân không để loại bỏ không khí, nhũ
tương thu được mới tạo thành scaffold với độ
xốp thích hợp
Việc kiểm tra khả năng phân hủy sinh học
được tiến hành bằng cách ủ scaffold với PBS ở
380C Tất cả các mẫu đều được khử trùng trước
khi ủ 20% scaffold ghi nhận khoảng 0,03% khối
lượng bị hao hụt, trong khi 40% scaffold ghi
nhận được gần 0,1% khối lượng hao hụt Kết quả
này có thể do sự thủy phân của liên kết ester khi
có sự hiện diện của vi khuẩn
Tế bào gốc trung mô cần được quan tâm đặc
biệt khi tiến hành quá trình nuôi cấy Trước khi
tiến hành cấy chuyền, tế bào phải được kiểm tra
số lượng bằng buồng đếm haemocytometer
Phương pháp MTT được dùng để xác định sự
tồn tại của tế bào trên khung nền Sau 7 ngày
nuôi cấy, số lượng tế bào sống gia tăng với ghi
nhận giá trị hấp thụ của formazan gia tăng Đối
với quy trình chế tạo và khảo sát MTT, khung
nền luôn được giữ ở trạng thái vô trùng Tất cả
dụng cụ đều được khử trùng cẩn thận, và khung
nền cũng được ngâm trong cồn 70% trong 1 giờ
trước khi tiến hành phản ứng MTT để tránh việc
nhiễm khuẩn Thường các loại môi trường sử
dụng trong kỹ nghệ mô không bao gồm kháng
sinh trong thành phần để tránh không phát hiện
được sự phát triển của vi khuẩn Các nghiên cứu
cho thấy việc vật liệu nhiễm khuẩn có thể gây
nên hiện tượng viêm mãn tính trong các thí
nghiệm in vivo . Khử trùng với còn cũng giúp làm
ẩm bề mặt và giúp nước thấm vào khung nền dễ
dàng hơn
KẾT LUẬN
Trong nghiên cứi này, chúng tôi đã thành công trong việc chế tạo khung nền 3 chiều từ PCL và khảo sát sự tương thích sinh học của loại vật liệu này với tế bào gốc trung mô từ tủy xương người hBMMSC được cấy lên thành công
và phát triển khá tốt trên loại vật liệu này Đây là nghiên cứu đầu tiên về ứng dụng tế bào gốc trên vật liêu sinh học được thực hiện tại Đại học Quốc tế Ngoài ra, phương pháp đông khô nhũ tương cũng khá dễ thực hiện và ít tốn kém, cùng với kết quả thí nghiệm khả quan có thể là tiền đề
để mở rộng nghiên cứu này vào lĩnh vực kỹ nghệ mô tại Việt Nam Thêm vào đó, các loại vật liệu khác như PCL dạng mạch nhánh và mạch lưới cũng có thể được khảo sát để kiểm tra sự tương thích với tế bào gốc trung mô
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Rohman G, Southgate J, Cameron NR, (2009), The relationship
between the mechanical properties and cell behaviour on PLGA and PCL scaffolds for bladder tissue engineering
Biomaterials 30 (7), 1321-1328
DW, (2011), Design, fabrication and characterization of PCL
electrospun scaffolds-a review Journal of Materials Chemistry 21
(26), 9419-9453
Cartilage Repair Annals of Biomedical Engineering 32 (1), 26-34
Akaike T, Cho CS, (2003), A novel degradable
polycaprolactone networks for tissue engineering Biomaterials
24 (5), 801-808
Poly(lactide-co-glycolide) microspheres as a moldable scaffold
for cartilage tissue engineering Biomaterials 26 (14), 1945-1952
materials for bone and cartilage repair Progress in Polyme
Science 35 (4), 403-440
Hammer B, (2003), In vivo efficacy of bone-marrow-coated
polycaprolactone scaffolds for the reconstruction of orbital
defects in the pig Journal of Biomedical Materials Research Part B:
Applied Biomaterials 66B (2), 574-580
method to fabricate bioabsorbable scaffolds Polyme 36 (4),
837-842
Krebsbach PH, Feinberg SE, Hollister SJ, Das S, (2005), Bone
tissue engineering using polycaprolactone scaffolds fabricated
via selective laser sintering Biomaterials 26 (23), 4817-4827
Trang 710 Woodruff MA, Hutmacher DW, (2010), The return of a
forgotten polyme-Polycaprolactone in the 21st century
Progress in Polyme Science 35 (10), 1217-1256
Trang 8NHÂN MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU
DO HỘI CHỨNG MAY – THURNER
Nguyễn Hoài Nam*, Lê Phi Long**
TÓM TẮT
Mục tiêu Khảo sát huyết khối tĩnh mạh sâu chi dưới do HC May – Thurner
Phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu từ tháng 01/ 2014 đến tháng 06 / 2016
Kết quả Hồi cứu hồ sơ và khảo sát lại CTScan, chúng tôi ghi nhận 30 trường hợp HKTMSCD được
can thiệp lấy huyết khối bằng Fogarty, trong đó có 9/30 trường hợp được xác định HC May – Thurner Tuổi trung bình là 44,4, tỷ lệ nam/nữ là 1/8 Tỷ lệ tái huyết khối sớm cao là 89% và điểm số VCSS trung bình là 7,625 Can thiệp sửa chữa tổn thương giải phẫu của HC May-Thurner chỉ thành công về mặt kỹ thuật ở 01 trường hợp
Kết luận HKTMSCD do HC May-Thurner là bệnh cảnh thường gặp trên lâm sàng Cần lưu ý hướng
đến chẩn đoán này khi người bệnh có biểu hiện sưng phù 1 bên chân Trái Phương tiện chẩn đoán xác định dựa vào hình ảnh học với vai trò của chụp CT Venography Điều trị theo phác đồ hiện nay là lấy huyết khối với tiêu sợi huyết tại chỗ và sửa chữa thương tổn giải phẫu bằng nong bóng và stent
Từ khóa Huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới, hội chứng May-Thurner, Thang điểm độ nặng lâm sàng
tĩnh mạch
ABSTRACT
DEEP VENOUS THROMBOSIS WITH PREVIOUSLY UNDIAGNOSTIC MAY-THURNER
SYNDROME: A CASE SERIES
Nguyen Kim Anh, Nguyen Hoai Nam * Y Hoc TP Ho Chi Minh * No 6 - 2016: 235 - 240
Objective: To investigate the May-Thurner syndrome in acute deep venous thrombosis
Methods: This is a descriptive retrospective study in which data was reviewed from January 2014 to
June 2016
Results: Among the 30 patients who underwent surgical thrombectomy by Fogarty balloon, we
identified 9/30 (30%) cases of May-Thurner syndrome The mean age was 44.4 Male/female rate was 1/8
endovenous interventional reconstruction was seen in only 1 case technically
This diagnosis should be confirmed, especially when the symptom is left leg swelling The diagnosis is mainly based on the specific images of CTScan venography Current guideline for the treatment suggests catheter directed thrombolysis following by endovenous ballooning and stent reconstruction
Keywords: Deep venous thrombosis, May-Thurner syndrome, Venous Clinical Severity score
* Bộ môn Phẫu thuật lồng ngực và Tim mạch - Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
** Khoa Lồng ngực – mạch máu, Bệnh viện Đại học Y Dược Hồ Chí Minh