1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu kết quả phẫu thuật cắt khối tá tụy do các bệnh lý ác tính vùng quanh nhú Vater tại Bệnh viện Bình Dân

9 93 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 342,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phẫu thuật cắt tá tụy là phương pháp điều trị triệt để duy nhất cho các bệnh lý ác tính vùng quanh nhú Vater. Dò tụy là biến chứng thường gặp và nguy hiểm nhất. Nghiên cứu kết quả phẫu thuật cắt khối tá tụy và các phương pháp nối tụy - ống tiêu hóa nhằm làm giảm tỉ lệ rò tụy. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả của phẫu thuật cắt khối tá tụy và các kỹ thuật khâu nối tụy - ống tiêu hóa trong phẫu thuật cắt tá tụy.

Trang 1

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT KHỐI TÁ TỤY

DO CÁC BỆNH LÝ ÁC TÍNH VÙNG QUANH NHÚ VATER

TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN

Lê Hữu Phước*, Lê Văn Cường*, Nguyễn Cao Cương*, Võ Văn Hùng**, Ngô Viết Thi*,

Võ Thiện Lai*, Võ Ngọc Bích*, Nguyễn Hải Đăng***, Hồ Trung Dũng**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt tá tụy là phương pháp điều trị triệt để duy nhất cho các bệnh lý ác tính vùng

quanh nhú Vater Dò tụy là biến chứng thường gặp và nguy hiểm nhất Nghiên cứu kết quả phẫu thuật cắt khối

tá tụy và các phương pháp nối tụy - ống tiêu hóa nhằm làm giảm tỉ lệ rò tụy

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả của phẫu thuật cắt khối tá tụy và các kỹ thuật khâu nối tụy - ống

tiêu hóa trong phẫu thuật cắt tá tụy

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thiết kết theo phương pháp hồi cứu, hàng loạt

trường hợp (TH), từ tháng 01/2014 đến 06/2017, tại khoa gan – mật – tụy Bệnh viện Bình Dân Mẫu nghiên cứu bao gồm 88 bệnh nhân (BN) có chỉ định phẫu thuật cắt khối tá tụy điều trị bệnh lý ác tính quanh nhú Vater, chia làm 2 nhóm: nhóm nối tuỵ – dạ dày qua mở mặt trước dạ dày và nhóm nối tuỵ – hổng tràng

Kết quả: Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 55,2 ± 11,2 Thời gian phẫu thuật trung bình là 263 phút,

lượng máu mất trung bình là 284 ml, tỉ lệ biến chứng chung là 31,8%, tỉ lệ rò tụy là 10,2%, tỉ lệ mổ lại là 5,7%,

tỉ lệ tử vong 4,5% Đặc điểm nhu mô tụy có ảnh hưởng đến tỉ lệ rò tụy Nhóm nhóm nối tuỵ – dạ dày qua mở mặt trước dạ dày có kết qua tốt hơn nhóm nối tuỵ – hổng tràng về tỉ lệ biến chứng chung Các yếu tố khác tương

tự nhau giữa 2 nhóm

Kết luận: Phẫu thuật cắt tá tụy được chỉ định trong các bệnh lý ác tính quanh nhú Vater là một phẫu thuật

lớn với tỉ lệ biến chứng và tử vong còn tương đối cao, cần được tiến hành bởi các bác sĩ có nhiều kinh nghiệm tại các bệnh viện chuyên khoa có đầy đủ trang thiết bị và nhân lực cần thiết

Từ khoá: phẫu thuật Whipple, phẫu thuật cắt khối tá tụy, nối tuỵ – dạ dày qua mở mặt trước dạ dày, nối tụy

– hỗng tràng

ABSTRACT

A STUDY ON OUTCOME OF PANCREATICODUODENECTOMY FOR PERIAMPULLARY

MALIGNANCIES AT BINH DAN HOSPITAL

Le Huu Phuoc, Le Van Cuong, Nguyen Cao Cuong, Vo Van Hung, Ngo Viet Thi, Vo Thien Lai, Vo Ngoc Bich, Nguyen Hai Dang, Ho Trung Dung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018:474 - 482

Background: Pancreatic surgery is the only treatment for malignant cancers of the area around ampulla of

Vater Pancreatic fistula is the most dangerous and usual complication Study results of pancreaticoduodenectomy and methods of pancreaticogastric anastomosis to reduce the rate of pancreatic leakage

Aims: To evaluate the results of pancreaticoduodenectomy and pancreaticogastric anastomos technique in pancreaticoduodenectomy

* Bệnh viện Bình Dân ** Đại Học Y Dược TP.HCM

Trang 2

Subjects and Methods: This is a retrospective study, case series, from 01/2014 to 06/2017, at hepato –

cholangio – pancreato department Binh Dan Hos The sample consisted of 88 patients that are indicated the pancreaticoduodenectomy to treat malignant cancers of the area around ampulla of Vater They are divided into 2 groups: a transgastric pancreaticogastric anastomosis group and a pancretico-jejunal anastomosis group

Results: Mean age of these patients is 55,2 ± 11,2 Mean operative times is 263 minutes, mean lost blood

quatity is 284 ml Overall complication rate is 31.8%, pancreatic fistula rate is 10.2%, reoperation rate is 5.7% and mortality is 4.5% Pancreatic parenchymal characteristics have an influence on pancreatic fistula rate The transgastric pancreaticogastric anastomosis group has better results than pancretico-jejunal anastomosis group of overall complications Other factors are similar between the two groups

Conclusions: pancreaticoduodenectomy indicated to treat malignant cancers of the area around ampulla of Vater is a complex operation with high complication and mortality rate needed to be done by highly experienced surgeons at centers that have necessary equipment and human resources

Keywords: Whipple surgery, pancreaticoduodenectomy, transgastric pancreaticogastric anastomosis,

pancretico-jejunal anastomosis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật cắt tá tụy là phương pháp điều trị

triệt để duy nhất cho các bệnh lý ác tính vùng

quanh nhú Vater Phẫu thuật (PT) này có nhiều

tai biến và biến chứng (35 – 65%) như: chảy máu

do rách tĩnh mạch (TM) cửa, xì rò miệng nối tụy

– ống tiêu hóa, chảy máu sau mổ, chậm thoát lưu

dạ dày, áp xe ổ bụng, trong đó đáng ngại nhất

là xì rò miệng nối tụy - ống tiêu hóa (chiếm trung

bình 10-15%), chiếm khoảng 50% các ca tử

vong(10) và được gọi là gân gót Achille của PT

Whipple(6) Có nhiều nghiên cứu khoa học đã

được thực hiện nhằm mục đích hạn chế tối thiểu

biến chứng này và tập trung vào các nhóm sau:

dụng cụ cắt tụy (dao thường, dao điện, dao siêu

âm, ), thay đổi vật liệu khâu nối (chỉ khâu

không sang chấn), hạn chế bài tiết tụy sau mổ

(dùng thuốc Octreotide, tắc ống tụy tạm thời, đặt

stent ống tụy), dùng keo sinh học dán lại miệng

nối tụy ruột, thay đổi kỹ thuật khâu nối tụy với

đường tiêu hóa, … (1,4,7,12,17,19,26)

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về phẫu

thuật cắt tá tụy tại Bệnh viện Bình Dân với câu

hỏi nghiên cứu: có bao nhiêu kỹ thuật khâu nối

tụy - ống tiêu hóa trong phẫu thuật cắt tá tụy

được áp dụng và kết quả điều trị ra sao

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỉ lệ các phương pháp nối tụy – tiêu

hóa trong phẫu thuật cắt tá tụy tại Bệnh viện Bình Dân

Xác định các tai biến, biến chứng của phẫu thuật cắt tá tụy và các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tai biến và biến chứng của phẫu thuật

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thu thập được 88 BN đã được thực hiện phẫu thuật cắt tá tụy do các bệnh lý

ác tính vùng quanh nhú Vater tại Bệnh viện Bình Dân trong thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2014 đến 06/2017, địa điểm nghiên cứu tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy Bệnh viện Bình Dân thành phố Hồ Chí Minh

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán bệnh lý ác tính vùng quanh nhú Vater qua nội soi đoạn D2

tá tràng, chụp cắt lớp điện toán hoặc cộng hưởng

từ mật tụy Kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật chẩn đoán xác định Đã được điều trị bệnh

lý ác tính vùng đầu tụy và quanh nhú Vater bằng phẫu thuật cắt tá tụy tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy Bệnh viện Bình Dân

Thiết kế nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu, mô

tả hàng loạt ca, từ tháng 01/2014 đến 06/2017

Phân tích và xử lý số liệu

Tất cả số liệu được mã hóa, nhập và tính toán

Trang 3

dựa vào phần mềm SPSS 16.0 for Windows

Thống kê mô tả, cung cấp những thông tin về số

lượng, tỉ lệ phần trăm, số trung bình ± độ lệch

chuẩn Sử dụng các phép kiểm t, Chi bình

phương, Kendall's tau và Fisher Khác biệt có ý

nghĩa thống kê khi p< 0,05

KẾT QUẢ

Trong thời gian nghiên cứu 42 tháng (từ

01/2014 – 06/2017), chúng tôi đã thực hiện 88

trường hợp cắt khối tá tụy điều trị ung thư

quanh nhú Vater

Đặc điểm lâm sàng

Tuổi trung bình của bệnh nhân là 55,2 ± 11,2

Lớn nhất là 77 tuổi, nhỏ nhất là 26 tuổi

Tỉ lệ nam và nữ là 0,76 (38/50)

Vàng da là triệu chứng phổ biến nhất chiếm

84,1% (74 BN), kế đến là đau bụng vùng hạ sườn

phải chiếm 44,3% (39 BN), sốt 19,3% (17 BN)

Đa số các trường hợp đến khám và nhập

viện vì vàng da và đau bụng Chỉ có 15 TH nhập

viện cấp cứu vì viêm đường mật và 9 TH viêm

tụy cấp Các trường hợp viêm đường mật bệnh

nhân có kèm đau hạ sườn phải và sốt, đôi khi

lầm với viêm đường mật do sỏi

Thời gian khởi bệnh (từ lúc có triệu chứng)

trung bình là 24,1 ± 43,3 ngày (1 – 360 ngày)

Đặc điểm cận lâm sàng

Bilirubin toàn phần: 3,7 – 519,8 mmol/L

(174,2 ± 141,9), tỉ lệ bệnh nhân có tắc mật

(bilirubin > 17,1 mmol/L) chiếm 85,2% (75 TH)

SGOT: 14 – 491 U/L (113,2 ± 93,9), tỉ lệ BN có

tăng SGOT (> 40 UI/L) chiếm 83,0% (73 TH)

SGPT: 11 – 536 U/L (131,5 ± 123,1), tỉ lệ BN có

tăng SGPT (> 40 UI/L) chiếm 78,4% (69 TH)

CA 19-9: 0 – 1200 U/mL (306,2 ± 440,2), với

62,5% BN (55 TH) có tăng CA 19-9 (> 37 U/mL)

CEA: 0,56 – 620,8 ng/mL (12,9 ± 68,6), có 13

BN có tăng CEA (14,8%)

Albumin máu: 20 – 44 g/dL (31,6 ± 4,4) Tỉ lệ

BN bị suy dinh dưỡng (Albumin máu < 35 g/dL)

là 81,8% (72/88 BN)

Rối loạn đông máu (TQ > 14s hoặc TCK > 40s): 12/88 BN chiếm tỉ lệ 13,6%

Thiếu máu (Hb < 12 g/dL): 36/88 BN chiếm tỉ

lệ 40,1%

Đặc điểm tụy, đường mật

Kích thước OMC 5 – 30 mm (17,1 ± 4,6 mm), chỉ có 7 TH không có dãn OMC, còn lại 81 TH dãn OMC (> 10 mm) chiếm tỉ lệ 92,0%

Kích thước ống tụy 1 – 10 mm (3,7 ± 2,1 mm),

có 44,3% (39 TH) dãn > 2mm

Mô tụy: mềm 58 TH (65,9%), chắc 16 TH (18,2%), cứng 9 TH (10,2%), bở 5 TH (5,7%)

Phân loại ung thư

Bảng 1: Tỷ lệ ung thư trong nghiên cứu

Vị trí ung thư Số TH Tỉ lệ (%)

Vater 58 65,9 Tụy 15 17,0

Tá tràng 7 8,0 OMC 8 9,1

TC 88 100

Phẫu thuật

Bảng 2: Phương pháp nối tụy – tiêu hóa

Số TH Tỉ lệ (%)

Nối tụy – hỗng tràng 20 22,7 Nối tụy – dạ dày 68 77,3 Tổng cộng 88 100

Thời gian phẫu thuật 180 – 505 phút (263,4 ± 50,1 phút), số lượng máu mất 50 – 2200 ml (284,3

± 319,3 ml)

Trường hợp mất máu 2200 ml trong khi mổ cần phải truyền máu, trường hợp này có tiếp tục chảy máu trong thời gian hậu phẫu được điều trị bảo tồn, ổn định xuất viện sau 12 ngày

Có 1 TH mô tụy rất bở không thể khâu nối tụy và đường tiêu hóa, chúng tôi buộc phải cắt

bỏ gần hết tụy, hậu phẫu bệnh nhân không có biến chúng và được theo dõi điều trị đái tháo đường

Thời gian nằm viện sau mổ 8 – 59 ngày (21,1

± 9,8 ngày)

Biến chứng

Tỉ lệ biến chứng chung là 31,8% (28 TH)

Trang 4

Bảng 3: Tỷ lệ biến chứng

Biến chứng Số TH Tỉ lệ (%)

Rò tụy 9 10,2

Rò mật 4 4,5

Chảy máu ổ bụng 7 8,0

Nhiễm trùng vết mổ 15 17,0

Bảng 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ biến chứng

chung và biến chứng rò tụy

Đặc điểm Biến chứng chung

(p)

Rò tụy (p)

Đặc điểm nhu mô tụy 0,526 0,001

Ống tụy dãn 0,497 1

Kỹ thuật nối tụy - đường tiêu hóa 0,59 0,2

Phân loại ung thư 0,407 0,488

Tăng đường huyết 0,89 0,382

Giảm Albumin máu 0,569 1

Tình trạng dinh dưỡng 0,375 0,836

Thiếu máu 1 1

Tắc mật 0,212 1

Rối loạn đông máu 0,509 0,604

Điều trị biến chứng và tỉ lệ tử vong

Mổ lại 5 TH đều do rò tụy và chảy máu trong

ổ bụng, tỉ lệ mổ lại là 5,7%

Trong 5 TH chảy máu, có 1 TH mô tụy rất bở

buộc phải cắt bỏ toàn bộ tụy cầm máu, trường

hợp này bệnh nhân có hậu phẫu ổn định, 4 TH

còn lại tử vong do sốc mất máu không hồi phục,

tỉ lệ tử vong 4,5%

So sánh 2 nhóm bệnh nhân nối tụy – dạ dày và

nối tụy – hỗng tràng

Bảng 5: đặc điểm chung mẫu nghiên cứu

Đặc điểm Nối dạ dày Nối hỗng

tràng

p

Tổng số (n) 68 20

Nam / nữ 28 / 40 10 / 10 0,484

Tuổi (năm) 54,9 ± 11,4 56,5 ± 10,7 0,581

BMI (kg/m2) 21,0 ± 3,3 21,1 ± 3,1 0,943

Thời gian khởi bệnh

(ngày)

23,0 ± 44,0 27,6 ± 41,7 0,679 Triệu chứng lâm sàng

Vàng da 56 18 0,509

Đau bụng 30 9 1

Nhiễm trùng đường mật 13 2 0,601

Cận lâm sàng

Tăng Bilirubin 56 19 0,282

Tăng SGOT 56 17 1

Tăng SGPT 54 15 0,759

Tăng CA 19-9 41 14 0,431

Đặc điểm Nối dạ dày Nối hỗng

tràng

p

Tăng CEA 10 3 1 Tăng đường huyết 12 6 0,343 Giảm Albumin máu 53 19 0,106 Thiếu máu 29 7 0,541 Rối loạn đông máu 12 0 0,061 Đặc điểm nhu mô tụy 0,156 Mềm 42 16

Chắc 14 2

Ống tụy dãn 37 12 0,658 Phân loại 0,364 Vater 44 14

Tụy 12 3

Tá tràng 7 0

Đặc điểm phẫu thuật Thời gian (phút) 263,0 ± 52,2 264,5 ± 43,1 0,908 Lượng máu mất (mL) 303,5 ±

354,8

219,0 ± 131,2 0,301

Thời gian nằm viện (ngày)

20,8 ± 9,1 21,8 ± 12,3 0,703 Biến chứng chung 18 10 0,047 Biến chứng rò tụy 5 4 0,2

Mổ lại 3 2 0,318

Tử vong 2 2 0,221

BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Tuổi và Giới Bảng 6: So sánh độ tuổi trung bình với các tác giả

khác

Tuôi trung bình (năm)

Tác giả 55,2 (26-77), n=88 Văn Tần(23) 44,38, n=120 LaFemina(10) 55, n=23

T V Phơi(22) 58,43 (35-78), n=35 Oussoultzoglou(19) 59,17, n=250 N.T.Cường(16) 60,3 (30-89), n=107 Seiler(21) 65,0 (26-86), n=130

So sánh với các tác giả khác trong bảng, chúng ta thấy rằng tuổi trung bình được chúng tôi ghi nhận lớn hơn kết quả của Văn Tần(23) và nhỏ hơn các tác giả khác, trong đó Seiler(21) là lớn nhất

Lý giải cho điều này chính là do sự hiểu biết

và ý thức của bệnh nhân ngày càng cao trong khám sức khỏe tầm soát sớm bệnh lý ung thư,

Trang 5

giúp phát hiện sớm bệnh lý ung thư Ngoài ra

còn phải kể đến sự phát triển của các phương

tiện chẩn đoán hình ảnh như: siêu âm, chụp cắt

lớp điện toán, chụp cộng hưởng từ, nội soi tá

tràng sinh thiết, siêu âm qua nội soi, … cũng như

các xét nghiệm tumor marker đóng vai trò rất vai

trọng trong việc tầm soát và chẩn đoán sớm

bệnh lý ung thư vùng quanh bóng Vater, giúp

tăng tỉ lệ phẫu thuật được trên những bệnh nhân

này và tuổi của bệnh nhân phẫu thuật được

trong nghiên cứu của chúng tôi nhỏ hơn trong

các nghiên cứu trước đây của các tác giả khác

Tỉ lệ nữ nhiều hơn nam, có thể do đa số bệnh

nhân là ung thư nhú Vater, và là những BN có

thể phẫu thuật được Trong khi đó, tỷ lệ này

được Nguyễn Tấn Cường(16), Văn Tần(23),

Oussoultzoglou(19) và Trần Văn Phơi(22) ghi nhận

lần lượt là: 0,66; 0,81; 1,6 và 1,91 Tỷ lệ này có độ

dao động khá rộng từ 0,66 đến 1,91

Lý do nhập viện và thời gian khởi bệnh

Lý do nhập viện của bệnh nhân chủ yếu là

đau bụng và vàng da, với đặc điểm vàng da tăng

dần và đau thượng vị hoặc hạ sườn phải với

mức độ nhẹ – vừa và âm ỉ Đặc điểm khởi phát

này phù hợp với sinh lý bệnh các bệnh lý u vùng

quanh nhú Vater: khối u diễn tiến to dần, làm

hẹp dần ống mật chủ, gây tắc mật tiến triển ngày

càng nặng Theo Seiler (21), tỷ lệ vàng da là 34,6%,

Trần Văn Phơi(22) là 54,3%, Oussoultzoglou(19) là

54%, của chúng tôi là 86,4%

Thời gian khởi bệnh (từ lúc có triệu chứng)

trung bình là 24,1 ngày, khá lâu, đặc biệt có

trường hợp đến điều trị sau gần 12 tháng khởi

phát Điều này cho thấy hoặc bệnh nhân chưa

quan tâm đúng mức tình trạng sức khoẻ của bản

thân hoặc khả năng phát hiện bệnh chưa tốt của

một số nơi khám bệnh tuyến ban đầu

Ung thư nhú Vater, đoạn cuối OMC và tá

tràng có triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng

tương tự ung thư tụy Tỉ lệ các ung thư này

thấp hơn ung thư tụy nhưng khả năng thực

hiện phẫu thuật triệt để cao hơn ung thư tụy,

vì vậy hơn một nửa các phẫu thuật cắt tụy là

do các ung thư quanh bóng Vater trên, nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ cắt tá tụy trên bệnh nhân ung thư nhú Vater 65,9%

CA 19-9 có thể được sử dụng ở những bệnh nhân có triệu chứng, giúp phân biệt giữa các khối u lành tính và ác tính Tuy nhiên, do sự giới hạn của độ nhạy nên cần được sử dụng cùng với các kỹ thuật chẩn đoán khác CA 19-9 thường tăng trong ung thư mật tụy, nồng độ cao hơn 100U/mL có giá trị chẩn đoán ác tính, nồng độ từ 37-100 U/mL ít đặc hiệu Nói chung, nồng độ trong huyết thanh phản ánh kích thước u, u nhỏ

< 1cm hiếm khi nồng độ > 100 U/mL, trong khi

đó với nồng độ > 1000 U/mL thường là biểu hiện của di căn xa Tăng CA 19-9 cũng có thể liên quan đến viêm đường mật Đối với ung thư đoạn cuối OMC, độ nhạy và độ đặc hiệu của CA 19-9 là 53-89% và 80-91% (giá trị ngưỡng là 100U/mL) CEA ít giá trị hơn CA 19-9 trong chẩn đoán ung thư đường mật, độ nhạy và độ đặc hiệu của CEA là 33-68% và 82-95% (24)

Trong nghiên cứu chúng tôi, tăng CA 19-9 gặp ở 62,5% bệnh nhân (55 TH), trong khi đó chỉ

có 13 TH tăng CEA (14,8%)

Phẫu thuật cắt tá tụy

Rò tụy được định nghĩa theo nhóm nghiên cứu quốc tế về rò tụy (ISGPF: International Study Group of Pancreatic Fistula) như sau: Rò tụy là sự thông nối bất thường giữa niêm mạc ống tụy với bề mặt niêm mạc khác chứa dịch từ tụy có nồng độ enzyme cao Rò tụy là dịch đo lường được từ ngày hậu phẫu thứ 3 và có lượng amylase cao gấp 3 lần nồng độ ở huyết thanh

Rò tụy được chia là 3 mức độ như sau:

Độ A: rò tụy nhẹ, không có triệu chứng, dịch

ra dẫn lưu Không cần điều trị đặc hiệu

Độ B: rò tụy có triệu chứng, BN có thể than đau bụng, sốt, buồn nôn…cần được đánh giá và điều trị nâng đỡ, dịch truyền, kháng sinh

Độ C: rò tụy nặng cần điều trị tích cực BN thường trong tình trạng nặng, dễ nhiễm trùng, suy cơ quan và có thể bị đe dọa tính mạng Một

Trang 6

số TH cần can thiệp phẫu thuật (PT) như cắt bỏ

gần hết tụy, dẫn lưu rộng quanh tụy

Rò tụy là biến chứng nguy hiểm nhất trong

phẫu thuật cắt tá tụy Một trong những cải tiến

so với phương pháp chuẩn để hạn chế biến

chứng này là nối tuỵ với mặt sau dạ dày, kỹ

thuật này đã được thực hiện tại Bệnh viện Bình

Dân, Bệnh viện Chợ Rẫy khá lâu(15,23), trên thế

giới thực hiện đầu tiên vào năm 1946 bởi Waugh

và Clagett(10) Kỹ thuật này dựa trên nền tảng lý

thuyết là cơ dạ dày dầy, chắc, mạch máu nuôi

dồi dào và dịch toan dạ dày trung hoà tốt dịch

tuỵ bài tiết

Trong mổ hở, khâu tuỵ vào mặt sau dạ dày

tương đối dễ dàng, nhưng càng dễ dàng,

thuận lợi, và an toàn hơn khi tiếp cận xuyên

qua dạ dày (mở mặt trước dạ dày) Theo ý

kiến chủ quan của chúng tôi, với ưu điểm trên

còn được nâng lên nhiều lần trong phẫu thuật

khâu nối qua nội soi, nhất là khi dùng dụng cụ

mang kim tự động (Endo-Stitch) Phương

pháp khâu tụy với dạ dày qua mở mặt trước

dạ dày đã được LaFemina mô tả vào năm

2010(10)

Một báo cáo trong nước cũng đã đề cập đến

kỹ thuật này với kết quả ban đầu cho thấy nhóm

bệnh nhân phẫu thuật cắt tá tụy nối tuỵ dạ dày

qua mở mặt trước dạ dày có kết qua tốt hơn

nhóm nối tuỵ hổng tràng về lượng dịch dẫn lưu,

số ngày nằm viện sau mổ và tỷ lệ biến chứng ít

hơn(11) Tuy nhiên theo Nguyễn Cao Cương, tỉ lệ

rò tụy của 2 phương pháp này là như nhau Tác

giả còn khuyến cáo nếu phẫu thuật viên đã

thành thạo phương pháp nối nào thì nên tiếp tục

thực hiện hoàn thiện phương pháp đó để làm

giảm tỉ lệ rò tụy(13)

Chúng tôi thực hiện phẫu thuật cắt tá tụy

bảo tồn môn vị, khi khâu nối tụy với đường

tiêu hóa chúng tôi chọn lựa giữa 2 kỹ thuật nối

tụy – hỗng tràng và nối tụy – dạ dày qua xẻ

mặt trước dạ dày Không có tiêu chuẩn lựa

chọn phương pháp phẫu thuật Phương pháp phẫu thuật tùy theo kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật chính, do bác sĩ phẫu thuật chính quyết định

Sự khác biệt về phương pháp phẫu thuật của 2 nhóm là ở thì khâu nối mật – tuỵ – dạ dày – hỗng tràng Ở nhóm tụy – dạ dày, chúng tôi mở mặt trước dạ dày theo đường song song trục dạ dày, thuộc 1/3 dưới dạ dày, dài 4 – 6 cm, cầm máu kỹ; tiếp tục xẻ mặt sau dạ dày, cầm máu kỹ, đưa đầu tuỵ đã cắt vào lòng

dạ dày; tiến hành khâu tuỵ vào mặt sau dạ dày

2 lớp: lớp ngoài khâu cơ và thanh mạc dạ dày với bao tuỵ, bằng chỉ không tan, mũi rời hoặc liên tục; lớp trong khâu niêm mạc dạ dày với chu vi mặt cắt tuỵ, bằng chỉ không tan, mũi liên tục và đóng lại mặt trước dạ dày Kỹ thuật khâu tương đối dễ thực hiện, các đường khâu chắc chắn, an toàn và có thể khâu qua nội soi – nhất là dùng dụng cụ Endo – Stitch (dụng cụ mang kim tự động chuyển kim qua lại) Trường hợp không bảo tồn môn vị, có thể khâu nối qua mặt cắt của dạ dày mà không cần xẻ mặt trước dạ dày và trường hợp như thế này sẽ được xếp vào nhóm chứng Thực hiện các miệng nối ống mật chủ – hỗng tràng,

dạ dày – hỗng tràng hoặc theo kiểu Billroth I; hỗng tràng đi sau đại tràng ngang Ở nhóm tụy – hỗng tràng, thực hiện phẫu thuật Whipple cổ điển, nối tuỵ – hỗng tràng tận bên, kiểu đơn giản, hay kiểu Roux – en – Y; có thể nối tận tận nếu thân tuỵ nhỏ (kiểu Child) Thời gian phẫu thuật trung bình 263,4 phút, ngắn hơn so với các nghiên cứu khác như Trần Văn Phơi 284 phút (22), Nguyễn Tấn Cường 324 phút(16)

Lượng máu mất trung bình của chúng tôi là 284,3 ml, ít hơn ghi nhận của Văn Tần(23)

(1000ml), Seiler(21) (1230 ml)

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác nhau giữa 2 kỹ thuật khâu nối tụy - ống

Trang 7

tiêu hóa về thời gian mổ và lượng máu mất

Tỉ lệ biến chứng và tử vong

Bảng 7: Tên bảng

Rò tụy Biến chứng chung Tử vong

N T Cường (2004)(16) 12,2 40,8 12,2

T V Phơi (2005)(22) 20 2,9

N M Hải (2005)(15) 7,9 26,7 3,9

N C Cương(2008)(14) 8,2 34 4,1

LaFemina(10) 26,0 91,3 0,0

DeOliveira(2) 9,0 33,5

Gouma(5) 8,6 62,6 6,9

Chúng tôi 10,2 31,8 4,5

Tỉ lệ biến chứng sau mổ còn khá cao, khoảng

30 - 50% (3) Chúng tôi có 28 TH có biến chứng

sau mổ, chiếm tỉ lệ 31,8%

Trong đó tỉ lệ rò tụy là 10,2%, đây cũng là

biến chứng nguy hiểm nhất, dẫn đến phải mổ lại

trên 5 bệnh nhân Có tổng cộng 9 trường hợp rò

tụy, 4 trường hợp được điều trị nội khoa bảo tồn

thành công 5 trường hợp nặng, dịch tụy rò làm

tổn thương mô gây chảy máu trong ổ bụng và

đường tiêu hóa, dẫn đến phải phẫu thuật lại

Trong 5 TH này, có 1 TH mô tụy rất bở buộc

phải cắt bỏ toàn bộ tụy cầm máu, trường hợp

này bệnh nhân có hậu phẫu ổn định, 4 TH còn

lại tử vong do sốc mất máu không hồi phục, tỉ lệ

tử vong 4,5%

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và các

tác giả khác cho thấy tỉ lệ biến chứng và tử

vong của phẫu thuật còn tương đối cao, chứng

tỏ phẫu thuật cắt khối tá tụy là một phẫu thuật

lớn, có nhiều nguy cơ tai biến biến chứng và

tử vong, cần được thực hiện tại các bệnh viện

chuyên khoa lớn với các bác sĩ phẫu thuật có

nhiều kinh nghiệm

Biến chứng nhiễm trùng 17,0% chủ yếu là

nhiễm trùng vết mổ, không có trường hợp nào

nhiễm trùng trong ổ bụng Biến chứng nhiễm

trùng vết mổ được điều trị bảo tồn bằng kháng

sinh, cắt chỉ hở vết thương, thay băng, cấy dịch

mủ và kháng sinh đồ Tất cả các trường hợp đều

cho kết quả tốt, không có trường hợp nào diễn

tiến nặng làm bung vết mổ thành bụng

Có 4 trường hợp rò mật (4,5%) trong tuần đầu sau mổ, dịch mật ra dẫn lưu dưới gan vùng

hạ sườn phải, chủ yếu cho rò từ miệng nối mật ruột điều trị chủ yếu là nội khoa bảo tồn và chọc hút Không có TH nào mổ lại, dịch mật rò giảm dần và hết sau 1 tuần

Có 7 trường hợp chảy máu trong ổ bụng sau

mổ (8,0%), trong đó 5 trường hợp là chảy máu

do rò tụy Cả 5 trường hợp này đều phải mổ lại Còn 2 trường hợp chảy máu không do rò tụy thì được điều trị nội khoa bảo tồn thành công bằng truyền máu và chích thuốc cầm máu

Có các bằng chứng rõ ràng là tỉ lệ tử vong của phẫu thuật thấp dưới một con số nếu phẫu thuật được thực hiện tại các trung tâm chuyên khoa Tại West Mislands trong 2 thập kỷ đến

1986, tỉ lệ phẫu thuật triệt để chỉ 2,6% và tỉ lệ

tử vong của phẫu thuật là 45% và 28% trong 2 thời kỳ Một nghiên cứu tại New York cho rằng phẫu thuật viên thực hiện ít hơn 9 TH phẫu thuật cắt tá tụy trong 1 năm có tỉ lệ tử vong là 16% so với phẫu thuật viên thực hiện trên 40 TH có tỉ lệ tử vong là 5% Hiện nay, tỷ

lệ tử vong trong PT cắt tá tụy đã giảm đáng

kể, khoảng 2% tại các bệnh viện lớn(3) và qua báo cáo của các tác giả như sau: Nguyễn Tấn Cường(16) – 12,2%, Gouma (5) – 6,9%, Văn Tần(23)

– 5,0%, Nguyễn Minh Hải(15) – 3,9%, Seiler(21) – 2,3%, LaFemina(10) – 0%, tỉ lệ tử vong của chúng tôi là 4,5% (4 TH)

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ biến chứng rò tụy

Các yếu tố có liên quan, ảnh hưởng đến biến chứng rò tụy cũng được các tác giả quan tâm Theo Okabayashi(18) xác định được 02 yếu

tố nguy cơ gây rò tụy là mô tụy và Amylase/máu (có ý nghĩa thống kê): mô tụy cứng và Amylase/máu > 195 U/L ở ngày hậu phẫu thứ nhất Nuôi ăn qua đường miệng sớm

sẽ giảm rò tụy Theo Schmidt(20) nghiên cứu

510 TH, rò tụy 46 TH (9%), xác định các yếu tố

có liên quan đến rò tụy như sau: loại nối tụy – đường tiêu hóa, thời gian nằm viện, nhiễm

Trang 8

trùng vết mổ, áp xe trong bụng, mổ lại, chuẩn

bị ruột trước mổ, Theo House(8) thì lớp mỡ

sau thận dầy (đo qua CT - Scanner, MRI) là

yếu tố nguy cơ rò tụy Theo Kazanjian(9) các

yếu tố liên quan đến rò tụy là số lượng biến

chứng khác, rò mật, hẹp đường mật, nhiễm

trùng huyết và mổ lại Đặc biệt, Yamamoto(25)

nghiên cứu 387 TH và thành lập bảng điểm

tiên lượng khả năng rò tụy có các yếu tố liên

quan như: chỉ số ống tụy (tỉ lệ của đường kính

ống tụy chính với trục ngắn của thân tụy), liên

quan tĩnh mạch cửa – dính vào u, bề dầy mỡ

trong bụng

Kỹ thuật nối tụy – đường tiêu hóa

Về mặt lý thuyết, nối tụy – dạ dày có các

thuận lợi sau:

Men tụy không được hoạt hóa trong môi

trường acid dạ dày vì dạ dày không có men

enterokinase Trypsin và các men hủy protein

khác không được hoạt hóa do đó không làm tổn

thương miệng nối

Cung cấp máu nuôi dạ dày rất dồi dào,

thành dạ dày dày hơn hỗng tràng giúp dễ khâu

nối và miệng nối dễ lành

Mặt sau dạ dày và tụy gần nhau nên chỗ nối

không bị căng

Hút sonde dạ dày sau mổ giảm thể tích và áp

lực dạ dày

Giảm bớt miệng nối cho quai hỗng tràng,

giảm lưu lượng dịch và áp lực quai

hỗng tràng(20)

Tuy nhiên trong một số nghiên cứu ngẫu

nhiên khác cho thấy không có sự khác biệt giữa 2

kỹ thuật nối tụy này và nhiều phẫu thuật viên

vẫn ưa thích nối tụy – hỗng tràng Nghiên cứu ở

Bệnh viện Johns Hopkins cho thấy tỉ lệ rò tụy

tươg đương giữa 2 nhóm nối tụy – hỗng tràng và

tụy – dạ dày là 11% và 12%

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

sự tương đồng giữa hai nhóm nghiên cứu (nối

tụy – hỗng tràng và nối tụy – dạ dày) về dặc

điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, đặc điểm

nhu mô tụy, ống tụy, phân loại ung thư, đặc điểm phẫu thuật, thời gian nằm viện cũng như,

tỉ lệ rò tụy, tỉ lệ mổ lại và tử vong Nhưng phương pháp nối tụy – mặt sau dạ dày có tỉ lệ biến chứng chung thấp hơn nối tụy – hỗng tràng

Mô tụy

Về tiêu chuẩn đánh giá nhu mô tụy, vì chưa

có tiêu chuẩn thống nhất để đánh giá nhu mô tụy, chúng tôi chỉ ghi nhận lại theo đánh giá chủ quan của bác sĩ phẫu thuật

Chúng tôi có 5 TH mô tụy bở thì cả 5 TH đều

có biến chứng rò tụy sau mổ Trong 5 trường hợp phẫu thuật lại, có 1 TH mô tụy rất bở buộc phải cắt bỏ toàn bộ tụy, trường hợp này bệnh nhân có hậu phẫu ổn định

Nói chung, mô tụy bở là một yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ biến chứng của bệnh nhân đặc biệt là biến chứng rò tụy

Các yếu tố khác

Vị trí ung thư, tình trạng dinh dưỡng, giảm Albumin máu, đái tháo đường, kích thước ống tụy, tình trạng thiếu máu, tắc mật và rối loạn đông máu không có ảnh hưởng đến biến chứng phẫu thuật theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi Lý giải cho điều này có thể do cỡ mẫu của chúng tôi tương đối nhỏ, nên chưa thấy được mối liên quan có ý nghĩa thống kê

KẾT LUẬN

Phẫu thuật cắt tá tụy được chỉ định trong các bệnh lý ác tính quanh nhú Vater là một phẫu thuật lớn với tỉ lệ biến chứng và tử vong còn tương đối cao, cần được tiến hành bởi các bác sĩ có nhiều kinh nghiệm tại các bệnh viện chuyên khoa có đầy đủ trang thiết bị và nhân lực cần thiết

Tỉ lệ biến chứng sau mổ của phẫu thuật cắt tá tụy còn tương đối cao là 31,8% (28 TH).Trong đó nguy hiểm nhất là rò tụy 10,2% (9 trường hợp)

Tỉ lệ tử vong của phẫu thuật cắt tá tụy là 4,5% (4 TH) Yếu tố như mô tụy bở có ảnh hưởng đến tỉ

lệ biến chứng của phẫu thuật Các yếu tố khác như kỹ thuật nối tụy với đường tiêu hóa, vị trí

Trang 9

ung thư, tình trạng dinh dưỡng, đái tháo đường,

kích thước ống tụy không ảnh hưởng đến tỉ lệ

biến chứng của phẫu thuật Trong trường hợp

nhu mô tụy bở, cắt toàn bộ tụy có thể làm giảm tỉ

lệ biến chứng và tử vong

Nhóm BN phẫu thuật cắt khối tá tụy nối tụy

– mặt sau dạ dày qua mở mặt trước dạ dày cho

kết quả tốt hơn về tỉ lệ biến chung chung – có ý

nghĩa thống kê Các yếu tố khác tương tự nhau

giữa 2 nhóm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Curtis J, et al (2005) Surgery for pancreatic cancer: recent

controversies and current practice Gastroenterology, 128:

1626-41

2 DeOliveira ML, et al (2006) Assessment of Complications

After Pancreatic Surgery A Novel Grading System Applied to

633 Patients Undergoing Pancreaticoduodenectomy, Ann

Surg 244: 931–939

3 Eric HJ, et al (2012) Chapter 56 Exocrine Pancreas, Sabiston

Textbook of Surgery, 19 Saunders, Elsevier

4 Fisher WE, et al (2008) Effect of BioGlue® on the Incidence of

Pancreatic Fistula Following Pancreas Resection, J Gastrointest

Surg.;12:882–890

5 Gouma DJ, et al (2000) Rates of Complications and Death

After Pancreaticoduodenectomy: Risk Factors and the Impact

of Hospital Volume, Annals of Surgery, 232(6): 786–795

6 Gulbinas A, et al (2004) Pancreaticojejunal anastomosis: the

Achilles heel of pancreaticoduodenectomy, Medicina Kaunas

Lithuani, 40(10): 927-934

7 Hilal MA, et al (2009) Modified Cattell's

pancreaticojejunostomy, buttressing for soft pancreases and an

isolated biliopancreatic loop are safety measurements that

improve outcome after pancreaticoduodenectomy: a pilot

study International Hepato-Pancreato-Biliary Association 11:

154-160

8 House MG, et al (2008) Preoperative Predictors for

Complications after Pancreaticoduodenectomy: Impact of BMI

and Body Fat Distribution, J Gastrointest Surg., 12: 270–278

9 Kazanjian KK, et al (2005) Management of Pancreatic Fistulas

After Pancreaticoduodenectomy, Arch Surg., 140: 849-855

10 La-Femina J, et al (2010) Transgastric pancreaticogastric

anastomosis, Arch Surg, 145: 476-81

11 Lê Văn Cường, Phan văn Sử và cs (2012) Bước đầu đánh giá

kết quả PT Whipple cải tiến: nối dạ dày qua mở mặt trước dạ

dày, Tạp chí Y học, chuyên đề: Hội nghị khoa học Bệnh viện

Bình Dân, 6(6):156-167

12 Murakami H, et al (2002) Pancreatic Fibrosis Correlates With

Delayed Gastric Emptying After Pylorus-Preserving

Pancreaticoduodenectomy With Pancreaticogastrostomy

Annals of Surgery 235(2): 240–245

13 Nguyễn Cao Cương (2008) Rò tụy sau phẫu thuật bệnh lý tụy

tạng, Y học TPHCM, 12(3): 75 – 80

14 Nguyễn Cao Cương và Văn Tần (2008) Biến chứng PT

Whipple, Y học TPHCM, 12(1): 83-88

15 Nguyễn Minh Hải và cs (2004) PT khối tá tụy cho bệnh lý đầu tụy và quanh nhú vater tại bệnh viện Chợ Rẫy trong 6 năm

(1997-2003): 101 TH, Y học TPHCM, 8(3): 113-17

16 Nguyễn Tấn Cường và cs (2004) Ung thư nhú vater: kết quả

điều trị PT tại bệnh viện Chợ Rẫy, Y học TPHCM, 8, (3):

125-33

17 Ohwada S, et al (2002) In Situ vs Ex Situ Pancreatic Duct Stents of Duct-to-Mucosa Pancreaticojejunostomy After Pancreaticoduodenectomy With Billroth I–Type

Reconstruction Arch Surg 137:1289-1293

18 Okabayashi T, et al (2007) Risk factors, predictors and prevention of pancreatic fi stula formation after

pancreatoduodenectomy, J Hepatobiliary Pancreat Surg., 14:

557–563

19 Oussoultzoglou E, Bachellie P, Bigourdan JM (2004) Pancreaticogastrostomy Decreased Relaparotomy Caused by Pancreatic Fistula After Pancreaticoduodenectomy Compared

With Pancreaticojejunostomy, Arch Surg, 139: 327-335

20 Schmidt CM, et al (2009) Pancreatic Fistula Following Pancreaticoduodenectomy: Clinical Predictors and Patient

Outcomes, Hindawi Publishing Corporation Surgery: 1251-59

21 Seiler CA, et al (2005) Randomized clinical trial of pylorus-preserving duodeopancreatectomy versus classical Whipple

resection – long trem results, Bristish Journal of surgery, 92:

547-556

22 Trần Văn Phơi và cs (2005) PT Whipple trong đđiều trị các

bệnh quanh bóng vater, Y học TPHCM, 9, (1): 43-48

23 Văn Tần và cs (2004) Chỉ định và lợi ích PT Whipple cải tiến

điều trị bệnh lý vùng mật – tụy – tá tràng, Y học TPHCM,8(3):

165-71

24 Veillette G, Castillo CF, (2008) Distal Biliary Malignancy,

Surgical Clinics of North America, 88 : 1429–1447

25 Yamamoto Y, et al (2011) A Preoperative Predictive Scoring System for Postoperative Pancreatic Fistula after

Pancreaticoduodenectomy, World J Surg, 35: 2747–2755

26 Yang YL, et al (2008) Prevention of pancreatic leakage after pancreaticoduodenectomy by modified Child

pancreaticojejunostomy Hepatobiliary Pancreat Dis Int 7:

426-429

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 03/01/2018 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w