Bài viết trình bày đánh giá sự theo dõi và chăm sóc bệnh nhân trước và sau khi khảo sát và triệt đốt ổ loạn nhịp bằng sóng cao tần ở bệnh nhân nhập viện khoa Tim mạch cấp cứu – can thiệp Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 03 – 06/2015.
Trang 1Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015 Nghiên cứu Y học
51 ĐÁNH GIÁ SỰ THEO DÕI VÀ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TRƯỚC
VÀ SAU KHẢO SÁT VÀ TRIỆT ĐỐT ĐIỆN SINH LÝ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT TỪ 03-06/2015
Ngô Thị Kim*, Đào Duy Lượng*, Mạc Minh Khôi*, Trương Quang Khanh*
TÓM TẮT
Mở đầu: Khảo sát, triệt đốt ổ loạn nhịp bằng sóng cao tần được áp dụng ngày một nhiều hơn Đây cũng là
một kỹ thuật can thiệp lên bệnh nhân do đó cần được chăm sóc theo dõi và điều trị cẩn thận Khoa Tim Mạch Cấp Cứu và Can Thiệp của Bệnh viện Thống Nhất đã áp dụng kỹ thuật này từ năm 2000 đến nay, và đã triệt đốt thành công trên 4.000 trường hợp Việc hiểu rõ đặc điểm bệnh lý, theo dõi và chăm sóc BN trước và sau thủ thuật, cũng đóng góp rất nhiều về sự thành công của việc điều trị
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá sự theo dõi và chăm sóc bệnh nhân trước và sau khi khảo sát và triệt đốt ổ
loạn nhịp bằng sóng cao tần ở bệnh nhân nhập viện khoa Tim mạch cấp cứu – can thiệp Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 03 – 06/2015
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu 160 trường hợp thực hiện khảo sát và triệt đốt điện sinh lý tại Khoa Tim mạch cấp cứu – can thiệp, Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 03 – 06/2015
Kết quả: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân 47,01, trong đó có 5 (16%) bệnh nhân <18 tuổi và 120 bệnh
nhân (75%) có độ tuổi >60 tuổi (người cao tuổi) Nguyên nhân gây rối loạn nhịp cần thực hiện triệt đốt bằng sóng cao tần nhiều nhất là nhịp nhanh kịch phát trên thất (124 ca, 77,5%) Số ngày điều trị trung bình là 5 ngày
Có 20/160 (12,5%) bệnh nhân xuất hiện nhịp nhanh xoang sau khi thuốc thủ thuật do thuốc thử
Kết luận: Sau triệt đốt, không có sự khác biệt về các chỉ số mạch và huyết áp, một số bệnh nhân có nhịp
nhanh xoang do tác dụng của thuốc thử sau triệt đốt Không có biến chứng nặng xảy ra và chỉ có một bệnh nhân
có sốc vagal
Từ khóa: triệt đốt điện sinh lý
ABSTRACT
EVALUATE FOLLOWING UP AND TAKING CARE OF PATIENTS PERIPROCEDURAL THE ELECTROPHYSIOLOGY STUDY AND CATHETER RADIOFREQUENCY ABLATION AT THONG
NHAT HOSPITAL
Ngo Thi Kim, Dao Duy Luong, Mac Minh Khoi, Truong Quang Khanh
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 6 - 2015:
Background: Electrophysiology study and catheter radiofrequency ablation have been worldwide introduced
to clinical practice This is an invasive technique Therefore, the patients should be carefully managed and followed
up Since 2000, the Interventional Cardiology and Emergency department of Thong Nhat Hospital has successfully applied this technique for over 4.000 patients Good understanding about mechanism of arrhythmia, periprocedural following up and taking care of the patients play an important role in final endpoints and outcomes
Purposes: Evaluate following up and taking care of patients periproceduaral the electrophysiologystudy and
catheter radiofrequency ablation at Thong Nhat hospital from March to June 2015
Method: Retrospective study of 160 patients admitted to Interventional Cardiology and Emergency
* Khoa Nhịp học Bệnh viện Thống Nhất
Trang 2Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015
department, Thong Nhat hospital from March to June 2015 for doing electrophysiology study and catheter radiofrequency ablation
Result: The average of age is around 47.01 years old, with 5pts (16%) younger than 18 years old and 120 pts
(75%) older than 60 years old The majority of reasons causing arrhythmia which needs to do high radiofrequency ablation is supraventricular paroxysmal tachycardia, accounting for 77.5% (124 pts) The average of hospital stay
is 5 days There were 20/160 pts occur sinus tachycardia due to drugs have been used to check efficiency of procedure
Conclusion: After electrophysiology study and radiofrequency ablation, variation of vital signs is
imsignificant Some pacients occurred sinus tachycardia due to drugs have been used to check efficiency of procedure There were no major complications and one patient was in vagal shock
Key words: electrophysiology study and catheter radiofrequency ablation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn nhịp tim trước đây được điều trị
chủ yếu bằng thuốc Tuy nhiên, cho đến nay
chưa có loại thuốc chống loạn nhịp nào có thể
điều trị triệt căn loạn nhịp tim trong khi bệnh
nhân còn phải uống thuốc lâu dài nên khó tránh
khỏi các tác dụng không muốn của thuốc cũng
như việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân Từ
đầu thập niên 90, người ta đã áp dụng phương
pháp khảo sát điện sinh lý và điều trị triệt đốt
bằng sóng năng lượng RF (Radio frequency) để
điều trị nhịp nhanh kịch phát trên thất và một số
loạn nhịp thất với tỉ lệ thành công cao, kết quả
triệt để giúp bệnh nhân có thể giảm hoặc ngưng
sử dụng thuốc điều trị rối loạn nhịp (3,2)
Khoa Tim Mạch Cấp Cứu và Can Thiệp của
Bệnh viện Thống Nhất đã áp dụng kỹ thuật này
từ năm 2000 đến nay, và đã triệt đốt thành công
trên 4.000 trường hợp Việc hiểu rõ đặc điểm
bệnh lý, theo dõi và chăm sóc BN trước và sau
thủ thuật, cũng đóng góp rất nhiều về sự thành
công của việc điều trị (0)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá sự theo dõi và chăm sóc bệnh nhân
trước và sau khi khảo sát và triệt đốt ổ loạn nhịp
bằng sóng cao tần ở bệnh nhân nhập viện khoa
Tim mạch cấp cứu – can thiệp Bệnh viện Thống
Nhất từ tháng 03 – 06/2015
Thiết kế nghiên cứu
Hồi cứu triệt ngang mô tả 160 trường hợp thực hiện khảo sát và triệt đốt điện sinh lý tại Khoa Tim mạch cấp cứu – can thiệp, Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 03 – 06/2015
Tiêu chuẩn nhận bệnh
Tất cả bệnh nhân được điều trị rối loạn nhịp bằng phương pháp triệt đốt bằng sóng năng lượng RF, nhập viện và điều trị tại khoa Tim mạch cấp cứu – can thiệp, Bệnh viện Thống Nhất
và có hồ sơ bệnh án được lưu trữ
Độ tăng huyết áp dựa trên phân độ JNC – VIII
Xử lý, phân tích số liệu bằng phần mềm Excel 2010
KẾT QUẢ - BÀN LUẬN
Bảng 1: Đặc điểm tuổi và giới tính của nhóm nghiên
cứu
Trung bình 47,01
Rối loạn nhịp xảy ra ở nhiều độ tuổi, trong
đó, tuổi nhỏ nhất là 14 tuổi và lớn nhất là 81 tuổi Mặc dù Bệnh viện Thống Nhất là bệnh viện Lão khoa, tuy nhiên Khoa Tim mạch cấp cứu – can
Trang 3Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015 Nghiên cứu Y học
thiệp là một trung tâm tim mạch hàng đầu, đóng
vai trò lớn trong các công tác chỉ đạo tuyến
Chính vì thế, việc điều trị không chỉ cho đối
tượng trên 60 tuổi, mà còn điều trị cho các đối
tượng bệnh nhân trẻ, và cả bệnh nhân nhi (<18
tuổi) Tỉ lệ nam:nữ là 1:1,54 Tỉ lệ này cũng tương
tự với tỉ lệ nam:nữ trong dân số là 1:1,34
Bảng 2: Số ngày điều trị theo từng nhóm bệnh
Số ngày
điều trị
Chung
n=160
NTTT n=26
NNT n=9
NNKPTT (n=124)
Trung bình 5 6,35 5,9 5,02
Qua nghiên cứu, chiếm đa số bệnh lý khảo
sát và triệt đốt điện sinh lý là do nhịp nhanh kịch
phát trên thất với tỉ lệ 77,5% (124 ca) Kế đến là
Ngoại tâm thu thất (26 ca, 16,25%) và nhịp
nhanh thất (9 ca, 5,6%) Số ngày điều trị trung
bình của bệnh nhân triệt đốt định sinh lý vì
ngoại tâm thu thất là dài nhất (6,35 ngày) Trong
khi đó, số ngày điều trị trung bình của bệnh
nhân triệt đốt định sinh lý vì nhịp nhanh kịch
phát trên thất là 5 ngày, trong đó số ngày ngắn
nhất là 2 ngày và dài nhất là 24 ngày Trường
hợp bệnh nhân điều trị 24 ngày là do bệnh nhân
điều trị các bệnh lý mạn tính phối hợp kèm theo
Trong quá trình chăm sóc bệnh nhân hậu
phẫu, việc thời gian điều trị ngắn sẽ giúp giảm
nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện Các bệnh
nhân nhập viện để thực hiện triệt đốt điện
sinh lý, thông thường sẽ được thăm khám
ngoại trú trước; khi đã có chỉ định triệt đốt
điện sinh lý triệt phá ổ loạn nhịp thì sẽ được
làm các xét nghiệm tiền phẫu Bệnh nhân chỉ
nhập viện 1 ngày trước khi thực hiện phẫu
thuật để được chuẩn bị cho cuộc mổ Việc
nhập viện trước 1 ngày, và được xuất viện
ngay khi tình trạng hậu phẫu ổn định (trường
hợp có số ngày điều trị là 2) sẽ không chỉ giảm
nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện cho bệnh
nhân, mà còn giúp giảm chi phí nằm điều trị,
cũng như tăng tỉ lệ luân chuyển của khoa Với
số ngày điều trị ngắn, một điều rõ ràng là
bệnh nhân cần phải được theo dõi đúng quy
trình trước – sau mổ, đồng thời cần được theo dõi sát sao các chỉ số sinh hiệu trước và sau phẫu thuật, điều này thể hiện vai trò chăm sóc bệnh nhân của điều dưỡng là vô cùng quan trọng
Bảng 3: chỉ số huyết áp và mạch trước và sau phẫu
thuật
Chỉ số trung bình thấp nhất cao nhất
TRƯỚC CAN THIỆP
HA tâm thu 115,88 90 170
HA tâm trương 71,38 60 90
SAU CAN THIỆP
HA tâm thu 115,13 41 160
HA tâm trương 71,2 22 60
Các chỉ số trung bình về mạch – huyết áp trước và sau can thiệp là không có sự khác biệt (p>0,05) Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, huyết
áp tâm thu và tâm trương sau can thiệp thấp hơn
có ý thấp nhất là 41/22mmHg Đây là trường hợp bệnh nhân bị shock vagal ngay sau khi rút sheath Bên cạnh đó, mặc dù chỉ số mạch trung bình của trước và sau can thiệp là tương tự nhau, nhưng mạch nhanh nhất trước can thiệp là 192 lần/phút, và chỉ số này hạ xuống còn 123 lần/phút sau can thiệp
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chỉ chỉ
có 5 bệnh nhân là có chỉ số huyết áp cao và sau phẫu thuật còn 3 trường hợp bị cao huyết áp Có
20/160 (12,5%) bệnh nhân có nhịp nhanh xoang
sau thủ thuật là do thuốc thử sau triệt đốt và sau
đó nhịp tim sẽ trở lại bình thường Trong qúa trình thực hiện cắt đốt điện sinh lý, bác sỹ thực hiện thủ thuật phải sử dụng một số thuốc kích thích nhịp cũng như một số thao tác nhằm trigger ổ tạo nhịp bất thường để khảo sát tình trạng điện sinh lý tim, từ đó phát hiện điểm tạo nhịp bất thường Bên cạnh đó, sau khi đã đốt vùng cơ tim nghi ngờ hiện diện ổ tạo nhịp bất thường bằng sóng cao tần, bác sỹ sẽ xác định lại kết quả cắt đốt ổ tạo nhịp cũng bằng cách kích thích tim Chính vì vậy, bản thân kỹ thuật cắt đốt điện sinh lý đã tạo ra một tình trạng stress tâm lý
Trang 4Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015
cho bệnh nhân, có thể gây những biến động trên
nhịp tim và huyết áp Không những thế, chi tiết
kỹ thuật còn có những thao tác và sử dụng các
thuốc tác động lên nhịp tim và huyết áp Như
vậy việc thay đổi tần số nhịp tim (tăng/ giảm)
sau thủ thuật là điều có thể tiên lượng trước
được
Trong thời gian thu thập dữ liệu, chúng tôi
đã ghi nhận được chỉ có 1 trường hợp ghi nhận
được bị shock vagal với huyết áp tụt và mạch
chậm sau khi rút sheath Kinh nghiệm rút được
từ trường hợp này chính là cần phải ép chặt chỗ
chọc catheter sau khi rút sheath khoảng 20 phút
và đồng thời phải theo dõi dấu hiệu sinh tồn
cũng như quan sát bệnh nhân qua monitor sau
can thiệp cho dù trước can thiệp bệnh nhân
không có những rối loạn nhịp quan trọng
KẾT LUẬN
Sau triệt đốt, không có sự khác biệt về các chỉ
số mạch và huyết áp, một số bệnh nhân có nhịp
nhanh xoang do thuốc thử sau triệt đốt Không
có biến chứng nặng và có một bệnh nhân có biến chứng nhẹ là sốc vagal Việc theo dõi, chăm sóc
kỹ lưỡng sau phẫu thuật triệt đốt điện sinh lý là
vô cùng quan trọng để phát hiện những dấu
hiệu bất thường của bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
http://www.heart.org/HEARTORG/Conditions/Arrhythmia/P
reventionTreatmentofArrhythmia/Ablation-for-Arrhythmias_UCM_301991_Article.jsp
triệt đốt qua catheter bằng sóng cao tần điều trị cuồng nhĩ thể điển hình – Tạp chí Y học Tp Hồ Chí Minh số 1 tập 16 – 2012, chuyên đề Nội khoa; 200
loạn nhịp bằng năng lượng sóng có tần số radio qua đường catheter - Tạp chí Tim mạch học Việt Nam số 64-2014; 88:61-76
Ngày nhận bài báo: 12/08/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/08/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015