Bài viết trình bày khảo sát kiến thức, thái độ của Điều Dưỡng về sự cố y khoa không mong muốn (SCYKKMM) và một số yếu tố liên quan đến SCYKKMM tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ 01/07/2015- 01/01/2016.
Trang 1KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ 1 SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
VỀ SỰ CỐ Y KHOA CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BV NGUYỄN TRI PHƯƠNG
Cao Thị Mỹ Châu*, Trần Thị Hồng Huệ*, Tất Mỹ Hoa*, Nguyễn Thị Lan Minh*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát kiến thức, thái độ của Điều Dưỡng về sự cố y khoa không mong muốn (SCYKKMM) và
một số yếu tố liên quan đến SCYKKMM tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ 01/07/2015- 01/01/2016
Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả
Kết quả: Điều Dưỡng có kiến thức đúng về SCYKKMM: 16% Điều Dưỡng có thái độ đúng với
SCYKKMM: 89,5% Các nguy cơ tiềm ẩn có thể gây ra SCYKKMM: 68,4% thực hiện y lệnh miệng,21,1% bàn giao ca bằng miệng 84,5% tiếp xúc BN trùng cả họ, tên, giới tính 80,6% có gặp y lệnh ghi trong hồ sơ bệnh án không đọc được.67,2% không có thời gian giao tiếp với BN.77% mất tập trung khi môi trường làm việc có nhiều tiếng ồn Các SCYKKMMđã xảy ra trong BV: 70,2% thiếu hoặc hư trang thiết bị y tế trong thực hành chăm sóc 31,2% thực hiện y lệnh điều trị bị sai hoặc thiếu sót 30,9% nhầm tên người bệnh 28,8% BN nhiễm trùng bệnh viện 22,3% nhầm lẫn thuốc 19,6% BN bị té ngã.3,2% nhầm phẫu thuật, thủ thuật
Bàn luận và kết luận: Kiến thức về SCYKKMM còn mới, ĐD không nhớ nhưng có thái độđồng tình rất
cao với việc phải báo cáo SCYKKMM để rút kinh nghiệm chung cho toàn BV, rộng hơn trong cả lĩnh vực y tế Có nhiều yếu tố nguy cơ có thể xảy ra SCYKKMM trong BV, Tất cả các SCYKKMM xảy ra trong ngành y đều có xảy ra ở BV chúng ta Đây là nghiên cứu về lý thuyết nhưng giúp bệnh viện có cái nhìn toàn diện hơn về SCYKKMM ở góc độ của ĐD, từ đó sẽ đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giảm SCYKKMM xảy ra trong BV, đảm bảo sự an toàn cho BN trong suốt thời gian nằm viện
Từ khóa: Sự Cố Y Khoa Không Mong Muốn (SCYKKMM)
ABSTRACT
SURVEY ON KNOWLEDGE, ATTITUDE AND SOME FACTORS RELATED TO MEDICAL
ADVERT EVENT OF NURSES IN NGUYEN TRI PHUONG HOSPITAL
Cao Thi My Chau, Tran Thi Hong Hue, Tat My Hoa, Nguyen Thi Lan Minh
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 3 - 2017: 106 - 111
Objectives: To survey the knowledge attitude of nurses on MUE (Medical Unexpected Event) and related
factors in Nguyen Tri Phuong Hospital from July 1/ 2015 to January 1/ 2016
Methods: Descriptive, cross section study.
Results: Nurses who had good knowledge were 16%, good attitude 89.5% The latent factors of MUE were:
68.4% were verbal medical instruction, 21.1% were handing over by verbal speech, 84.5% were patients had the same family name, proper name and gender 80.6% were writing orders unreadable 67.2% were shortage of time
to discuss with patients 77% were unconcentrating by noisy environment In the MUE happened in the hospital: 70.2% were by lacking of equipment 31.2% were by incorrect in carrying out the medical instructions 30.9% were by mistaken the patient name 28.8% were by nosocomial infections 22.3% were by medication mistaken 19.6% were by the patient falling down 3.2% were by operation procedures
Conclusion: The knowledge of MUE is still new, the nurses remember and highly sympathize in having to
* Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
Tác giả liên lạc: CNĐD Nguyễn Thị Lan Minh ĐT: 0988652088 Email: lanminh14@gmail.com
Trang 2inform the MUE to learn from mistakes in the hospital and in larger scale of health care There are many risk factors of MUE in the hospital All the MUE of health care in common had happened in Nguyen Tri Phuong hospital This is the survey study but very helpful for comprehensive view in MUE It helps to propose the measures to reduce MUE and to keep safe for the patients during their hospitalization
Key words: Medical Unexpected Event (MUE)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyên tắc hàng đầu của thực hành y khoa
là “Điều đầu tiên không gây tổn hại cho người
bệnh - First Do No Harm to patient” đang là
điều trăn trở đối với người hành nghề khám
chữa bệnh và đã có những sự kiện y tế gây tâm
lý bất an cho cả người sử dụng và người cung
cấp dịch vụ y tế Bằng chứng nghiên cứu đa
quốc gia đã khẳng định người bệnh đang phải
gánh chịu nhiều thiệt hại do sai sót chuyên môn
và sự cố y khoa Mặc dù những sai sót và sự cố
này không ai muốn và không ai chấp nhận
những nó vẫn xảy ra hàng ngày(1)
Sự cố y khoa không mong muốn
(SCYKKMM) ngày nay đang được xã hội và
ngành y tế quan tâm vì hậu quả khó lường của
sự cố đối với người bệnh và nhân viên y tế Khi
sự cố không mong muốn xảy ra, cả người bệnh
và thầy thuốc đều là nạn nhân Đặc biệt đối với
người bệnh phải gánh chịu hậu quả của các sự
cố không mong muốn làm ảnh hưởng tới sức
khỏe tạm thời hay vĩnh viễn, thậm chí chết
người Và các cán bộ y tế liên quan trực tiếp tới
sự cố y khoa cũng phải đương đầu trước những
áp lực của dư luận xã hội(3)
Mặc dù người bệnh rất khó chấp nhận
những sai sót và sự cố xảy ra tại các cơ sở cung
cấp dịch vụ Y tế, song sự cố trong y khoa là
khó thể loại bỏ hoàntoàn(hệthống)(1)
Tại Mỹ (Utah- Co orado) các SCYKKMM đã
làm tăng chi phí bình quân cho việc giải quyết sự
cố cho một người bệnh là 2262 USD và tăng 1,9
ngày điều trị/người bệnh Theo một nghiên cứu
khác của Viện Y học Mỹ chi phí tăng 2595 USD
và thời gian nằm viện kéo dài hơn 2,2
ngày/người bệnh Ở Austra ia hàng năm có 470
000 NB nhập viện gặp sự cố y khoa, tăng 8%
ngày điều trị (thêm 3,3 triệu ngày điều trị) do sự
cố y khoa, 18.000 tử vong, 17000 tàn tật vĩnh viễn và 280000 người bệnh mất khả năng tạm thời 16,17,20 Ở Anh: Bộ Y tế Anh ước tính có 850.000 sự cố xảy ra hàng năm tại các bệnh viện Anh quốc, chỉ tính chi phí trực tiếp do tăng ngày điều trị đã lên tới 2 tỷ bảng Bộ Y tế Anh
đã phải sửdụng 400 triệu bảng để giải quyết các khiếu kiện lâm sàng năm 1998/1999 và ước tính phải chi phí 2,4 tỷ bảng Anh để giải quyết những kiện tụng chưa được giải quyết Chi phí cho điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện lên tới 1 tỷ bảng hàng năm Tại Nhật Bản theo sốliệu của tòa án, bình quân mỗi ngày người đưa đơn kiện bệnh viện ra tòa từ 2-3 vụ Thời gian giải quyết các sự cố y khoa tại Nhật Bản trung bình 2 năm/vụ khiếu kiện(4)
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của BV Cai Lậy, trong 60 sự cố y khoa không mong muốn xảy ra trong bệnh viện, liên quan đến thực hiện thuốc 30%, liên quan đến cận lâm sàng13%; chăm sóc, theo dõi khác 33% Nguy cơ từ vật nhọn là 85,4%(2)
Mặc dù không muốn, nhưng chúng ta cũng không thể đảm bảo không sai sót bởi tính xác suất, những tình huống chủ quan, lẫn khách quan trong công tác chuyên môn hàng ngày Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể làm hạn chế được những sự cố khi chúng ta tuân thủ các quy định, thiết lập hệ thống giám sát, phòng ngừa để làm giảm sự cố(3)
Tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, chúng tôi
đã thực hiện tập huấn cho tất cả Điều Dưỡng những kiến thức cơ bản về SCYKKMM trong chương trình đào tạo liên tục năm 2015 Trong giai đoạn sắp tới, chúng tôi muốn đẩy mạnh hơn nữa việc thu hút sự quan tâm của NVYT trong bệnh viện về giảm thiểu các SCYKKMM: những rủi ro trong chăm sóc sức khỏe, các biến cố bất
Trang 3lợi, các nguy cơ và báo cáo kịp thời
Xuất phát từ tính cấp thiết và nhu cầu thực
tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát kiến
thức, thái độ và 1 số vấn đề liên quan của Điều
Dưỡng về SCYKKMMtại bệnh viện Nguyễn Tri
Phương ” Qua đó xây dựng và duy trì văn hóa
an toàn người bệnh (ATNB) nhằm cung cấp cho
NB sự chăm sóc an toàn và có chất lượng cao
nhất mà họ xứng đáng được hưởng
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát kiến thức, thái độ và 1 số vấn đề
liên quan củaĐiều Dưỡng tại bệnh viện Nguyễn
Tri Phương về SCYKKMM
Mục tiêu cụ thể
Xác định tỷ lệ Điều Dưỡng có kiến thức và
thái độ đúng về SCYKKMM
Xác định các nguy cơ tiềm ẩn gây nên
SCYKKMM
Xác định các SCYKKMM đã xảy ra trong
bệnh viện
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian
Từ ngày từ 01/07/2015- 01/01/2016)
Địa điểm
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu
Tất cả Điều Dưỡng đang công tác tại bệnh
viện NTP
Cỡ mẫu
385
Kỹ thuật chọn mẫu
Tiêu chí nhận vào
Tất cả Điều Dưỡng đang công tác tại BV
nghiên cứu
Tiêu chí loại ra
Không thỏa tiêu chí chọn, Tất cả các phiếu khảo sát không cung cấp đầy đủ thông tin
Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng bảng câu hỏi tự điền (trắc nghiệm), mỗi đối tượng nghiên cứu một bộ câu hỏi: 24 câu
Phương pháp kiểm soát sai lệch
Đối với điều tra viên
Tập huấn, cung cấp kiến thức và mục tiêu, phương pháp
Đối với bảng câu hỏi
Thiết kế rõ ràng, có điều tra thử
Đối với người điền bộ câu hỏi
Có đủ thời gian điền bảng câu hỏi, không điền theo ý đồng nghiệp, giải thích khi có vấn đề thắc mắc nhưng không gợi ý
Phương pháp xử lý số liệu
Phần mềm SPSS
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Đặc điểm dân số mẫu
336 mẫu
Giới tính
Nam: 49 (15%), Nữ: 287 (85%)
Bảng 1: Trình độ chuyên môn
Hình 1 Thâm niên công tác tại BV
Trang 4Nhận xét và bàn luận: Cỡ mẫu trong thời
gian NC không đủ so đự kiến ban đầu là 49 mẫu,
do 1 số phiếu điền đủ thông tin
Nữ chiếm đa số 85,4%, hoàn toàn phù hợp
với ngành nghề điều dưỡng, đối tượng nghiên
cứu 90,1% trình độ trung cấp, sơ cấp chỉ chiếm
0,8% Thâm niên công tác 5-15 năm chiếm tỷ lệ
cao 53,8 %, < 5 năm 35,7%, >15 năm chỉ chiếm
10,4%
Kiến thức ĐD về sự cố y khoa
Bảng 2 ĐD được cập nhật kiến thức về
SCYKKMM
ĐD được cập nhật
Nhận xét và bàn luận: 97% được cập nhật
kiến thức về sự cố y khoa, có đến 87,5% cập nhật
tại BV trong chương trình đào tạo liên tục dành cho ĐD
Hình 2 Sự hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về SCYKKMM
Nhận xét và bàn luận: Chỉ có 16% có kiến
thức đúng về SCYKKKM, còn lại 84% ĐD trả lời sai các câu hỏi kiến thức về SCYKKMM, có thể
do phần lý thuyết về SCYKKMM còn mới mẻ, khá trù tượng và khô khan và thiên về phần lý thuyết nên đối tượng nghiên cứu không nhớ hết
Bảng 3 Sự hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về SCYKKMM
Nhận xét và bàn luận: Ở câu định nghĩa và
biện pháp khắc phục SCYKKMM phần lớn đối
tượng nghiên cứu đều hiểu rõ, chiếm > 90% vì
đây nội dung thường được nhắc đi, nhắc lại khi
nói đến SCYKKMM.Các câu hỏi về phân loại
nguyên nhân xảy ra SCYKKMMđa số trả lời
đúng > 50%, nguyên nhân xảy ra SCYKKMMdo
chuyên môn trả lời đúng chỉ đạt 36,9% đây là
con số đáng báo động
Bảng 4 Xác nhận đúng SCYKKMM trên lâm sàng
83 (24,7%) 253 (76,3%)
Nhận xét và bàn luận: Xác nhận đúng
SCYKKMM trên lâm sàng chiếm 24,7 %, còn lại
76,3% còn chưa nhận đúng SCYKKMM trên lâm
sàng hoặc chưa phân biệt được vấn đề nào gọi là SCYKKMM, hoặc đối tượng nghiên cứu chưa tập trung vào câu hỏi nghiên cứu
Hình 3 Thái độ của ĐD về SCYKKMM Nhận xét và bàn luận: 89,5% có thái rất tốt
khi nhìn nhận SCYKKMM, và hoàn toàn đồng tình với việc SCYKKMM có tác động tiêu cực đến hình ảnh ngành y và thấy việc báo cáo SCYKKMM để rút kinh nghiệm chung cho toàn
hệ thống ngành y là việc làm cần thiết
Trang 5Bảng 5 Thái độ của ĐD về SCYKKMM
SCYKKMM tác động tiêu cực đến
hình ảnh ngành y 329 (97,9%) 7 (2,1%)
Báo cáo SCYKKMM là cần thiết 326 (97%) 10 (3%)
Rút kinh nghiệm từ SCYKKMM 314 (93,4%) 22 (6,6%)
Có sổ theo dõi SCYKKMM 249 (74,1%)
Nhận xét và bàn luận: Mặc dù đã biết việc
báo cáo SCYKKMM là cần thiết, nhưng chỉ có
74,1% cho là tại khoa phòng mình công tác có sổ
theo dõi SCYKKMM, còn 23,9 % cho là không có,
hoặc là không biết có hay không
Bảng 6 Những nguy cơ tiềm ẩn có thể gây ra
SCYKKMM
Có
Thực hiện y lệnh miệng 230 (68,4%)
Có BN trùng cả họ, tên, giới tính 284 (84,5%)
Y lệnh ghi trong HSBA không đọc được 271 (80,6%)
Không có thời gian giao tiếp với BN 226 (67,2%)
Môi trường làm việc thường bị chi phối bởi
Nhận xét và bàn luận: Đây là 1 số nguyên
nhân của nguy cơ tìm ẩn có thể gây ra
SCYKKMM mà chúng tôi đưa ra để khảo sát, kết
quả với 68,4% thực hiện y lệnh miệng, nhưng
điều này thì không được khuyến khích, nếu có
chỉ được sử dụng trong trường hợp cấp cứu
Và có 21,1% trường hợp còn bàn giao ca
bằng miệng
Trong khi đó có đến 84,5% ĐD có tiếp xúc
với BN trùng cả họ, tên, giới tính, điều này dễ
dẫn đến sai sót nhầm lẫn BN
80,6% y lệnh ghi trong hồ sơ bệnh án đối
tượng nghiên cứu không đọc được
Với cường độ làm việc như hiện tại, 67,2%
không có thời gian giao tiếp với BN
77% ĐD mất tập trung khi môi trường làm
việc có nhiều tiếng ồn
Theo nghiên cứu của chúng tôi, đứng đầu
trong SCYKKMM tại BV đó là thiếu hoặc hư
trang thiết bị y tế trong thực hành chăm sóc
(70,2%)
30,9% cho rằng tại khoa phòng của các bạn
đã có sự nhầm tên người bệnh
Bảng 7 Các SCYKKMM đã xảy ra trong bệnh viện
Có
Nhầm tên người bệnh (30,9%) 104 Thực hiện y lệnh sai sót do bàn giao bệnh thiếu
thông tin
105 (31,2%)
Nhầm phẫu thuật/thủ thuật 11 (3,2%)
Thiếu hoặc hư trang thiết bị y tế trong thực hành
chăm sóc
236 (70,2%)
28,8% có BN nằm tại khoa bị nhiễm trùng bệnh viện, phần lớn các bạn làm tại khoa ICU,
HS Ngoại do tất cả các bệnh nhân đều nặng và phải thở máy kéo dài
Sử dụng nhầm thuốc cho người bệnh có 22,3% bạn các bạn có sự nhầm lẫn thuốc khi sử dụng cho BN, nhưng chưa gây ra tác hại nghiêm trọng
19,6% đối tượng nghiên cứu cho rằng có BN
bị té ngã trong khoa phòng trong thời gian người bệnh nằm viện
3,2% cho rằng tại khoa phòng của mình có sự nhầm lẫn trong phẫu thuật, xảy ra trong khối ngoại, thường là do chẩn đoán sai
KẾT LUẬN
Đây nghiên cứu khảo sát kiến thức, thái độ của ĐD về sự cố y khoa, nghiên cứu theo chiều hướng lý thuyết, cho được 1 số các kết quả sau:
Tỷ lệ Điều Dưỡng được tập huấn SCYKKMM: 97%
Tỷ lệ Điều Dưỡng trả lời đúng các câu hỏi kiến thức về SCYKKMM: 16%
Tỷ lệ Điều Dưỡng có thái độ tích cực với SCYKKMM: 89,5%
Có nhiều nguy cơ tiềm ẩn cơ tiềm ẩn tại BV
có thể gây ra SCYKKMM
Có nhiều SCYKKMM đã xảy ra trong bệnh viện
Các yếu tố nguy cơ có thể xảy ra SCYKKMM trong BV như:
Trang 6BN trùng cả tên, họ, giới tính nhập viện
mỗi ngày
Chữ viết các BS điều trị trong HSBA rất
khó đọc
Y lệnh miệng
Thủ tục hành chánh quá nhiều, không có
thời gian giao tiếp BN
Môi trường BV ồn ào tập trung công tác gặp
khó khăn
Tất cả các SCYKKMM xảy ra trong ngành y
đều có xảy ra ở BV chúng ta:
Thiếu trang thiết bị
Nhầm BN
Nhầm thuốc
Nhầm phẫu thuật
Nhiễm trùng BV
Ngã trong BV
Thực hiện sai sót y lệnh
Về mặt tích cực
Điều dưỡng có thái độ đúng đối với các
SCYKKMM, các bạn đồng tình với việc phải báo
cáo SCYKKMM để rút kinh nghiệm chúng cho
toàn BV, rộng hơn trong cả lĩnh vực y tế Và phải
tìm các biện pháp khắc phục để giảm thiểu thấp
nhất SCYKKMM, đảm bảo sự an toàn cho người
bệnh khi nằm viện
Sự quan tâm, hỗ trợ của BLĐ BV: tổ chức
buổi tập huấn, thành lập phòng QLCL quản lý
về SCYKKMM Chấn chỉnh các qui trình khám
chữa bệnh Nâng cao đào tạo, sắm sửa TTB, vi
tính hóa hồ sơ bệnh án nhằm đảm bảo sự an
toàn cho BN trong suốt thời gian nằm viện
Qua đây cũng là cái nền cho chúng tôi tiến
hành các nghiên cứu tiếp theo, sâu hơn về
SCYKKMM tại BV Nguyễn Tri Phương, để qua đó góp phần giúp Ban Lãnh Đạo bệnh viện có cái nhìn toàn diện hơn về SCYKKMM
ở góc độ của ĐD từ đó sẽ đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giảm SCYKKMM xảy ra trong
BV, đảm bảo sự an toàn cho BN trong suốt thời gian nằm viện
ĐỀ XUẤT
Tập huấn lại nội dung về SCYKKMM cho
ĐD trong BV thông qua chương trình đào tạo liên tục của điều dưỡng 2016
Tăng cường khuyến khích nhân viên bệnh viện tự giác báo cáo SCYKKMM
Tổ chức phân tích tìm nguyên nhân gốc của SCYKKMM thông qua kết quả báo cáo sự cố để tất cả nhân viên đều được tham dự có thêm kiến thức thực tiễn, từ đó rút ra kinh nghiệm nghề nghiệp cho bản thân và nâng cao hiệu quả an toàn trong chăm sóc người bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lương Ngọc Khuê (2014)," lời nói đầu", tài liệu đào tạo liên tục
an toàn người bệnh, 1,3, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Hà Nội
mong muốn của điều dưỡng bệnh viện Đa khoa khu vực Cai Lậy 2008-2010”, Tạp chí Y Học TP Hồ Chí Minh,Tập 14(4), tr 1-9
Lương Ngọc Khuê,Tài liệu đào tạo liên tục an toàn người bệnh,1, 9-26,Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Hà Nội
các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, Câu lạc bộ QLCL-ATNB, truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016,
<http://qpsolutions.vn/newsdetail>
Ngày nhận bài báo: 01/11/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 29/11/2016 Ngày bài báo được đăng: 10/04/2017