1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018

6 219 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 344,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả thực trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018.

Trang 1

THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC PHẪU THUẬT TIÊU HÓA VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG NĂM 2018

Đặng Văn Thạch*, Tạ Văn Trầm*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện

Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 192 đối tượng từ

18 tuổi trở lên được chỉ định phẫu thuật tiêu hóa theo kế hoạch tại khoa Ngoại khoa Ngoại Tổng quát Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, từ tháng 02 - 6/2018

Kết quả: Bệnh nhân trước mổ có điểm mức trung bình về mức độ lo âu theo HADS - A là 6,15 ± 3,22

tương ứng Theo tổng điểm cá nhân theo mức khoảng điểm cho thấy có 34,9% bệnh nhân đang lo âu 35% bệnh nhân trước phẫu thuật có nguy cơ lo âu

Kết luận: 34,9% bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa đang lo âu, 35% bệnh nhân có nguy cơ lo âu Các

yếu tố làm tăng tình trạng lo âu: giới tính, cơ quan phẫu thuật, số lần phẫu thuật, thời gian chờ đợi phẫu thuật, thông tin phẫu thuật, giải thích trước phẫu thuật

Từ khóa: Lo âu, phẫu thuật tiêu hóa, Tiền Giang

ABSTRACT

PREOPERATIVE ANXIETY AND ASSOCIATED FACTORS IN PATIENTS BEFORE

GASTROINTESTINAL SURGERY IN TIEN GIANG GENERAL HOSPITAL IN 2018

Dang Van Thach, Ta Van Tram

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 6- 2018: 121 - 126

Objective: To describe anxious state of patients prior to gastrointestinal surgery and identify related

factors in patients at the surgical department of Tien Giang general hospital in 2018

Methods: Cross-sectional study was performed on 192 in-patients aged 18 years and over who were

scheduled for gastrointestinal operation at the surgical department of Tien Giang General Hospital from February to September 2018

Results: Preoperative patients had a mean of Hospital Anxiety and Depression Scale (Hads) was 6.15

± 3.22 According to the total score of points, there were 34.9% of patients are anxious, 35% preoperative patients could have anxious risk

Conclusion: The anxious percentage of pre-gastrointestinal patients was 34.9%, and who underwent

anxious risk were 35% Related factors to anxious state were gender, operated organs, surgical times,

waiting times for surgical procedures, supplying surgical information, preoperative explanation

Keywords: Anxiety, gastrointestinal surgery, Tien Giang

* Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang

Tác giả liên lạc: CN Đặng Văn Thạch, ĐT: 0903411308, Email: thienthach345@gmail.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay với những thành tựu của y học

trong việc chẩn đoán, điều trị đã giúp phát

hiện sớm và điều trị thành công cho nhiều

bệnh nhân Bệnh tật làm thay đổi tâm lý bệnh

nhân, sự biến đổi tâm lý đó càng rõ rệt vì họ

phải trải qua một thử thách lớn, ví dụ như

cuộc phẫu thuật Diễn biến tâm lý của bệnh

nhân tác động hai chiều tới sự thành công của

cuộc phẫu thuật Tâm lý ổn định, an tâm và tin

tưởng vào điều trị có thể giúp họ phục hồi

nhanh hơn, ngược lại bệnh nhân quá lo âu,

nghi ngờ kết quả điều trị, làm ảnh hưởng xấu

đến quá trình điều trị mà đặc biệt là quá trình

gây mê hồi sức

Năm 2016, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm

Tiền Giang đã tiến hành phẫu thuật trên tổng

số 7.187 bệnh nhân (trong đó phẫu thuật tiêu

hóa 2.752 bệnh nhân, chiếm 36%) Năm 2017,

tổng số bệnh nhân phẫu thuật là 7.611bệnh

nhân tăng gần 6%, trong đó phẫu thuật tiêu

hóa chiếm tỷ lệ 51% trong năm 2017 Do là

bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, nên số lượng

bệnh nhân phẫu thuật tương đối nhiều, trong

đó phẫu thuật tiêu hóa theo chương trình

trung bình 4 bệnh nhân/ngày Như vậy có thể

thấy, phẫu thuật tiêu hóa chiếm chủ yếu số ca

phẫu thuật của bệnh viện và có xu hướng tăng

lên theo thời gian các năm gần đây Tuy nhiên,

chưa có nghiên cứu nào trước đây xác định

thực trạng lo âu của bệnh nhân và các yếu tố

liên quan đến lo âu trước phẫu thuật tiêu hóa

tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâmTiền Giang

Chúng tôi nghiên cứu đề tài nầy nhằm Mô tả

thực trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu

thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện Đa

khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018 và Xác

định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo

âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa

tại khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm

Tiền Giang năm 2018

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả thực trạng lo âu của bệnh nhân

trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân (≥ 18 tuổi ) trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Tổng quát Bệnh viện

Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, từ tháng 02 - 09/2018

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên được chỉ định phẫu thuật tiêu hóa theo kế hoạch tại khoa Ngoại khoa Ngoại Tổng quát Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang; Bệnh nhân đồng

ý tham gia vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu; Bệnh nhân giảm tri giác, mất ý thức do bệnh lý, không hợp tác hoàn toàn; Người có bệnh tâm thần

kèm theo

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích

Cỡ mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ

d

) p 1

( p z

/2 -1

Trong đó:

n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết;

α: độ tin cậy Tương ứng với độ tin cậy 95%, ta

cứu tác giả Võ Thị Yến Nhi năm 2017 mức độ

lo âu trước phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện

Đa khoa Kiên Giang)(4); d: độ chính xác tương đối mong muốn 7% Đưa vào công thức ta tính được cỡ mẫu tối thiểu là 189 bệnh nhân Thực tế nghiên cứu

Trang 3

thu thập được 192 phiếu từ tháng 4 năm 2018

đến tháng 6 năm 2018 bệnh nhân trước phẫu

thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Tổng quát -

Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang

Nội dung nghiên cứu

192 đối tượng được chọn theo phương

pháp chọn mẫu thuận tiện, thu thập thông tin

qua hồ sơ bệnh án, bộ câu hỏi phỏng vấn bán

cấu trúc Đối tượng nghiên cứu sẽ điền đầy đủ

thông theo bộ câu hỏi tự điền (theo thang đo

HADS-A) gồm 7 câu hỏi liên quan đến lo âu,

mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn theo các thang

điểm Nhằm, mô tả thực trạng lo âu của bệnh

nhân và xác định một số yếu tố liên quan đến

tình trạng lo âu của bệnh nhân trước phẫu

thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện Đa

khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018

Xử lý và phân tích số liệu

Phần mềm SPSS 18.0

KẾT QUẢ

Thực trạng lo âu bệnh nhân

Một số đặc điểm bệnh tật bệnh nhân phẫu

thuật tiêu hóa

Mức độ lo âu của bệnh nhân trước mổ theo

thang điểm HADS-A: 192 đối tượng tham gia nghiên cứu cho thấy 125 (65,1%) bệnh nhân không lo âu, có triệu chứng gợi ý lo âu 45 (23,4%), lo âu thật sự chiếm 22 (11,5%) Điểm

lo âu trung bình bệnh nhân đạt 6,25 ± 3,22

Bảng 1 Phân bố các yếu tố liên quan đặc điểm đối

tượng nghiên cứu

Các đặc điểm chung Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhóm tuổi

Khu vực sinh sống

Tình trạnghôn nhân hiện tại

Thu nhập

cá nhân

Từ 2 triệu – 5 triệu

Bảng 2: Tỷ lệ lo âu trung bình

Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Bảng 3: Lo âu với các yếu tố liên quan

N (%)

Không lo âu

N (%) p OR (95%CI)

(1,16-3,87)

(1,09-4,28)

(1,43-6,96)

(1,45-5)

(1,82-7,62)

Bệnh kèm theo (tim mạch, tiểu

đường, rối loạn mỡ máu,…)

(1,08-3,57)

(1,12-4,31)

(1,09-3,71)

(1,0-3,43)

Trang 4

Nội dung Lo âu

N (%)

Không lo âu

N (%) p OR (95%CI)

Giải thích trước phẫu thuật

Có giải thích nhưng qua loa,

(1,46-5)

Hướng dẫn, giáo dục sức khỏe

Có hướng dẫn nhưng qua loa,

(1,1-3,68) Hướng dẫn tỉ mỉ, làm mẫu cụ thể 27 (27,27) 72 (72,73)

Thông tin chuẩn bị trước phẫu

thuật

Có thông báo nhưng qua loa,

(1,21-4,06)

Phân tích hồi quy logistic dự đoán yếu tố liên quan đến lo âu của bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa

Bảng 4 Mô hình hồi quy logistic dự đoán yếu tố liên quan đến lo âu bệnh nhân

Yếu tố trong mô hình (biến độc lập) Hệ số hồi quy (β) Sai số chuẩn (SE) p OR (95%CI)

Giới tính

(1,98-10,55)

Cơ quan phẫu thuật

(1,5-8,49)

Số lần phẫu thuật trước

(1,84-11,47)

Thời gian chờ phẫu thuật

(1,37-8,5)

Giải thích trước phẫu thuật

(1,19-6,01)

Hướng dẫn, giáo dục sức khỏe

Có hướng dẫn nhưng qua loa, không được

(0,687-3,246)

Thông tin chuẩn bị trước phẫu thuật

(1,16-5,57)

Cỡ mẫu phân tích n=192; (*) = Nhóm so sánh; - = Không áp dụng Kiểm định tính phù hợp của mô hình thống kê (Hosmer and Lemeshow)

χ 2 = 11,129; df = 8; p = 0,194

BÀN LUẬN

Theo kết quả trong nghiên cứu, tổng trung

bình của khảo sát mức độ lo âu là 6,25 ± 3,22,

tương ứng Mặc dù, theo ngưỡng đánh giá của

mẫu câu hỏi HADS -A (phần phương pháp)

nhìn chung trị tổng trung bình mức độ lo âu

của mẫu nghiên cứu nằm trong mức độ chưa

đáng báo động Tuy nhiên, nếu xét số cá thể có

tổng điểm cá nhân của mức độ lo âu và trầm

cảm theo chuẩn của mẫu câu hỏi HADS-A, cho thấy tỉ lệ số bệnh nhân có lo âu chiếm phần

không nhỏ (bảng 2) Khảo sát ghi nhận được chỉ

có 125 bệnh nhân (65,1%) trong tổng số bệnh nhân không có tâm lý lo âu Ngược lại, kết quả cho thấy có 67 (34,9%) bệnh nhân lo âu

Khi phân tích mức độ lo âu của bệnh nhân thì kết quả của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của các tác giả trên đối tượng bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa: tác giả Võ Thị Yến Nhi(4),

Trang 5

tác giả Đỗ Cao Cường(1) Một nghiên cứu khác

trên đối tượng bệnh nhân trước phẫu thuật

thần kinh tại bệnh viện Chợ Rẫy của tác giả

Huỳnh Lê Phương mức độ lo âu trung bình

7,14 ± 3,58 cũng cao hơn so với nghiên cứu của

chúng tôi(2) Tuy nhiên khi so sánh với các tác

giả nước ngoài tỷ lệ bệnh nhân lo âu trước

phẫu thuật tiêu hóa gần tương đương nhau,

Lee Xu (2015) 20,75%(5) Như vậy, sự khác biệt

về tỷ lệ lo âu trong nghiên cứu của chúng tôi

đa số đều thấp hơn so với nghiên cứu trong

nước có thể do sự khác biệt về đặc điểm cuộc

sống, về văn hóa, về thời gian mắc bệnh theo

tiêu chuẩn lựa chọn của từng nghiên cứu, có

thể khác biệt về hoàn cảnh nghiên cứu hoặc

khác nhau về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

tâm lý xã hội giành cho bệnh nhân trước phẫu

thuật nói chung cũng như bệnh nhân phẫu

thuật tiêu hóa nói riêng

Nghiên cứu của chúng tôi đã tìm thấy yếu

tố tình trạng sức khỏe bản thân có mối liên

quan với tình trạng lo âu của đối trước trước

phẫu thuật tiêu hóa tại khoa Ngoại Bệnh viện

Đa khoa Trung Tâm Tiền Giang, mối liên quan

này đã được khẳng định khi có ý nghĩa thống

kê trong phân tích đơn biến và phân tích đa

biến (p = 0,15, p = 0,026, p = 0,005) Những

bệnh nhân nữ giới có tỷ lệ lo âu cao hơn 2,1

lần so với nam giới Nghiên cứu của tác giả

Jafar MF (2009)(3), Khi phân tích đơn biến 6 yếu

tố về đặc điểm yếu tố lâm sàng liên quan đến

sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật tiêu

hóa, chúng tôi nhận thấy có 4 yếu tố mối liên

quan đến lo âu bệnh nhân bao gồm: cơ quan

phẫu thuật, số lần phẫu thuật trước, bệnh kèm

theo, thời gian chờ phẫu thuật (p < 0,05), nhưng

khi phân tích đa biến có yếu tố cơ quan phẫu

thuật (p=0,004), số lần phẫu thuật trước (p =

0,004), thời gian chờ phẫu thuật (p = 0,001) là có

mối liên quan thật sự với tình trạng lo âu của

bệnh nhân trước phẫu thuật tiêu hóa tại khoa

Ngoại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ lo âu

của người bệnh trước phẫu thuật tại dạ dày,

ruột cao hơn 2,69 lần người bệnh phẫu thuật tại gan- đường mật-túi mật Người bệnh chưa từng được phẫu thuật có tỷ lệ lo âu cao 3,72 lần so với người bệnh phẫu thuật nhiều hơn 1 lần, người bệnh có kèm theo một bệnh trở lên

có tỷ lệ lo âu cao hơn 1,96 lần so với không mắc bệnh kèm theo, bệnh nhân chờ phẫu thuật lớn hơn 7 ngày cũng có tỷ lệ lo âu cao gấp 2,2 lần so với dưới 7 ngày và kết quả phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả trong

và ngoài nước như tác giả Võ Thị Yến Nhi (2017), Huỳnh Lê Phương (2013), Jafar MF (2009)(2,3,4) Tuy nhiên trong nghiên cứu chúng tôi không thấy những yếu tố thời gian phát hiện ra bệnh gần đây, tình trạng lúc nhập viện

liên quan đến lo âu

Yếu tố về môi trường điều trị có liên quan đến tình trạng lo âu Kết quả: không khí buồng bệnh, tình hình an ninh, trật tự trong phân tích đơn biến thì có mối liên quan với tình trạng lo âu bệnh nhân (p = 0,024) Những bệnh nhân đánh giá không khí buồng bệnh bình thường, ảm đạm có tỷ lệ lo âu cao hơn 2,02 lần so với đánh giá không khí vui vẻ, thoải mái Điều kiện an ninh, trật tự bình thường, nguy hiểm thì có tỷ lệ lo âu cao gấp 1,8 lần so với những người đánh giá an toàn (p

= 0,048) Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cũng cho kết quả có mối liên quan giữa các yếu tố về môi trường với tình trạng lo

âu bệnh nhân như tác giả tác giả Đỗ Cao Cường (2013)(1) cho thấy các yếu tố như tình hình an ninh, trật tự,thủ tục hành chánh cso liên quan đến lo âu, tác giả Xu (2016)(5) cũng cho thấy các yếu tố như không khí buồng bệnh, tình hình an ninh, trật tự, vệ sinh buồng bệnh, trang thiết bị

Nhiều nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu khẳng định công tác chuẩn bị trước phẫu thuật là một trong những yếu tố tác động rất lớn đến người bệnh Công tác chuẩn bị trước phẫu thuật có thể là giải thích thuốc, xét nghiệm, giải thích trước phẫu thuật, hướng dẫn giáo dục sức khỏe, thông tin chuẩn bị

Trang 6

phẫu thuật Chính vì thế nghiên cứu của

chúng tôi đã tìm thấy rất nhiều yếu tố có mối

liên quan với tình trạng lo âu trong phân tích

đơn biến, bao gồm: giải thích trước phẫu

thuật, hướng dẫn giáo dục sức khỏe, thông tin

chuẩn bị phẫu thuật Nhưng khi phân tích đa

biến chỉ 2 yếu tố giải thích trước phẫu thuật,

thông tin chuẩn bị phẫu thuật là có yếu tố liên

quan chặt chẽ

Theo chúng tôi đây cũng là một kết quả

phù hợp bởi vì rất nhiều công trình nghiên

cứu trong và ngoài nước cũng đã nêu mối liên

quan giữa lo âu với công tác chauarn bị tước

phẫu thuật như tác giả Võ Thị Yến Nhi (2017),

Huỳnh Lê Phương (2013), tác giả Đỗ Cao

Cường (2012), Jafar MF (2009)(1,2,3,4)

Tóm lại trong nhóm yếu tố công tác chuẩn

bị trước phẫu thuật chỉ có yếu tố giải thích

trước phẫu thuật, thông tin chuẩn bị phẫu

thuật là có mối liên quan thật sự với tình trạng

lo âu bênh nhân trước phẫu thuật (p < 0,05) và

qua bàn luận cũng thấy có sự phù hợp của kết

quả nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi phân

tích đơn biến có 8/15 yếu tố trong nhóm các

yếu tố thuộc về yếu tố bệnh tật (yếu tố lâm

sàng, yếu tố môi trường điều trị, yếu tố công

tác chuẩn bị trước phẫu thuật) có liên quan

đến tình trạng lo âu trước phẫu thuật (p <

0,05) và khi phân tích đa biến thì có 5 yếu tố là:

cơ quan phẫu thuật (p = 0,004), số lần phẫu

thuật (p = 0,001), thời gian chờ phẫu thuật (p =

0,008), thông tin chuẩn bị trước phẫu thuật (p

= 0,01), giải thích trước phẫu thuật (p = 0,017)

là có ý nghĩa Từ kết quả này cho thấy nhóm

yếu tố thuộc về bệnh tật làm việc chi phối rất

lớn đến các yếu tố liên quan đến lo âu mà hai

yếu tố về thông tin chuẩn bị trước phẫu thuật, giải thích trước phẫu thuật là đại diện tiêu biểu cho nhóm này có liên quan đến lo âu bệnh nhân trước phẫu thuật tại bệnh viện Những yếu tố này đa số đều xuất phát từ khi bệnh nhân nhập viện và có thể thay đổi được khi chúng ta thực hiện công tác chuẩn bị bệnh nhân trước phẫu thuật tốt

KẾT LUẬN

Bệnh nhân trước mổ có điểm mức trung bình về mức độ lo âu theo HADS - A là 6,15 ± 3,22 tương ứng Theo tổng điểm cá nhân theo mức khoảng điểm cho thấy có 34,9% bệnh nhân đang lo âu 35% bệnh nhân trước phẫu thuật có nguy cơ lo âu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đỗ Cao Cường, Supaporn Duangpaeng, Pornpat Hengudomsub (2013), " Các yếu tố liên quan đến lo âu trước phẫu thuật ở bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa tại Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Phú Thọ, Việt Nam ", Thai Pharmaceutical and

Health Science Journal, 8 (4), tr 155-162

2 Huỳnh Lê Phương (2013), "Khảo sát mức độ lo âu trước mổ bệnh nhân khoa ngoại thần kinh", Tạp chí Khoa học Bệnh viện Chợ Rẫy, 2, tr 46.

3 Jafar MF, Khan FA (2009), "Frequency of preoperative

anxiety in Pakistani surgical patients" J Pak Med Assoc,

59(6): pp 359-63

4 Võ Thị Yến Nhi (2017), "Các yếu tố liên quan đến sự lo âu của người bệnh trước phẫu thuật tiêu hóa", Luận văn thạc sĩ Điều dưỡng Trường Y dược TP Hồ Chí Minh, tr 20.

5 Xu L, Pan Q, Lin R (2016), "Prevalence rate and influencing factors of preoperative anxiety and depression in gastric

cancer patients in China: Preliminary study", JIMR pp 1-12

6 Yilmaz M, Sezer H, Gurler H, Bekar M (2011), "Predictors of

preoperative anxiety in surgical inpatients", JCN 21: pp

956-64

Ngày nhận bài báo: 10/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/12/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm