1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức và thực hành bán thuốc điều trị tiêu chảy trẻ em của nhân viên nhà thuốc tư nhân tại thị trấn Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

8 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 386,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả kiến thức, báo cáo thực hành và thực hành thực tế trong bán thuốc điều trị tiêu chảy ở trẻ em theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Bộ Y tế của 44 nhân viên nhà thuốc.

Trang 1

KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH BÁN THUỐC ĐIỀU TRỊ

TIÊU CHẢY TRẺ EM CỦA NHÂN VIÊN NHÀ THUỐC TƯ NHÂN

TẠI THỊ TRẤN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Phạm Thị Thu Thủy*, Nguyễn Lâm Vương*

TÓM TẮT

Mở đầu: Tiêu chảy là bệnh đứng thứ hai trong các bệnh mắc nhiều nhất ở khu vực phía Nam Việt

Nam Khi có trẻ bị tiêu chảy, người dân thường có xu hướng tìm đến các nhà thuốc hay quầy thuốc tây đầu tiên Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mô tả kiến thức và thực hành của nhân viên nhà thuốc tây trong bán thuốc điều trị tiêu chảy ở trẻ em

Mục tiêu: Mô tả kiến thức, báo cáo thực hành và thực hành thực tế trong bán thuốc điều trị tiêu chảy ở

trẻ em theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Bộ Y tế của 44 nhân viên nhà thuốc

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát 44 nhà thuốc, quầy thuốc trên thị trấn

Trảng Bom Nghiên cứu được thực hiện theo hai phần: tình huống giả định để mô tả thực hành thực tế và

bộ câu hỏi tự điền để mô tả báo cáo thực hành của nhân viên nhà thuốc trong bán thuốc điều trị tiêu chảy trẻ em

Kết quả: 75% nhân viên nhà thuốc biết ít nhất ba dấu hiệu mất nước và 93,2% biết ít nhất ba dấu hiệu

cảnh báo khi đánh giá tình trạng trẻ tiêu chảy Tuy nhiên, trong thực hành thực tế, tỷ lệ nhân viên nhà thuốc khai thác dấu hiệu mất nước ở trẻ là 2,3% và dấu hiệu cảnh báo là 9,3% Men vi sinh (93,2%) và Oresol (90,9%) là hai nhóm thuốc được lựa chọn nhiều nhất trong báo cáo thực hành của nhân viên nhà thuốc, trong khi thực hành thực tế cho thấy hai nhóm thuốc được bán nhiều nhất là men vi sinh và thuốc chống tiêu chảy với tỷ lệ đều là 69,8% Ngoài ra, tỷ lệ nhân viên nhà thuốc có tư vấn cho khách hàng trong

thực hành thực tế cũng thấp hơn nhiều so với báo cáo thực hành của họ

Kết luận: Kết quả của nghiên cứu này cho thấy kiến thức và thực hành thực tiễn của nhân viên nhà

thuốc không phải lúc nào cũng song hành cùng nhau Mặc dù các nhân viên nhà thuốc có kiến thức về xử trí tiêu chảy trẻ em nhưng thực hành thực tế cho thấy các nhân viên nhà thuốc vẫn còn nhiều hạn chế trong việc đánh giá, lựa chọn thuốc và tư vấn trường hợp trẻ tiêu chảy như theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế

Từ khóa: tiêu chảy, thực hành, nhân viên nhà thuốc, trẻ em

ABSTRACT

KNOWLEDGE AND PRACTICE REGARDING THE TREATMENT OF PEDIATRIC DIARRHEA

AMONG PHARMACISTS IN TRANG BOM TOWN, DONG NAI PROVINCE

Pham Thi Thu Thuy, Nguyen Lam Vuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 306 - 313

Background: Diarrhea is the second most common disease in the South of VietNam A large number of

people attend primary care for their children who have diarrhea from private pharmacies We conducted this study to explore knowledge and practice of pharmacists in the treatment of pediatric diarrhea in private pharmacies

* BM Thống kê-Khoa YTCC, Đại học Y Dược TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Phạm Thị Thu Thủy ĐT: 01227905800 Email: phamthuthuy9336@gmail.com

Trang 2

Objectives: To describe knowledge, self-reported practice and actual practice of 44 pharmacists in the

treatment of pediatric diarrhea compared with recommendation of the World Health Organization (WHO) and the Ministry of Health

Method: The setting was 44 pharmacists in 44 private pharmacies at TrangBom town of DongNai

province The study was separated into two phases: a simulated client to record actual practice and a structured questionnaire to descirbe the knowledge and self-reported practice of pharmacy staffs in treatment of pediatric diarrhea

Results: 75% and 93.2% of interviewed staffs correctly named ≥3 dehydration signs and ≥3 warning

signs of a child with diarrhea that prompted an immediate visit to a health facility, respectively However, 2.3% and 9.1% of them asked in terms of actual practice Almost all pharmacy staffs interviewed named probiotics (93.2%) as the most frequently recommended type of product, followed by Oresol (90.9%) However, results of simulated client surveys indicated that probiotics (69.8%) and antidiarrheals (69.8%) were the most commonly dispensed drugs in their actual practice A similar trend was seen regarding consultations and advice, whereas many surveyed staffs knew consultation contents, only a few provided them to caregivers

Conclusion: Results of the study show that knowledge and practice of pharmacy staffs are not always

correlated with each other Despite their knowledge, their practice were inappropriate in patient evaluation, using of Oresol and other medications and client consultation as recommended the WHO and the Ministry

of Health

Keywords: diarrhea, practice, pharmacy staff, children

MỞ ĐẦU

Tiêu chảy cấp là nguyên nhân chính gây

bệnh tật và tử vong ở trẻ em tại các nước đang

phát triển Hầu hết tử vong do tiêu chảy xảy

ra ở trẻ em dưới 2 tuổi (chiếm 72%) và gây ra

gánh nặng bệnh tật cao nhất ở khu vực hạ

Sahara Châu Phi và khu vực Đông Nam Á(20)

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, trong

năm 2015, có 525977 trẻ em dưới 5 tuổi tử

vong do tiêu chảy, chiếm 9% số trẻ em dưới 5

tuổi tử vong trên thế giới; trong đó Việt Nam

có 2261 trẻ tử vong, chiếm 7% tổng số trẻ em

dưới 5 tuổi tử vong do tiêu chảy(22)

Từ năm 1978, khi Tổ chức Y tế Thế giới

(WHO) và Qũy nhi đồng Liên hợp quốc

khuyến cáo sử dụng liệu pháp bù dịch bằng

dung dịch Oresol (ORS) như một biện pháp

chính yếu để phòng ngừa mất nước trong tiêu

chảy, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do tiêu

chảy đã giảm đáng kể từ 4,5 triệu xuống còn

1,8 triệu trẻ(24) Bên cạnh đó, Tổ chức Y tế Thế

giới cũng khuyến cáo tiếp tục cho trẻ ăn, bú

sữa mẹ và bổ sung kẽm cho trẻ bị tiêu chảy trong và sau thời gian bệnh Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc kê toa thuốc với dung dịch ORS như đã khuyến cáo vẫn còn thấp(6,7,14,15,18)

Mặc dù phương pháp điều trị tiêu chảy khá đơn giản và dễ dàng tiếp cận, nhưng việc

kê toa thuốc điều trị không phù hợp vẫn còn phổ biến, dẫn tới sự gia tăng chi phí cũng như các phản ứng bất lợi của thuốc gây ra cho trẻ Đặc biệt, ở những nước đang phát triển, các nhà thuốc và quầy thuốc tây là nơi người dân thường xuyên ghé đến để tự mua thuốc và được nhận tư vấn điều trị tiêu chảy; bởi các đặc điểm dễ dàng tiếp cận, luôn có sẵn những loại thuốc cần thiết cũng như sự phục vụ nhanh chóng, thuận tiện và giá thành rẻ từ các nhà thuốc(8) Tuy nhiên, nhân viên nhà thuốc (NVNT) không phải lúc nào cũng khuyên dùng các loại thuốc hoặc phác đồ điều trị phù hợp hoặc đầy đủ và có thể gây ra các biến

Trang 3

chứng ở trẻ em bị tiêu chảy(11) Kết quả nghiên

cứu của tác giả Phạm Minh Đức tại năm tỉnh

thành ở Việt Nam đã cho thấy các nhân viên

nhà thuốc vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc

khai thác bệnh sử, cung cấp thông tin cũng

như tư vấn cho trẻ em tiêu chảy(14) Mặt khác,

sự yếu kém về kiến thức điều trị tiêu chảy trẻ

em của hầu hết các nhân viên nhà thuốc cũng

là một trong những nguyên nhân chính yếu

dẫn đến thực hành điều trị không đúng(18)

Tại Việt Nam, khi có trẻ bị tiêu chảy, người

dân thường không đưa trẻ đi khám bác sĩ hay

đến bệnh viện, thường có xu hướng tìm đến

các nhà thuốc hay quầy thuốc tây đầu tiên

Tuy nhiên, các thông tin về điều trị tiêu chảy

trẻ em tại các nhà thuốc tây tại nước ta vẫn

còn hạn chế Nghiên cứu này được thực hiện

nhằm mô tả kiến thức và thực hành bán thuốc

điều trị tiêu chảy trẻ em của NVNT dựa theo

khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế, qua đó, đề ra

các biện pháp khắc phục phù hợp

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 năm 2017

đến tháng 7 năm 2017

Địa điểm nghiên cứu: thị trấn Trảng Bom,

huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Đối tượng nghiên cứu

Các nhân viên của nhà thuốc, quầy thuốc

tây tại thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom,

tỉnh Đồng Nai

Cỡ mẫu

Chúng tôi lấy cỡ mẫu toàn bộ với việc xin

danh sách tất cả 47 nhà thuốc, quầy thuốc có

đăng ký hoạt động tại Phòng Y tế huyện tại thị

trấn Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai năm 2017

Trong đó, có 2 nhà thuốc và 45 quầy thuốc đều đạt GPP

Phương pháp thu thập dữ kiện

Chúng tôi tiến hành thu thập dữ kiện theo

2 phần:

Phần 1: Thực hành bán thuốc điều trị tiêu chảy cho trẻ em của NVNT

Chúng tôi sử dụng phương pháp giả định tình huống (simulated clients) Phương pháp này đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu

về quản lý tiêu chảy tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có tại Việt Nam(5,6,7,12,14,15) Chúng tôi giả định 1 tình huống tiêu chảy thường gặp

ở trẻ dưới 5 tuổi trong cộng đồng Phiếu đánh giá phần thực hành được dựa trên phần đánh giá thực hành của nhóm nghiên cứu PATH với

sự tham vấn của các chuyên gia lâm sàng từ Bệnh viện Bạch Mai Người hỗ trợ là một người mẹ (khoảng 30 – 35 tuổi) của một bé trai đang bị tiêu chảy và tìm đến nhà thuốc, quầy thuốc để mua thuốc điều trị cho bé Người hỗ trợ sẽ được tập huấn kỹ về tình huống tiêu chảy được đặt ra (Bảng 1)

Phần 2: Kiến thức và báo cáo thực hành bán thuốc điều trị tiêu chảy cho trẻ em của NVNT

Một tuần sau khi thực hiện phương pháp giả định tình huống, nghiên cứu viên sẽ đến từng nhà thuốc vào cùng ngày, cùng thời gian

đã thực hiện giả định tình huống tại nhà thuốc

đó, nhằm nâng cao khả năng gặp lại cùng một NVNT đã được khảo sát trước đó (13-15) Nghiên cứu viên sẽ thực hiện phần đánh giá này dựa theo bộ câu hỏi soạn sẵn, được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi của nhóm nghiên cứu PATH với sự tham vấn của các chuyên gia lâm sàng từ Bệnh viện Bạch Mai

Tất cả các câu hỏi đều được thiết kế với một định dạng đóng Các lựa chọn trả lời đã được cung cấp nhưng không được nhắc nhở bởi người phỏng vấn Ví dụ, những người được phỏng vấn được hỏi những lời khuyên

họ sẽ cung cấp cho người chăm sóc Các câu trả lời sau đó được so sánh với danh mục kiểm

Trang 4

tra bao gồm các lựa chọn như phòng ngừa mất

nước, đảm bảo dinh dưỡng, thường xuyên

kiểm tra các dấu hiệu mất nước và ghé thăm

bác sĩ nếu tình hình không cải thiện hoặc đang trở nên tồi tệ hơn

Bảng 1: Nội dung tình huống giả định

“Con trai 14 tháng tuổi của tôi bị tiêu chảy Nó đi phân lỏng 4 lần ngày hôm qua Tôi rất lo lắng Liệu tôi có thể làm gì bây giờ?”

Tình huống 1 Tình huống 2

NVNT trả lời KHÔNG  HỎI:

-Anh/ Chị có biết tôi nên tìm ai hay

đến đâu để tìm kiếm sự giúp đỡ

không?

- Con trai của tôi có thể xảy ra

những chuyện gì?

- Tôi có cần biết thêm những điều gì

không?

Sau khi giải thích những điều bạn có thể làm, NVNT đề nghị các loại thuốc và cung cấp cho bạn thêm một vài thông

tin/ lời khuyên  Mua thuốc được

NVNT bán

Sau khi giải thích những điều bạn có thể làm, NVYT đề nghị các loại thuốc mà không cung cấp thêm thông tin/ lời

khuyên nào  Tiếp tục hỏi thêm các

câu sau:

- Con trai của tôi có thể xảy ra những chuyện gì?

- Tôi có cần biết thêm những điều gì không?

- Nếu con trai tôi không khỏi thì nên đưa cháu đi đâu?

Sau đó, mua thuốc được NVNT bán

Nếu NVNT hỏi bạn những câu hỏi về các triệu chứng về tình trạng tiêu chảy của

bé,  BẠN SẼ TRẢ LỜI: không đau bụng, không khát nước, không nôn, không

sốt và chưa được uống thuốc gì; bé nặng 10kg

Phân tích thống kê

Các dữ liệu sau khi thu thập được nhập

liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý số

liệu bằng phần mềm Stata 13.0 Phép kiểm Mc

Nemar được sử dụng để so sánh tỷ lệ kiến

thức và báo cáo thực hành với tỷ lệ thực hành

thực tế trong bán thuốc điều trị tiêu chảy trẻ

em theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế của

NVNT theo 3 nhóm: Đánh giá tình trạng trẻ

bệnh, Thuốc điều trị tiêu chảy, Hướng dẫn

cách sử dụng ORS, tư vấn và biện pháp phòng

ngừa tiêu chảy

KẾT QUẢ

Bảng 2: Đặc điểm của NVNT được khảo sát dựa trên

bộ câu hỏi (N=44)

Đặc điểm n (%) Giới nữ 32 (72,7)

Tuổi (năm) 39,9 ± 9,3

Trình độ chuyên môn

Dược sĩ chuyên khoa cấp II 0 (0,0)

Dược sĩ chuyên khoa cấp I 1 (2,3)

Dược sĩ đại học 9 (20,5)

Dược sĩ trung học 34 (77,2)

Thời gian hành nghề (năm) 11,6 (6–16)

Tham gia lớp tập huấn nâng cao kỹ

năng hành nghề (lần)

3,9±2,7 Chủ đề sức khoẻ có bao gồm bệnh tiêu chảy 24 (66,7)

Trong quá trình khảo sát, có 1 quầy thuốc không hoạt động trong thời gian nghiên cứu

và 2 quầy thuốc không tìm thấy theo địa chỉ đăng ký hoạt động Như vậy, nghiên cứu đã được tiến hành khảo sát phần kiến thức và thực hành trên 44 nhà thuốc và quầy thuốc

Đánh giá tình trạng trẻ bệnh

Trong đánh giá tình trạng trẻ, số NVNT biết ≥3 dấu hiệu mất nước và ≥3 dấu hiệu cảnh báo lần lượt là 75% và 93,2% nhưng chỉ có 2,3% NVNT khai thác các dấu hiệu này trong thực hành thực tế, số NVNT có khai thác các dấu hiệu mất nước và dấu hiệu cảnh báo lần lượt là 2,3% và 9,1% Các sự khác biệt này đều

có ý nghĩa thống kê với p<0,001

Thuốc điều trị tiêu chảy

Đối với các nhóm thuốc trong điều trị tiêu chảy, NVNT lựa chọn men vi sinh, ORS và khoáng chất trong báo cáo thực hành lần lượt với 93,2%, 90,9% và 34,1% Tuy nhiên, thực hành thực tế chỉ ra rằng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong việc bán thuốc của NVNT với 69,8% men vi sinh (p=0,002), 6,3% ORS (p<0,001) và 11,6% khoáng chất (p=0,007) Tương tự, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong việc kết hợp ORS với kẽm và kết hợp

Trang 5

ORS với các nhóm thuốc khác trong báo cáo

thực hành và thực hành thực tế của NVNT

(p<0,001) Trong khi đó, nghiên cứu cho thấy

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

trong việc bán thuốc kháng sinh cho khách

hàng trong cả 2 phần báo cáo (13,6%) và thực

tế (11,6%) với p=0,655

Hướng dẫn sử dụng ORS, tư vấn và biện pháp

phòng ngừa tiêu chảy

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ hướng

dẫn sử dụng ORS bằng cách “Pha với một

lượng chính xác nước”, “Sử dụng trong vòng

24 giờ” và “Uống càng nhiều nước càng tốt”

trong kết quả khảo sát dựa trên bộ câu hỏi và

giả định tình huống với p<0,001 Tương tự,

cũng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong

hướng dẫn “Không pha với sữa, canh, nước

trái cây, nước giải khát” và đầy đủ các hướng

dẫn giữa báo cáo thực hành và thực hành thực

tế của NVNT với lần lượt p=0,003 và p=0,014

Trong phần tư vấn , tỷ lệ NVNT biết lời

khuyên “phòng ngừa mất nước” là 68,2%

nhưng chỉ có 29,5% NVNT tư vấn lời khuyên

này cho khách hàng, sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê với p<0,001 Tương tự, có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa báo cáo

thực hành và thực hành thực tế của NVNT về

tư vấn việc “đảm bảo dinh dưỡng”, “thường

xuyên kiểm tra dấu hiệu mất nước, dấu hiệu

cảnh báo” và “đến khám bác sĩ ngay lập tức

khi cần” với p<0,001

Trong tư vấn các biện pháp phòng ngừa

tiêu chảy, kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa báo cáo thực hành và

thực hành thực tế của NVNT đối với việc tư

vấn “Rửa tay thường quy”, “Sử dụng nguồn

nước sạch “, “Thực phẩm an toàn” và “Tiêm

ngừa vắc xin” với p<0,001 Tỷ lệ NVNT biết

biện pháp “Bú sữa mẹ” là 22,7% nhưng cũng

chỉ có 2,3% NVNT cung cấp biện pháp này cho

khách hàng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống

kê với p=0,007

Bảng 3: Đặc điểm kiến thức và thực hành bán thuốc

điều trị tiêu chảy trẻ em theo khuyến cáo của WHO

và Bộ Y tế của NVNT

Bộ câu hỏi (N=44)

Giả định tình huống (N=44)

Đánh giá tình trạng trẻ

Dấu hiệu mất nước (có) 33 (75) 1 (2,3) p<0,001

Dấu hiệu cảnh báo (có) 41 (93,2) 4 (9,1) p<0,001

Thuốc điều trị tiêu chảy**

Men vi sinh 41 (93,2) 30 (69,8) 0,002

ORS 40 (90,9) 7 (16,3) p<0,001

Thuốc chống tiêu chảy 19 (43,2) 30 (69,8) 0,028

Khoáng chất 15 (34,1) 5 (11,6) 0,007

Kháng sinh 6 (13,6) 5 (11,6) 0,655 Kết hợp thuốc**

ORS đơn thuần 0 (0,0) 0 (0,0) ORS + Kẽm 15 (34,1) 2 (4,7) p<0,001

ORS và các loại thuốc khác 25 (56,8) 4 (9,3) p<0,001

Không có ORS 4 (9,1) 36 (83,7) p<0,001

Hướng dẫn cách sử dụng ORS

Pha với một lượng chính xác nước

43 (97,7) 7 (15,9) p<0,001

Sử dụng trong vòng 24 giờ 31 (70,5) 4 (9,1) p<0,001

Uống càng nhiều nước càng

tốt

27 (61,4) 2 (4,4) p<0,001

Không pha với sữa, canh, nước trái cây, giải khát

9 (20,5) 0 (0,0) 0,003

Đầy đủ hướng dẫn* 6 (13,6) 0 (0,0) 0,014

Tư vấn

Phòng ngừa mất nước 30 (68,2) 13 (29,5) p<0,001

Đảm bảo dinh dưỡng 39 (88,6) 7 (15,9) p<0,001

Thường xuyên kiểm tra dấu hiệu mất nước, cảnh báo

28 (63,6) 2 (4,5) p<0,001

Đến khám bác sĩ ngay lập tức khi cần ***

39 (88,6) 1 (2,3) p<0,001

Đầy đủ lời khuyên * 21 (47,7) 1 (2,3) p<0,001

Biện pháp phòng ngừa tiêu chảy

Rửa tay thường quy 42 (95,5) 0 (0,0) p<0,001

Sử dụng nguồn nước sạch 42 (95,5) 1 (2,3) p<0,001

Thực phẩm an toàn 42 (95,5) 5 (11,4) p<0,001

Tiêm ngừa vắc xin 18 (40,9) 2 (4,7) p<0,001

Bú sữa mẹ 10 (22,7) 1 (2,3) 0,007

Đầy đủ biện pháp* 8 (18,2) 0 (0,0) 0,005

* Chọn tất cả các hướng dẫn/lời khuyên/biện pháp nêu trước đó

**N=43 trong phần giả định tình huống

*** “Khi cần” tức là khi trẻ có dấu hiệu mất nước hoặc

dấu hiệu cảnh báo, và khi diễn tiến bệnh của trẻ xấu hơn

Trang 6

BÀN LUẬN

Đánh giá tình trạng trẻ bệnh

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

các NVNT còn nhiều thiếu sót trong việc tiếp

cận khai thác bệnh sử cũng như đánh giá tình

trạng bệnh của trẻ tiêu chảy Mặc dù phần lớn

các NVNT có kiến thức về dấu hiệu mất nước

(75%) và dấu hiệu cảnh báo (93,2%) trong tiêu

chảy ở trẻ em, nhưng thực tế chỉ có một số ít

NVNT khai thác về dấu hiệu mất nước (2,3%)

và dấu hiệu cảnh báo (9,1%) Kết quả này

tương đồng với các kết quả nghiên cứu đã

được thực hiện trước đây tại Nigeria(13) và năm

tỉnh thành ở Việt Nam(14) Trên thực tế, một số

nghiên cứu đã chỉ rằng, đa số các NVNT đều

khẳng định về sự quan trọng của việc khai

thác thông tin bệnh của trẻ tiêu chảy với 80,9%

tại Thổ Nhĩ Kỳ(1), 92,6% tại Nigeria(13) và 98,9%

tại Trinidad(9) Tuy nhiên, tương tác ngắn ngủi

giữa nhân viên và khách hàng tại nhà thuốc,

quầy thuốc - điểm đến của một lượng lớn

khách hàng mỗi ngày và thời gian hạn hẹp

dành cho mỗi khách hàng - cũng có thể là

nguyên nhân khiến các NVNT không thể khai

thác thêm nhiều thông tin bệnh(14,18) Một giả

thuyết khác chúng tôi đưa ra cho điều này là

các rào cản như thiếu kỹ năng giao tiếp, khai

thác bệnh, đặc điểm của mỗi khách hàng và

thái độ đối với các loại thuốc được bán không

cần kê toa, có thể là nguyên nhân khiến các

NVNT dù có kiến thức nhưng không áp dụng

vào thực hành(19,21)

Thuốc điều trị tiêu chảy

Theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế, bất

kỳ loại tiêu chảy nào cũng nên sử dụng ORS

để phòng ngừa, điều trị mất nước và bổ sung

kẽm để giảm mức độ và thời gian bệnh(3,24)

Trong khi đó, các loại thuốc chống tiêu chảy

không được khuyến cáo cho trẻ tiêu chảy cũng

như không sử dụng kháng sinh trong trường

hợp tiêu chảy phân nước(3,23) Kết quả trong

phần báo cáo thực hành của chúng tôi cho

thấy hầu hết các NVNT lựa chọn men vi sinh

(93,2%) và ORS (90,9%) để điều trị tiêu chảy cho trẻ em, kế tiếp là thuốc chống tiêu chảy (43,2%) và khoáng chất (34,1%) Trong đó, chỉ

có hơn một phần ba số NVNT có kết hợp sử dụng ORS với kẽm theo như khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế Mặt khác, kết quả trong phần thực hành thực tế chỉ ra rằng men vi sinh và thuốc chống tiêu chảy là hai nhóm thuốc được NVNT bán nhiều nhất với tỷ lệ là 69,8% Trong khi đó, ORS và kẽm chỉ chiếm 16,3% và 11,6%; cũng như tỷ lệ kết hợp ORS với kẽm là 4,7% Kết quả này tương tự với những nghiên cứu giả định tình huống tại Việt Nam và các nước khác trước đây, với tỷ lệ ORS và kẽm được bán ra cũng rất thấp(7,10,12, 18) Chúng tôi đặt ra giả thuyết rằng các NVNT không đủ tự tin về hiệu quả của ORS trong điều trị tiêu chảy như kết quả của một nghiên cứu tại Nigieria đưa ra(13) Trong khi đó, lợi nhuận mà các NVNT thu được từ men vi sinh thường cao hơn nhiều so với các loại thuốc khác(6) và cho đến hiện nay cũng chưa có báo cáo bất lợi nào về việc sử dụng men vi sinh trong điều trị tiêu chảy được ghi nhận(2,17) Bên cạnh đó, sự thiếu hụt kiến thức với gần một nửa số NVNT lựa chọn nhóm thuốc chống tiêu chảy trong phần báo cáo thực hành (43,2%) có thể dẫn đến kết quả trong cuộc khảo sát này Một giả thuyết khác chúng tôi đặt ra ở đây là các NVNT điều trị theo kinh nghiệm và bán thuốc điều trị triệu chứng thay vì phòng ngừa mất nước, tương tự với một báo cáo tại Guatemala(4) Ngoài ra, vấn đề đáp ứng tâm lý nhanh chóng hết bệnh sau khi uống thuốc của khách hàng, một trong những yếu tố để họ quyết định quay trở lại nhà thuốc hay không, cũng có thể là một nhân tố trong việc bán thuốc chống tiêu chảy của NVNT

Tư vấn cho khách hàng của NVNT

Kết quả trong phần báo cáo thực hành của nghiên cứu này cho thấy các NVNT có kiến thức về các hướng dẫn, lời khuyên, biện pháp phòng ngừa tiêu chảy, nhưng kiến thức của các NVNT không đầy đủ Mặc dù những

Trang 7

NVNT có bán ORS đều tư vấn cho khách hàng

cách sử dụng ORS (15,9%) nhưng không có

NVNT nào hướng dẫn đầy đủ các chỉ dẫn cho

khách hàng cũng như tỷ lệ NVNT biết được

đầy đủ các hướng dẫn cũng rất thấp (13,6%)

Kết quả này tương tự với một nghiên cứu tại

năm tỉnh thành lớn ở Việt Nam, tỷ lệ NVNT tư

vấn đầy đủ cách sử dụng ORS là 0%(14) Điều

này có thể đặt giả thuyết rằng sự thiếu hụt

kiến thức của NVNT dẫn đến những thông tin

cung cấp cho khách hàng không đáng kể

Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra

rằng có hơn số NVNT không tư vấn gì

thêm cho khách hàng sau khi bán thuốc mặc

dù đa số các NVNT đều biết các lời khuyên

cần thiết cung cấp cho khách hàng với gần

một nửa số NVNT biết được đầy đủ các lời

khuyên Hơn thế nữa, các vấn đề cần chú

trọng trong điều trị tiêu chảy trẻ em lại ít được

các NVNT tư vấn, với tỷ lệ phòng ngừa mất

nước, đảm bảo dinh dưỡng, thường xuyên

kiểm tra các dấu hiệu mất nước hoặc dấu hiệu

cảnh báo và thời điểm cần đưa trẻ đến khám

bác sĩ ngay lập tức (2,3% - 29,5%) Tương tự

với các nghiên cứu ở Việt Nam và các nước

đang phát triển khác, chất lượng và số lượng

lời khuyên từ các NVNT khá hạn hẹp(16)

Kết quả trong phần thực hành thực tế tư

vấn các biện pháp phòng ngừa tiêu chảy cho

trẻ em tiếp tục phác họa một bức tranh hoàn

toàn trái ngược với báo cáo thực hành của

NVNT Thay vì đưa ra các hướng dẫn phòng

bệnh tại nhà như họ đã báo cáo thực hành (rửa

tay thường quy, sử dụng nguồn nước sạch,

thực phẩm an toàn, tiêm ngừa vắc xin, bú sữa

mẹ), hơn một nửa số NVNT có tư vấn đã đề

nghị khách hàng cho trẻ uống men tiêu hóa

sau khi hết bệnh (64,7%) Điều này có thể được

giải thích bởi động cơ tối đa hóa doanh thu

của các nhà thuốc, như kết quả của một

nghiên cứu tại Trinidad đã ghi nhận(9) Ngoài

ra, một nguyên nhân khác có thể khiến các

NVNT dù có kiến thức nhưng không áp dụng

vào thực hành là do các rào cản như thiếu kỹ

năng giao tiếp, đặc điểm của mỗi khách hàng

và thái độ đối với các loại thuốc được bán không cần kê toa(19, 21) Không những thế, các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy rằng

để đưa kiến thức vào thực hành, để giữ vững thực hành tốt và để thúc đẩy thực hành nhà thuốc tốt, việc tập huấn và giám sát hỗ trợ vẫn chưa là đủ(14)

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kiến thức và thực hành trong việc bán thuốc điều trị tiêu chảy trẻ em của nhân viên nhà thuốc tây tại thị trấn Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai vẫn còn nhiều thiếu sót đáng kể Với sự phổ biến

và hàng loạt các nhà thuốc, quầy thuốc hiện nay đang hoạt động, kiến thức và thực hành thực tiễn của nhân viên nhà thuốc không phải lúc nào cũng song hành cùng nhau Để đảm bảo rằng thực hành của nhân viên nhà thuốc đáp ứng đúng hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế đưa ra, một chương trình can thiệp toàn diện,

có mục tiêu đầy đủ và được pháp luật thực thi nghiêm ngặt cần được các nhà quản lý y tế xem xét đến Bên cạnh đó, giáo dục cho người dân về nguy cơ của việc sử dụng và tìm đến các nhà thuốc, quầy thuốc tây cũng cần được quan tâm nhằm cải thiện hành vi tìm kiếm sức khỏe của cộng đồng hiện nay

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aktekin M, Erozgen C, Donmez L (1998), "Pharmacy approach to a case of acute diarrhoea with dehydration in

Antalya, Turkey" Public Health, 112 (5): 323-6

2 Allen SJ, Martinez EG, Gregorio GV, Dans LF (2010),

"Probiotics for treating acute infectious diarrhoea" Cochrane

Database Syst Rev, (11): Cd003048

3 Bộ Y tế (2009), Tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em,

Hà Nội, tr.7-32

4 De Valverde C (1989), "The pharmacy: a health resource"

Arch Latinoam Nutr, La farmacia: recurso de salud, 39 (3):

365-81

5 Diwan V, Sabde YD, Bystrom E, De Costa A (2015),

"Treatment of pediatric diarrhea: a simulated client study at

private pharmacies of Ujjain, Madhya Pradesh, India" J

Infect Dev Ctries, 9 (5): 505-11

6 Driesen A, Vandenplas Y (2009), "How do pharmacists manage acute diarrhoea in an 8-month-old baby? A

simulated client study" Int J Pharm Pract, 17 (4): 215-20

Trang 8

7 Foroughinia F, Zarei P (2016), "Evaluation of knowledge,

attitude, and practice of community pharmacists toward

administration of over-the-counter drugs for the treatment

of diarrhea in children: A pretest-posttest survey" Journal of

Research in Pharmacy Practice, 5 (3): 200-204

8 Goel P, Ross-Degnan D, Berman P, Soumerai S (1996),

"Retail pharmacies in developing countries: a behavior and

intervention framework" Soc Sci Med, 42(8) : 1155-61

9 Karim R, Ramdahin P, Boodoo JR, Kochhar A, Pinto Pereira

LM (2004), "Community pharmacists' knowledge and

dispensing recommendations for treatment of acute

diarrhoea in Trinidad, West Indies" Int J Clin Pract, 58 (3):

264-7

10 Mesut Sancar, Elif Tezcan, Betul Okuyan, Izzettin FV (2011),

"Assessment of the Attitude of Community Pharmacists and

Pharmacy Technicians towards Diarrhea: A Simulated

Patient Study in Turkey" Tropical Journal of Pharmaceutical

Research, 14 (8): 1509-1515

11 Minh PD, Huong DT, Byrkit R, Murray M (2013),

"Strengthening pharmacy practice in vietnam: findings of a

training intervention study" Trop Med Int Health, 18 (4):

426-34

12 Nguyễn Minh Nhân (2016), Đặc điểm phân bố nhà thuốc và

thực trạng bán thuốc kháng sinh điều trị tiêu chảy trẻ em tại

huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2016 Khóa luận

tốt nghiệp bác sĩ Y học dự phòng, khoa Y tế Công cộng đại

học Y Dược TP HCM, tr.25-38

13 Ogbo PU, Aina BA, Aderemi-Williams RI (2014),

"Management of acute diarrhea in children by community

pharmacists in Lagos, Nigeria" Pharm Pract (Granada), 12

(1): 376

14 Pham DM, Byrkit M, Pham HV, Pham T, Nguyen CT (2013),

"Improving pharmacy staff knowledge and practice on

childhood diarrhea management in Vietnam: are

educational interventions effective?" PLoS One,

8(10):e74882

15 Saengcharoen W, Lerkiatbundit S (2010), "Practice and

attitudes regarding the management of childhood diarrhoea

among pharmacies in Thailand" Int J Pharm Pract, 18

(6):323-31

16 Smith F (2009), "The quality of private pharmacy services in low and middle-income countries: a systematic review"

Pharm World Sci, 31 (3): 351-61

17 Szajewska H, Setty M, Mrukowicz J, Guandalini S (2006),

"Probiotics in gastrointestinal diseases in children: hard and

not-so-hard evidence of efficacy" J Pediatr Gastroenterol

Nutr, 42 (5): 454-75

18 Van Duong D, Van Le T, Binns CW (1997), "Diarrhoea management by pharmacy staff in retail pharmacies in

Hanoi, Vietnam" International Journal of Pharmacy Practice, 5

(2): 97-100

19 Walker A, Watson M, Grimshaw J, Bond C (2004),

"Applying the theory of planned behaviour to pharmacists' beliefs and intentions about the treatment of vaginal

candidiasis with non-prescription medicines" Fam Pract,

21(6):670-6

20 Walker CL, et al (2013), "Global burden of childhood

pneumonia and diarrhoea" Lancet, 381(9875): 1405-16

21 Watson MC, Bond CM (2004), "The evidence-based supply

of non-prescription medicines: barriers and beliefs"

International Journal of Pharmacy Practice, 12 (2):65-72

22 WHO (2015), report: WHO and Maternal and Child Epidemilology Estimation Group (MCEE) estimates 2015

23 World Health Organization (2005), report "Treatment of Diarrhoea", pp.25-6

24 World Health Organization (2006), Implementing the New Recommendations on the Clinical Management of

Diarrhoea, WHO, Geneva, pp.1-5

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/11/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm